Tái sinh không phải chỉ là kết quả của một kiếp sống
Lấy một tiến trình dễ hiểu của tâm thức để làm thí dụ : Khát vọng sinh ra tác ý. Tác ý đưa đến hành vi. Hành vi hay tạo nghiệp (hợp với thuận duyên hay nghịch duyên), đem lại kết quả tương xứng, hoặc sai biệt. Rồi kết quả tương xứng hay sai biệt ấy, đến lượt nó dẫn đến khát vọng mới, mang đầy đủ dư vị của tất cả khát vọng cũ.
Trong nhân có quả, trong quả có nhân. Tiến trình của nguyên nhân và hậu quả, của tác động và phản động, của hợp rồi tan, của tan rồi hợp, của có rồi không, của không rồi có, là một định luật tự nhiên, không do ai sắp đặt cả. Nhưng những ẩn số của nhân-duyên-quả xoay vần bao giờ cũng được tổng hợp và nghiệm đúng, vì nghiệp báo vừa là định lý vừa là hệ luận xác thật nhất cho “đáp số” tái sinh.
Từ đó, tái sinh không phải là kết quả của một chu trình sinh diệt duy nhất, mà nó là gạch nối luân hồi của vô số chu trình sinh diệt, nơi một cá nhân cho chính họ, và giữa họ với toàn thể những chu kỳ sinh diệt của rất nhiều chúng sinh khác (tha nhân). Những chu kỳ sinh diệt “tha nhân” ấy, bên cạnh nghiệp cảm và nghiệp báo, còn mang một cái tên là cơ duyên.
Ðây là một tổng hợp tiền duyên hậu quả, một trợ lực lưu lai, vô cùng hùng hậu. Nó bao gồm nhiều mối dây “thân thuộc”, làm gạch nối từ vô tỷ kiếp quá khứ vào hiện tại và tương lai của một sinh linh.
Người duy vật thường nghĩ rằng chết là hết. Nhưng Phật giáo thuyết minh ngược lại : Chết không phải là hết, mà là còn rất nhiều. Cái nhiều ấy không phải chỉ chứa những gì của một kiếp vừa qua, mà nó còn chất chứa tất cả vô số tiền duyên lệch quả trong vô tỷ kiếp quá khứ nữa. Và xuyên qua cái duyên hệ bất tận ấy, mà tâm thức mới có “môi trường chờ sẵn” để tái sinh luân hồi vậy.
Môi trường chờ sẵn đó không gì khác hơn là không gian và thời gian, là toàn bộ các cõi biến hoá, *có xoay vần sự sống, như hoàn cảnh thiên nhiên, hoàn cảnh xã hội (nếu được tái sinh làm người), *có hiện tượng linh động, như từ lực của ánh sáng, từ lực của thiên thể (nếu được sinh vào các cõi trời), *có siêu năng diệu hữu, như vô biên quang tử, như vũ trụ tuyến, như nguyên hành bất nhị (nếu chứng đắc vào thánh lưu, trên đường giải thoát).
Ðây chính là lý do mà đức Phật đã xác nhận không có một chúng sinh nào còn luân hồi, mà mang một linh hồn “nhất định”, vĩnh viễn, bất biến, như hầu hết các tôn giáo khác trên thế gian quan niệm.
Mặt khác, theo Phật giáo không có cái gì trong vòng luân hồi mà không có nguyên nhân (Ahetuka), hoặc rất hiếm những cái chỉ cần một nguyên nhân (Ekahetuka) để sinh ra nó, mà hầu hết phải cần có một số những nguyên nhân điều kiện (thuận duyên lẫn nghịch duyên) phối hợp, mới lập thành một pháp hành (Saṅkhàra dhamma), hay kết tụ thành ý muốn đưa đến hành động (tái sinh) của một sinh vật. Tóm lại là tất cả tiến trình sinh hoạt luôn luôn cấu kết có nguyên nhân, có điều kiện, tức là có nhân và có duyên (Paṭicca samuppàda).
Và con người, bằng kiến thức thanh tịnh, trong sáng (trí tuệ), thuận với lẽ sống lành mạnh tự nhiên (đức hạnh), có thể hiểu biết, chỉ huy, và cải thiện được vận mệnh (nghiệp quả) tương lai của chính mình, qua “phương trình” tái sinh.
Do đó, những phản ảnh của nghiệp quả lưu lai, không phải là sức mạnh cố định, đúc kết ra số phận của một sinh linh sau nầy, mà nghiệp quả chỉ là một trong những yếu tố ráp thành cái bắt đầu sống sắp đến. Nghĩa là, khi được sinh làm người, với trí tuệ giác ngộ, nghiệp quả xấu từ vô tỷ quá khứ, có thể được cải biến, hóa giải bằng những ý chí và hành động lành mạnh trong đời sống hiện tại, để làm nẩy mầm cho nghiệp báo tốt trong tương lai.
