Tiềm lực của tinh thần trong con người
Thông thường thì con người là cấu hợp sinh lý nhân thể của nhiều thế hệ cha mẹ lưu truyền. “Cấu hợp sinh lý nhân thể” ấy cũng được nuôi dưỡng bỡi một môi trường đủ yếu tố thích hợp cho sự sống, như ở đó phải có nước, có thực phẩm, có dưỡng khí, có ánh sáng, có nhiệt độ, và có tỷ trọng ..v..v….
Nhưng đối với Phật giáo, tất cả những thứ nầy chỉ là vật chất, tức chỉ thuộc về phần thể xác hữu hình, hay “Sắc pháp” (Rùpadhamma) nơi con người mà thôi. Nói một cách khác có vẻ Phật học hơn, vật chất đó ám chỉ tứ đại (Cattàro Mahàbhùtàni => Cattàro Mahàdhàtu), gồm cả bốn thể (khối lượng) và bốn tánh (biến năng) nòng cốt sau đây :
1-Thể Ðịa và tánh cứng mềm của đệ nhất đại, hay của “đất” (Phạn ngữ là “Paṭhavì”), cùng của tất cả những gì thuộc về “địa”, hoặc từ địa mà ra, như các khoáng chất, bụi trần, cây cối, động vật…v.v…
2-Thể Thủy và tánh trượt lên nhau, rồi kết hợp và tan rã của “nước” (Phạn ngữ là “Àpo”), cùng của tất cả biến dạng của “thủy”, hòa lẫn trong lòng đất hay trong bầu khí quyển.
3-Thể Hỏa và tánh co giãn, teo lại hay bành trướng của “lửa” (Phạn ngữ là “Tejo”), cùng của các năng lực nóng lạnh do “lửa”, hội tụ trong lòng đất hay tản mác ngoài quả đất.
4-Thể Phong và tánh di hành, xê dịch cùng làm cho những cái khác lưu động của “gió”, hay của không khí (Phạn ngữ là “Vàyo”), luôn luôn luân chuyển ngoài mặt đất và thông thấu trong địa chất.
Còn phần “vô hình” (invisible), nhà Phật gọi là “Danh pháp” (Nàmadhamma), một tổng hợp liên quan, tương ứng với phần hữu hình hay Sắc pháp (vật chất), thì rất siêu việt. Ðối với nhà Phật, danh pháp là «nguyên lý» của mọi diệu hoạt, nên phải được đặc biệt chú ý và nghiên cứu tỉ mỉ, như một môn học tiến hóa và luân hồi, xuyên qua những phản ứng của hóa năng và siêu năng trong sự sống.
Bốn thể và tánh nêu trên luôn luôn hiện hữu trong mọi “sắc pháp”. Sắc pháp ở đây chỉ chung cho tất cả các vật chất đơn thuần hay các vật chất biến dạng, hỗn hợp.
Như vậy đối với Phật giáo, bất cứ sắc pháp nào bên trong cũng chứa đủ bốn thể và tánh nói trên, tức là tàng chứa tứ đại (Ðịa, Thủy, Hỏa, Khí=Phong). Duy chỉ một điều là tỷ lệ của bốn thể và tánh ấy, khi kết hợp quá chênh lệch, thì người ta chỉ nhận thấy cái thể và tánh cực lớn, mà không nhìn thấy cái thể và tánh cực nhỏ ẩn tàng trong đó. Nó cực nhỏ đến độ tưởng chừng như không có.
Ví dụ lúc quan sát một khối sắt hay một tảng đá, người ta chỉ thấy cái thể và tánh cứng (địa) cực lớn của khối sắt hay của tảng đá thôi. Nhưng kỳ thực bên trong nó vẫn chứa ba thể và tánh kia với tỷ lệ cực nhỏ. Vì nếu không chứa ba thể và tánh ấy, khối sắt hay tảng đá đã không hiện hữu. Và nếu nó đã chứa và đang hiện hữu, mà có một quyền lực nào đó “tịch thu” mất ba thể và tánh ấy, thì khối sắt hay tảng đá sẽ lập tức rã tan thành tro bụi, rồi loãng vào không khí. (Như những vật bị bôm nguyên tử, hay hạch nhân thiêu đốt).