Ðiều quan trọng xin nhấn mạnh ở đây, là chớ xem nghiệp quả trong Phật giáo như một thuyết định mệnh cứng ngắt (fatalisme). Ngược lại chính đạo Phật là «tôn giáo» luôn luôn xây dựng, chống lại cả ba quan niệm đóng khung là : 1/Thiên nhiên (hay vật chất) định số mệnh (Svabhàvavàda=duy vật), 2/Thượng đế toàn năng (hay thần linh) định số mệnh (Issarakaranavàda=duy linh hay duy tâm), và 3/Nghiệp lực quá khứ (hay nhân quả) định số mệnh (Pubbakammavàda=duy nghiệp, hay duy lý).
Hai trường hợp định số mệnh đầu là “thiên nhiên” và “thượng đế”, đạo Phật không bao giờ nhìn nhận, nhưng trường hợp định số mệnh thứ ba là nghiệp lực, Phật giáo tuy thường thuyết minh “không một chúng sinh nào có thể thoát nổi nghiệp báo”, nhưng Phật giáo đồng thời cũng xác nhận bổ túc “Ý chí tiến hóa trong mỗi con người có thể cải thiện được kết quả của nghiệp lực”.
Vì bên trong nghiệp lực nào cũng có ý chí tạo ngã (Attakàra), mà ý chí tạo ngã chính là “động cơ căn bản” của tâm thức tìm kiếm một cái gì mới cho mình, xuyên qua tái sinh. Khi ý chí tạo ngã được soi sáng (có trí tuệ), thì sinh thức hướng thiện, đẩy cho tái sinh vào cảnh giới tiến hóa hơn. Ngược lại nếu ý chí tạo ngã không được soi sáng (bị vô minh che áng), thì nó hướng ác, tự tái sinh vào vòng sa đọa, thoái hóa.
Nói cách khác, «ý chí tạo ngã» tuy là một «năng lực tham lam» bị ảnh hưởng sâu đậm bỡi nhân duyên, nghiệp quả, và điều kiện văn hóa (tín ngưỡng), nhất là vào giai đoạn chót của một đời người. Nhưng nó cũng chính là «yếu tố quan trọng» trong sự «phối hợp» và tổng kết tất cả những «vật liệu» có thể làm ra «tác phẩm» tái sinh.
Cần gì phải nhờ kinh nghiệm khoa học mới hiểu nổi xuất động sinh phản động, hậu quả theo sau nguyên nhân, hay hạt trổ ra trái, như…một lẽ tự nhiên ? Nhưng để thấu đáo tiềm lực của nghiệp, cũng như của sức mạnh nơi ý chí tạo ngã đem lại chung quả trong kiếp kế tiếp, sau khi tan rã xác thân nầy ra sao, thì thật là một điều rất khó khăn đối với tư tưởng phàm tục, tinh thần chưa được thanh tịnh, trong sáng. Chúng ta thử bàn sơ qua điều nầy :
Theo Phật giáo, không có một sự sống nào khác sau khi chết, hay một đời sống nào khác trước khi sinh, mà độc lập với ảnh hưởng của cặp bài trùng là nghiệp báo và ý chí tạo ngã. Cặp bài trùng nầy và tái sinh tuy hai mà một, tuy một mà hai, luôn luôn đi sát cánh với nhau. Nếu chúng (cặp bài trùng) đóng vai hệ luận hay kết quả tất nhiên của tái sinh, thì tái sinh cũng là hệ luận hay kết quả tất nhiên của chúng (tức nghiệp báo và ý chí tạo ngã).
Sinh đi trước tử, và tử cũng đi trước sinh. Chúng là một đôi lần lượt đi trước và sau nhau, trong sự nối tiếp lầm lạc để tái tạo. Bỡi không bao giờ có một cái ngã tạm thời (vì thay đổi không ngừng) mà lại trường tồn, được xem như một thực thể nhất định, để đi từ sự sinh nầy đến sự sinh khác.
Hơn nữa, trước vấn đề tái sinh, Phật học đã thận trọng chỉ rõ : Cái mà các tôn giáo khác gọi là “linh hồn bất diệt” hay “bản ngã trường cửu”, thì từ ngữ có ý nghĩa tương đương được dùng thời đức Phật là “Atta”(Pàlì) hoặc “Atma”(Sanskrit). Nhưng để phủ nhận, đức Phật đã gọi ngược lại là “Anatta” hay “Anatma”(tạm dịch là “vô ngã”), chỉ để đánh tan sự cố chấp cho rằng “Dòng tâm thức thay đổi không ngừng trong con người là cái ta trường cửu”, hay «Xác thân tạm bợ nầy là của ta, ta có bổn phận phải bảo vệ nó bằng mọi giá», mà thôi. Vì Phật giáo cho rằng quan niệm về cái ta như thế thật là thiếu chính xác và đáng tiếc !