Trong sự sâu sắc nầy, rõ ràng là nhà Phật đã nói đến bốn thể và tánh của nguồn gốc vật chất do tứ đại hợp thành, một cách rất vi tế, khoa học.
Tuy nhiên, đối với “vật chất” là một con người, mà chúng ta muốn khảo cứu ở đây, thì Phật giáo đã tiết lộ :
“Tứ đại (toàn bộ vật chất) ấy chỉ là một yếu tố trong năm yếu tố để tạo thành một nhân vật”.
Vậy bốn “yếu tố” kia là gì ? Bốn yếu tố kia được nhà Phật liệt kê, là thọ, tưởng, hành và thức. Chúng còn có một cái tên chung khác là Danh pháp. Nói tóm lại theo nhà Phật, con người sinh hoạt chỉ là một cấu kết của danh pháp và sắc pháp, hay gọi tắc con người là tổng hợp của danh và sắc.
Trong “Vi Diệu Pháp thống kê” (Abhidhammasangaha) thuộc Tạng Luận (Abhidhammapitaka), tổng hợp “danh và sắc” ấy còn được gọi là «ngũ uẩn». Chữ Phạn dịch ra ngũ uẩn là “Pañca khandhà”, tương đương với tiếng Pháp là “cinq agrégats”, tức là sự phối hợp của năm kết tập, cụ thể lẫn trừu tượng (vật chất và tinh thần).
Ngũ uẩn (hay năm kết tập) đó gồm Sắc uẩn (Rùpa-khandhà), Thọ uẩn (Vedanà-khandhà), Tưởng uẩn (Saññàna-khandhà), Hành uẩn (Saṅkhàra-khandhà) và Thức uẩn (Viññàna-khandhà).
Sắc uẩn ám chỉ xác thân, có hình thức khối lượng, biến đổi theo thời gian, và sờ thấy được, nên nó cụ thể. Còn thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, và thức uẩn thì biến hiện, trừu tượng, vô hình, như điện từ.
Bốn uẩn nầy phải nương vào sắc uẩn (xác thân còn sinh hoạt) mới hiển lộng ra được. Và người ta cũng căn cứ vào những hiển lộng ấy mà hiểu biết, xác nhận sự hiện hữu của chúng.
Khi hoạt động, bốn uẩn (hay danh pháp) ấy lại hiển lộng ra hai mặt, là mặt nổi, và mặt chìm :
Mặt nổi gồm thọ uẩn, tưởng uẩn, và hành uẩn. Chúng hiển lộng xuyên qua năm cửa hướng ngoại và một cửa qui nội của con người, là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và tư ý. Năm cửa hướng ngoại và một cửa qui nội ấy, nhà Phật còn gọi bằng một cái tên khác là lục căn, gồm nhãn căn (thị giác), nhĩ căn (thính giác), tỷ căn (khứu giác), thiệt căn (vị giác) thân căn (xúc giác), và ý căn (tâm tư). Tức là sáu cái «cơ sở» (hay điểm tựa) để tinh thần (hay thức uẩn) hoạt động.
Sáu cơ sở nầy trong con người có thể ví như một ngôi nhà thí nghiệm khoa học (laboratoire), mà nhãn căn là cái máy chụp hình (hay quay phim), nhĩ căn là «ba động kế» thu thanh, tỷ căn là dụng cụ tiếp mùi, thiệt căn là bộ phận ghi lại các vị, thân căn là hệ thống đo lường sự cọ xác, hay sức ép, và ý căn là chỗ tích tụ và phản chiếu của năm hoạt động kia. Tập hợp của sáu sinh hoạt ấy chính là «phần hành chung» của «bộ ba» thọ uẩn (cảm thọ), tưởng uẩn (ghi tưởng), và hành uẩn (chuyển ý vận hành) trong ngũ uẩn con người.
Mặt chìm tuy chỉ có một mình thức uẩn (hay tinh thần) hoạt động, nhưng nó lại rất đa diện, tốc hành, và hùng hậu. Xưa nay những nhà nghiên cứu tâm linh thường gọi nom na thức uẩn là tinh thần hay linh hồn.
Nhưng theo “Duy Thức học” trong Phật giáo, thì vì thức uẩn hùng hậu như vậy nên nó tự thiết lập đến ba vòng ẩn hoạt, huyền bí vô cùng, là vòng ngoài, vòng giữa, và vòng trong. Ví như chiều sâu của đại dương gồm đáy biển, trung tầng, và thượng tầng.
Vòng ngoài của thức uẩn tương ứng với thượng tầng của đại dương (kể cả mặt nước), nơi hứng chịu mọi vật, và áp lực của gió bão. Còn vòng ngoài của thức uẩn thì hướng qua năm giác quan, chịu tất cả ảnh hưởng của ngoại trần. Vòng ngoài ấy được gọi một cách tổng quát là nhận thức.
Vòng giữa của thức uẩn tương ứng với trung tầng của đại dương, có tác dụng phân biệt trước một đối tượng, để phản ứng ra ngoài hay nhận vào bên trong, cũng như trung tầng của đại dương có tác dụng đẩy bất cứ một vật thể gì lên mặt nước, hay nhận chìm vật ấy xuống đáy biển. Vòng giữa nầy có một cái tên khác là tri thức.
Vòng trong cùng của thức uẩn tương ứng với đáy biển, có đặc tánh tự nhiên là yên lặng thống kê mọi vật, và vô tư kết toán cái nào mạnh (nhiều), cái nào yếu (ít). Cũng như đáy biển là kho chứa tất cả những gì chìm xuống đó và giữ nguyên vị, không dời chỗ. Vòng trong cùng, hay trung tâm của thức uẩn nầy, được gọi là linh thức (hay tàng thức).
Và chủ đích của tập sưu tầm nầy là nói về linh thức ấy, trong thân thể sinh hoạt của con người, bằng một số ngôn ngữ tỷ giảo theo khoa học.
Qua nhãn quan khoa học, người Phật tử có thể phát biểu rằng : Thân thể con người khi còn sống là một cái máy năng động. Nó có thể phát sinh một hệ thống «điện từ» (courant électro-magnétique).
Hệ thống điện từ nầy biểu hiện cho sức mạnh tinh thần, rất ẩn lặng và vô hình, mà nhiều nhà nghiên cứu Duy Thức trong Phật học gọi là Mạt-Na A-Lại-Da thức (Màna-Àlaya), hay «linh hồn thức», tức tổng hợp của thức thứ bảy và thức thứ tám, có khả năng «tái tạo» sự sinh tồn dưới dạng nầy hay dưới dạng khác. Nó là một «thanh khí» (créature éthérée) bao trùm, thấu nhiễm não bộ, và tỏa đến toàn thân, không khác gì vùng thanh khí (zone éthérée) xung quanh một tinh tú.
Luồng điện từ phát sinh nơi thân thể con người còn gọi là «nhân điện», một loại tĩnh điện (électrostatique), cũng có hai cực Âm và Dương, như trong dòng điện cơ khí. Cực Âm của tĩnh điện thân người, nằm ở hạ đỉnh cung Tý (đúng lúc 0 giờ), và cực Dương nằm ở thiên đỉnh cung Ngọ (lúc mặt trời đứng bóng) trên vũ trụ tuyến. Hai cực nầy liên lạc với nhau bằng
một luồng từ điện có cái tên là Tý Ngọ tuyến, tương đương với tên khoa học là «Kinh Tuyến» (Méridien).
Tý Ngọ tuyến nầy làm thành một «thùy trục» (Axe cosmique). Thùy có nghĩa là từ trên xuyên đến dưới, theo một đường vô hình, chạy từ đỉnh đầu đến lòng bàn chân, trong thân thể con người. Ðường nầy phối hợp và thẳng góc (perpendiculaire) với các đường ngang di động (hành hoạt), làm thành toàn bộ «trực giác» trong sinh lực.
Kinh tuyến thiên nhiên, hay thùy trục của quả đất, cũng là một trục vô hình (do trí biết chứ không có sắc thể để nhìn thấy), khởi từ cực Bắc xuyên quả đất đến cực Nam, làm trung tâm cho quả đất tự quay tròn, và chạy quanh mặt Trời, khoảng 2 triệu 400 ngàn cây số mỗi ngày, giữa không gian vô tận.