Lời dạy của đức Phật trong kinh về “vô ngã”(=chẳng có cái ta) cũng không ngụ ý chối bỏ sự hiện hữu của một con người, hay một sự sống. Phật giáo chỉ nói rằng “không có cái cá nhân phàm tục, do vật chất tạm cấu kết mà trường tồn”, cũng như “không có một bản ngã hay linh hồn, sống bằng điều kiện mà bất biến”. Nhân vị hay cá nhân, theo nhà Phật, không phải là một thực thể, mà chỉ là một giá trị ước định. Nói đúng hơn, nó là một chuỗi những cái phát sinh lý hóa rồi diệt đi, hay một chuỗi những sự nuôi dưỡng, đốt cháy và bám víu, chứ không có gì giữ được trạng thái nguyên vẹn cả.
Ngoài ra, trong kinh Phật còn nhiều đoạn xác nhận : Không một hiện tượng nào đến từ chỗ không có. Nghĩa là không có gì vô nguyên nhân. Mọi sinh vật (cử động được hay không cử động được) đều phát nguồn từ những nguyên nhân, và bị ràng buộc bỡi một số điều kiện. Sở dĩ đức Phật không nói đến cái nguyên nhân thứ nhất, là vì nếu Ngài chỉ ra cái nguyên nhân thứ nhất, người ta sẽ không hiểu và hỏi tiếp “Vậy chứ cái nguyên nhân của cái nguyên nhân thứ nhất đó là gì ?”
Khi cố gắng nghiên cứu về những tuệ lực giải thoát hay các phẩm tính siêu việt nơi đức Phật, chúng ta tự nhiên sẽ biết rằng “ngày nào con người chưa tận diệt phiền não cố chấp, chưa chấm dứt được mắc dính với tạm bợ, thì ngày ấy họ không thể nào hiểu được cái nguyên nhân thứ nhất ấy”. Ví như người chưa rời khỏi cặp kính màu thì họ không bao giờ thấy được trạng thái thật của sự vật, dù cho đức Phật có nói rõ ra như thế nào. (Cặp kính màu ở đây là tham, sân, si, khát vọng, cố chấp). Chưa kể cặp kính màu ấy còn bị phủ dày bỡi bao lớp bụi thời gian ô nhiễm, huân tập, mà ngoại trừ trí tuệ kim cương (Kim Cương Bát-Nhã) của quả Phật ra, không một ý thức hệ triết học, hay cách mạng nào của thế gian có thể dũa sạch nó được.
Tập Bộ Kinh (Saṃyutta Nikàyasutta), quyển số 3, các trang từ 149 đến 151, có đoạn xin tạm dịch như sau:
“Bánh xe tái sinh nầy, (lăn trên) cái vòng sống chết nầy, sẽ không bao giờ đến điểm chung (nếu tham lam, sân hận, và vô minh chưa bị tiêu diệt). Và chỗ khởi đầu của tất cả chúng sinh, (tức cái nguyên nhân thứ nhất), ngày nào chúng sinh chưa thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi, thì không bao giờ nhận ra nó được”.
Vả lại, vòng luân hồi không phải chỉ căn cứ trên những kiếp sống nhân sinh, mà Phật học còn mô tả nó một cách sâu xa, tinh vi hơn, dựa theo những chu kỳ “sát na”, gọi là “giòng luân hồi tâm thức” có liên quan vừa trực tiếp vừa gián tiếp đến sự “tái sinh” (hay lộ trình tâm=Cittavìthi).
Căn cứ theo « Vi Diệu Pháp Thống Kê” (Abhidhamma-saṅgaha), thì có một chớp tâm thức cuối cùng (Cuti Citta), hay một nhoáng ý thức sau chót (Cuti Viññàna) thuộc về chu
kỳ sống đi trước (di tồn nhiên lực). Chính chớp nhoáng tâm thức hay ý thức cuối cùng ấy, ngay khi chấm dứt giòng hoạt động, nó tự hóa thành điều kiện nguyên nhân thứ nhất, nẩy mầm cho một chu kỳ tâm thức tiếp theo.