Và trong thân thể con người thì thùy trục nầy xuyên từ đỉnh đầu đến lòng bàn chân, nối liền hai điểm Tý Ngọ. Con người khi còn sống, nằm hẳn trong một khung vô hình (trần gian), là khoảng tương giao (hay vùng giao tuyến), thuộc hoành đồ sinh động, dung thông với trục trái đất và vũ trụ tuyến. Thùy trục khởi từ đỉnh đầu xuyên đến lòng bàn chân con người, cũng giống như thùy trục của quả đất, chạy từ Bắc cực đến Nam cực vậy.
Vì tính lưu chuyển của luồng từ điện nằm trong thùy trục con người, mà tạo thành và sinh ra sự cảm ứng (induction) của nhân điện khí. Ðó cũng là từ lực của thân thể con người, tương đương với trọng lực của trái đất, theo định lý Faraday.
(Ông Michael Faraday là người Anh, sinh năm 1791 tại Newington Surrey và mất năm 1867 tại Hempton Court. Ông là một nhà vật lý hóa học thiên tài, đã khám phá ra hiện tượng cảm ứng của luồng từ điện quả đất, để làm kim chỉ nam trong địa bàn).
Nghĩa là nếu so sánh thân thể con người thì cũng giống như quả đất. Nó có đường «kinh tuyến» làm trục cho sự quay tròn, hoạt động, giao thoa với vĩ tuyến, tạo “cảm ứng”.
Kinh tuyến là «quỷ hình» của đường dọc, chạy suốt từ Bắc cực đến Nam cực, từ khai thiên lập địa đã tập trung một cách sơ động hai sức nóng và lạnh (nguyên nhiệt, nguyên hàn) của mọi vật hiện hữu. Rồi từ chỗ hội tụ ban sơ đến chỗ tích lượng phát huy, tạo ra sự «cảm ứng» của điện tử khí (électricité magnétique).
Kết luận : «Sự cảm ứng (induction) của điện tử khí chính là hiện tượng cấu kết của điện và từ lực sinh ra», đã được nhà bác học vật lý Faraday thí nghiệm mà tìm thấy, khiến công trình khám phá của ông trở thành một đóng góp vĩ đại cho nền khoa học nhân loại mãi đến ngày nay. Tức là xác nhận rằng tất cả những giòng điện đều có phát sinh ra «vùng từ lực», và vùng từ lực đó phải có sự cảm ứng của điện tử khí.
Tương tự như thế, thân thể con người khi hoạt động cũng sinh ra dòng từ điện, tạo thành một lực cảm ứng, nối liền với linh lực con người.
Linh lực nầy gồm có hai phần : Phần động (hiển lộng) gọi là Mạt-Na (Màna), quen gọi là «hồn», và phần tĩnh (an nhiên) gọi là A-Lại-Da (Àlaya), thường gọi là «phách». Ðó là hai thức lực tiềm lặng «nằm» vừa trong vừa ngoài trí não con người. Hai loại siêu năng nầy biểu lộ được là do động lực cảm ứng của giòng nhân điện lưu chuyển trong thân thể.
Hồn lực Mạt-Na (còn gọi là thức thứ bảy) bao gồm tất cả tâm sở (Phạn ngữ là Cetasikà) thuộc về dương tính (positive), chủ trì các sự hiếu động và hành vi con người. Nó tượng trưng cho “tiểu ngã”, hay thường gọi là tự ngã (tức cái ta), nắm giữ toàn diện cá thể nhân sinh. Cái “ta” nầy đối với bề ngoài (mặt nổi), thì phát ra tri thức (lý trí) và tư vọng. Nhưng nó lại có tính thay đổi không ngừng, và phân biệt cái nầy với cái kia, luôn luôn chạy theo các quy luận song đối, nhị biên (dualité), như một số từ ngữ tượng trưng sau đây : có không, sáng tối, đẹp xấu, trắng đen, phải trái, khôn dại, trên dưới, nam nữ, thuận nghịch, thương ghét, ngon dở, xa gần, lớn bé, đa thiểu, đặc lỏng, kín hở, trước sau, đông tây, nam bắc.v.v…, tổng cộng thành vô số từ ngữ, không thể kể ra hết dược. Nó hàm chứa toàn thể ý niệm, tư duy, tánh nết, từ ti tiện cho đến cao thượng của mỗi cá nhân.
Hồn lực Mạt-Na (Mana) có tật ôm ấp lâu dài toàn bộ những cảm xúc và hiểu biết, do lục thức (năm giác quan cộng với tâm tư) phản chiếu vào. Rồi sau khi đã tự nhiễm hoàn toàn những cảm xúc và các hiểu biết ấy, nó lại chuyển chúng vào trong phách lực A-Lại-Da (hay tàng thức), để thủ kết ở đó.
Vì phách lực A-Lại-Da (Àlaya hay tàng thức) ẩn sâu trong tâm khảm (sub-conscience), nên rất tiềm tàng. Bản tánh nó thuộc về âm (négative) vốn tĩnh lặng, để luôn luôn chất chứa mọi pháp hành (nhân quả) trong bất động. Cái «kho» A-Lại-Da cất giữ không những tất cả hiểu biết và kinh nghiệm của hiện tại, mà nó còn tồn trử toàn thể pháp hành từ vô thủy quá khứ, đến mãi mãi muôn kiếp luân hồi trong tương lai. Nó là cái «thức lực» vô khả duy lý, thuần túy «vô tư», khuyết tính phân biệt, không bị hạn chế giữa hai tình trạng nhị biên, nên trong cái «kho» của nó có đủ tất cả di sản, không thiếu bất cứ một hành nghiệp nào của mỗi sinh vật.
Nói cách khác, nó ví như một bà mẹ mù, không biết phân biệt, chỉ luôn luôn giữ kỹ, và nuôi dưỡng tất cả những đứa con, bất kể đẹp xấu, mạnh yếu, lớn nhỏ.
Tuy nhiên, với bản chất «thụ động» như thế trong “tiềm thức” một con người, nó vốn có sự chuyển hóa phi thường : Khi nó bị chất chứa nhiều quá bỡi một nghiệp quả nào đó, thì nó lại làm cho hiện thân cách sống của kẻ ấy phải lộ ra, y như ưu thế
của cái lượng nghiệp quả đang dồn cất trong nó. Vì vậy mà trên cõi đời mới có hàng tỷ cá nhân, tuy nhìn bề ngoài là con người, nhưng bên trong bản tánh mang nhiều tư cách khác nhau, không ai giống ai, từ thực thà hay hung bạo như thú vật, đến thông minh hiền lành hay khôn ngoan xảo huyệt như những thánh nhân, hay đại gian hùng.
Phách lực hay tàng thức A-Lại-Da tượng trưng cho “đại ngã”, làm tiêu biểu cho “bản thể vũ trụ”. Nó là “gạch nối” giữa tiềm thức với cõi vô cùng, và là “pháp thân” của mọi sinh linh khi chưa chuyển động. Nó cũng là “chân ngã” hay tịnh ngã, tức cái “ta thật” của mỗi chúng sinh lúc ở chiều sâu.
Nó giống như một mảnh đất, mà kinh gọi là «Ðịa Tạng», nhận đủ các loại hạt giống để làm mọc mầm, nuôi dưỡng cho lớn lên những thứ nghiệp quả đã gieo vào đó. Nếu gieo giống Bồ Ðề thì có cây Bồ Ðề mọc và lớn lên, nếu gieo giống cỏ độc thì có cỏ độc mọc.
Vì hiện nay khoa học chưa có cách chứng minh phách lực A-Lại-Da, để cho ta thấy biết tường tận, nên có nhiều người không tin là mình sẵn có một “bảo vật”, một di sản nội tại vĩ đại, một sức mạnh phi thường, là phách lực A-Lại-Da.
Lắm sự thật để cho chúng ta biết được sức mạnh thần kỳ của phách lực nầy thuộc tàng thức A-Lại-Da, đã thỉnh thoảng biến đổi được nhiều hoàn cảnh khó khăn trong đời sống. Như khi chúng ta gặp một nguy hiểm thập tử nhứt sinh, chúng ta đã đem hết lòng tin, xuất thần cầu khẩn với một đấng “thiêng liêng” nào đó, chúng ta bỗng được «tai qua nạn khỏi». Sự linh ứng trong việc cầu khẩn ấy không phải nhờ nơi quyền năng của đấng vô hình kia, mà chính là nhờ vào sức mạnh của phách lực A-Lại-Da (hay tàng thức), nằm sâu trong tâm não của chúng ta đó.