Phật giáo gọi đó là “tâm thức gạch nối” (Patisandhi Viññàna Citta). Nói rõ hơn, là chính trong giòng tâm thức của một người đang sống, vốn đã có vừa tử vừa sinh, cùng phát khởi ở một “xuất xứ”, như hai mặt của một đồng tiền, không thể thiếu được. Nếu mặt trước là tử thì mặt sau phải là sinh, hay ngược lại. Cả hai đều mang đặc tính “hổ tương tạo tác”. Tử tạo ra sinh, và sinh cũng tạo ra tử. Nhờ đó mà thức tính ngây thơ của một đứa bé mới chào đời, mới có thể lớn dần qua thời gian, trở thành một tâm hồn tích cực, của một thanh niên năng động, vài ba mươi năm sau.
Cứ như thế mà một giòng tâm thức nầy “ra đời”, biến đi, rồi nhường chỗ cho một giòng tâm thức khác, mới hiện hoạt động. Và về phương diện khoa học, chuỗi những giòng luân hồi tâm thức ấy, chính là động cơ kích thích trung khu thần kinh, làm cho hàng triệu tế bào trong một thân thể non trẻ, tiếp nối nhau phát triển “sinh tồn”, để cho con người mỗi ngày một trở nên “trưởng thành” (già dặn hơn).
Mái tóc bạc đúng ra phải nói là hình thức mới của mái tóc cũ (bỡi nó xuất hiện sau), nhưng người ta vì chỉ muốn nô lệ, ôm cứng màu tóc đen cũ, chối bỏ cái mới, nên vội vàng xuyên tạc, nhuộm nó đi để bắt mình phải sống với giả tạo. Và dẫu làm gì đi nữa, thì cái biến đổi nó vẫn biến đổi, còn luật trường cửu xoay vần nó vẫn xoay vần trường cửu.
So sánh qua tiềm lực tinh thần trong con người, thì tâm thức luôn luôn biến đổi, nhưng giòng luân hồi tâm thức thì vĩnh viễn, không bao giờ gián đoạn, vì nó là hiệu số của “di tồn nhiên lực”(effet de conservation d’énergie), là hiệu số của pháp hành hằng hữu, hay hiệu số của Phách lực A-Lại-Da. (Nói theo nhà Phật).
Pháp hành ấy tuy chẳng được ai tôn sùng lên hàng tạo hóa toàn năng, nhưng tưởng như không có một sinh thể nào trong tam giới có thể thoát ra ngoài vòng “điều khiển” của nó.
Tuy nhiên, sự đắc quả Phật Chánh-Ðẳng Chánh-Giác (Sammà Sambuddha), của hoàng tử Bồ-Tát Sĩ-Ðạt-Ta (Siddhatta), dưới tàng cây Bồ-Ðề ở Trung Ấn, trước đây hơn 25 thế kỷ, đã tiết lộ rằng “Linh thức” nào không còn “mắc dính” với hai trạng thái tạm thời là có và không, sinh và tử trong ba cõi, thì «Linh thức» ấy vượt ra khỏi tam giới, và không bị giòng luân hồi tâm ý ảnh hưởng, lôi cuốn nữa. Linh thức đó chắc chắn là hiện thân của Niết Bàn (Nirvàna=giải thoát). Linh thức ấy chính là Phật tánh, đã thấy rõ cái “nguyên nhân thứ nhất” dẫn đến nghiệp báo và tái sinh.
“Phật tánh” nầy xưa nay vẫn là một thánh quả vô thượng, cao siêu nhất, mà nhiều nhà nghiên cứu Phật giáo còn nói là «bất khả thuyết, bất khả tư nghì». Nghĩa là nhân thế không thể nghĩ bàn được. Như vậy phải chăng trí thức phàm nhân còn lặn hụp trong sinh tử luân hồi như chúng ta, chẳng thể nào hiểu thấu ?
Theo thiển kiến của chúng tôi, điều ấy chỉ tuyệt đối đúng, khi xã hội loài người còn sống trong ngu dân, thiếu học, lạc hậu, vô minh, cố chấp, dị đoan tà kiến, luôn luôn trông cậy vào tha lực (tưởng tượng cứu rỗi). Nhưng nếu nhân loại tiến dần đến một nền văn minh chân chánh, lành mạnh, nhận diện được hai khía cạnh của tâm thức là sáng suốt và si mê, tích cực và tiêu cực, đồng thời với sức đẩy vừa «hữu dụng» vừa nguy hiểm, của lòng tham là hướng thượng dẹp buông xuôi, của trí khôn là phá chấp dẹp sở tri chướng, thường xuyên được khoa học tâm linh cũng như thực nghiệm thiền pháp soi sáng, thì linh tánh tri hành tự lực trong mỗi con người, khi được phát triển đúng mức, sẽ có thể giúp họ hiểu được giá trị siêu việt đó của Phật gia, vốn khởi đầu từ công phu tịnh hạnh trong nếp sống phàm nhân khiêm nhượng nầy.