Việc một số người vượt biên trước đây, ngồi trên một chiếc thuyền mỏng manh, gặp cơn giông tố, nước tràn vô thuyền, cái chết đang hiện ra trước mắt. Mọi người trên thuyền liền đồng loạt thành tâm, khẩn cầu đức Bồ Tát Quán Thế Âm. Chợt gió bớt thổi, sóng bớt xao, tạo điều kiện cho một tàu biển lớn từ xa nhìn thấy, và viên thuyền trưởng bỗng nảy sinh lòng tốt, hướng mũi tàu lướt tới, vớt hết những người gặp nạn ra khỏi thuyền con, trước khi nó bị chìm lỉm xuống đáy biển.
Câu chuyện «cứu khổ cứu nạn» trên đây, soạn giả nêu ra hoàn toàn không phải để «tuyên truyền», mà là để nhắc lại một sự thật (mà nhiều người cho là khó hiểu), từng xảy ra trên biển Nam Hải (báo chí Hoa Kỳ đã đăng tải), hầu chứng minh sức mạnh huyền diệu của phách lực A-Lại-Da. Những ai tuyệt đối duy vật có thể không tin, nhưng đó là quyền của họ.
Trong đời sống hằng ngày, nếu chúng ta biết thành tâm và tĩnh lặng, nghiệm được diệu năng của phách lực A-Lại-Da để «xử dụng», thì chúng ta sẽ thành tựu được một số việc khó tưởng tượng được.
Hay mỗi khi chúng ta gặp chuyện quá khó khăn, chúng ta cảm thấy bất lực, buồn rầu, bối rối, vô kế khả thi, thì chúng ta cần hướng về đức thanh tịnh, định tỉnh tâm thần, bằng cách «miệng niệm những lời chân thành vô hại, nói lên sự mong ước tuyệt đối của mình, muốn vượt qua nghịch cảnh», và «tai lắng nghe những âm thanh cầu cứu chân thật ấy» (quán thế âm), để có sự giao cảm với phách lực A-Lại-Da. Chúng ta sẽ cảm thấy có sự kiện lạ lùng là việc đang khó chợt biến ra dễ, chúng ta bỗng hết bối rối, và cảm giác tự tin. Nếu chúng ta đặt tin tưởng vào khả năng tái tạo của phách lực A-Lại-Da, thì chúng ta có thể cải thiện được đời sống hằng ngày của mình, từ vật chất đến tinh thần.
Theo một số bác sĩ thần học, thì phách lực A-Lại-Da còn có diệu năng trị khỏi một số bệnh nan y, cho những ai sống hướng về hạnh thanh tịnh, và đạt được định tâm. Nó có thể ảnh hưởng, và biến đổi tư tưởng bi quan chủ bại, ra thành lạc quan đắc thắng. Tóm lại «nó» là sức mạnh vô hình, là nền tảng thành tựu cho con người trong nguyện vọng hằng ngày.
Không những phách lực A-Lại-Da có khả năng biến đổi thân phận trong kiếp sống nầy, mà nó còn có khả năng chuyển hóa sinh mạng trong tương lai vào cảnh tốt đẹp, nếu chúng ta biết sống lành mạnh và chân thành định tâm tình nguyện, giao cảm với nó. Vì phách lực A-Lại-Da là mối liên lạc vừa kỳ diệu vừa linh thiêng. Nó vừa nằm trong, vừa nằm ngoài thân ta, và hằng có trước khi chúng ta tái sinh kiếp nầy.
Nghĩa là cái nguyên lý vĩ đại về phách lực A-Lại-Da vốn đã có từ khi vũ trụ mới thành hình. Nhờ nguyên lý ấy, mà mọi tính biến chuyển trong sự sống mới bắt đầu, suốt khởi thủy đến bây giờ, tạo ra vô số hành nghiệp luân hồi của vô số sinh linh, tiến hóa có, thoái hóa có. Nó chính là nguồn gốc của của sự sống, của xã hội, của tín ngưỡng, của luân lý đạo đức, và ngay cả của các nền văn minh.v.v….
Ðối với cái tiểu vũ trụ là con ngưới, khi một cá nhân biết hướng thượng, nó cũng là năng lực giúp kẻ ấy biến đổi đời sống từ xấu ra tốt, từ phàm lên thánh.
Và muốn thấu rõ cái nguyên lý đó, không gì bằng sống trong phẩm hạnh trong sạch, thanh cao tĩnh lặng, đem tịnh tâm chân thành, để quán chiếu, suy tư, chiêm nghiệm, giao cảm với phách lực A-Lại-da, cùng với khả năng giải thoát lo âu của nó, hầu đạt đến trạng thái tâm linh trong sáng, tịnh xả, tách rời khỏi tối tăm phiền não, thuyên giảm đau khổ, và tiêu trừ bệnh tật. Ðó chính là năng lực thần kỳ của đời sống nội tâm.
Nhưng hầu hết nhân loại ngày nay chỉ lo sống với nếp sống bề ngoài. Ít ai chú ý tới mạch sống linh diệu bên trong, hay biết sống với thế giới nội tại.Vì chính cái thế giới nội tại ấy đã làm thành cả thế giới bên ngoài, và cũng chính những ý tưởng nằm trong tâm thức linh diệu kia, đã tạo ra muôn hình vạn trạng của đời sống mọi sự vật, biến thiên trong vũ trụ. Ðúng như câu : «Tâm tác thiên đường, tâm tác địa ngục».
Nói cách khác, những gì chúng ta nhận thấy ở thế giới chiều nổi, vốn do từ nội tâm chìm lặng mà sinh ra, dù chúng được tạo dựng vì vô tình hay cố ý.
Nếu ngay từ bây giờ, chúng ta biết quay về sống với nội giới tâm linh, giao cảm thông thấu với sức mạnh vô biên của phách lực A-lại-Da, thì chúng ta có thể giác ngộ được các qui luật biến chuyển tương ứng hay sai biệt của muôn việc ở đời. Và để cho thông dụng hơn, nhiều nhà nghiên cứu Phật học còn gọi cái phách lực thiêng liêng ấy là giác tánh hay linh tánh.
Con người là một sinh vật có giác tánh thiêng liêng. Nhưng vì mê vọng, và bị say sưa, vướng mắc với ngoại cảnh, mà cái giác tánh thiêng liêng ấy nơi họ, bị nhận chìm vào vô minh, càng lúc càng sâu, trong biển thất tình lục dục, tham sân si phiền não của tâm thức.
Mặc dù qua nhu cầu tinh thần, tâm thức con người hiện nay cũng có khá nhiều sinh hoạt, được gọi là «văn hóa» hướng về «nội tâm». Nhưng những «sinh hoạt tâm thức» ấy (kể cả của một số «cộng đồng tôn giáo») phần nhiều đang chỉ nhắm vào các bành trướng tín ngưỡng, có nội dung tương đương với thu hoạch quả phúc dùng tiền bạc đổi lấy phúc đức, thỏa mãn ham muốn phẩm vị, danh vọng, vuốt ve tự ngã, và bổ sung vị kỷ.
Những sinh hoạt «tâm linh» nhuộm đầy màu sắc danh vị, đầu tư vụ lợi ấy, dù dưới dạng nào, theo Phật giáo, chúng vốn rất phù du, lêu bêu như các trần cấu ô-trược, nổi kín trên mặt nước, che khuất phần trong sạch nơi bề sâu tâm thức, thì làm sao con người có thể thấy được giác tánh thiêng liêng của mình, càng ngày càng bị phủ lấp ?
Chúng ta vẫn biết thân thể con người là một vũ trụ thu nhỏ. Hàng tỷ tế bào nằm trong thân thể chúng ta, cũng giống như hàng tỷ tinh tú nằm trong giải ngân hà.
Khi khám phá ra được cái vô biên của đại vũ trụ, các bác học đồng thời cũng khám phá ra được cái vô cực trong thân thể con người, và đã gọi nó là một tiểu vũ trụ linh động.
Nếu có một sức mạnh vô hình, đã làm cho đại vũ trụ chuyển động, để đại vũ trụ tự phát nội lực, điều khiển toàn bộ hàng tỷ ngôi sao, khiến cho tất cả hành tinh có thể xoay vần ăn khớp với nhau, xung quanh hàng tỷ những ngôi sao ấy, thì cũng có một sức mạnh vô song, hằng làm cho cái tiểu vũ trụ là thân thể chúng ta chuyển động. Nó sắp đặt sự điều hòa và nhịp nhàng của ngũ tạng lục phủ để phát sinh ra nhân điện và thần lực. Nó lại «hướng dẫn» cả lương tri của chúng ta, điều khiển các tế bào trong cơ thể, để cho cơ thể phát triển tuần tự theo các thời kỳ thai nhi, ấu thơ, thiếu niên, tráng kiện, và lão thọ.
Cái sức mạnh vô song đó trong con người, là bản thể tiềm tàng của phách lực A-Lại-Da. Nó hằng chuyển biến từ kiếp nầy qua kiếp khác, và có năng lực kỳ diệu vô cùng. Năng lực ấy không phải chỉ cải thiện thể xác, mà còn nâng cao tinh thần nữa. Nếu đạt được thanh tịnh hùng hậu, và biết giao cảm đúng cách với phách lực A-Lại-Da, con người có thể từ hoàn cảnh nghèo khổ bệnh tật, tiến lên hạnh phúc giàu sang khỏe mạnh, hay từ thực tại phàm phu tiến lên phẩm vị thánh hiền.
Như chúng ta đã nghiên cứu được biết, phách lực A-Lại-Da có hai mặt, là mặt trong và mặt ngoài. Khi con người để ý tưởng vào một vấn đề nào đó thuộc nhị biên, nghĩa là có sự đắn đo, chọn lựa giữa hai mặt, theo các lý lẽ đối nghịch, nhị biên (như lớn nhỏ, nhiều ít, xấu tốt, phải trái, khôn dại, thiện ác, thấp cao, tiến thoái…v.v…), thì ý tưởng ấy đầu tiên đi vào, và được chủ trì bỡi hồn lực Mạt-Na, tức cái thức tiếp cận với mặt ngoài của phách tạng, hay tàng thức A-Lại-Da.
Nhưng với những ý tưởng nào vô tư, thanh tịnh, duy tác, không tính toán hay suy lường, khi quyết định một hành động không cầu lợi, đầy ôn hòa và cởi mở, không chấp cứng vào nhị biên phải trái, thì những ý tưởng ấy đi ngay vào trung ương, tức là vào linh phách A-Lại-Da, nằm trong nội tàng của tâm linh.
Như vậy chúng ta có thể nói : Nền tảng tinh thần của con người tuy một mà có hai phần. Phần ngoài thuộc về vọng động, phân biệt, xung đột, khát khao, tìm mới, phàm tục…gọi là hồn lực Mạt-Na. Phần trong thuộc về tĩnh lặng, như nhiên, vô dị ứng, tàng trử nghiệp quả…gọi là phách lực A-Lại-Da (hay tàng thức). Hai phần nầy tổng hợp làm ra sự tái sinh và luân hồi của tất cả động vật. Tổng hợp nầy xưa nay chúng ta thường gọi chung là linh hồn.
Nói rõ hơn : Tàng thức A-Lại-Da là thức phản lý (tự lực phát động), nghĩa là chủ về nguyện vọng thật sự, hằng nhiên, không duy ngại, hay «muốn là được» (Vouloir c’est pouvoir).
Sở dĩ xưa nay đa số người «muốn mà không được» là vì ít có kẻ đạt được sự tự tập trung ý chí một cách thuần thục cực định để muốn thật, hầu kích thích phách lực A-Lại-Da linh diệu trong chính mình biến chuyển đạt thành, mà họ chỉ muốn một cách tưởng tượng ngoại năng, muốn vì tham lam, lười nhát thụ động, muốn bồng bột nhất thời, không tích cực cả quyết, muốn đại khái, và hy vọng cầu may cái tha lực nào đó (không chắc có) ở bên ngoài ban cho, chứ họ không biết gì đến cái thần lực vô song ở bên trong của mình.
Vì vậy, sự tập trung ý chí (định lực) là một điều tối cần thiết. Khi có một ý muốn chánh đáng, thì chúng ta phải cô đọng nó thật hùng hậu, rồi liên tục niệm tưởng, nắm vững nó, biến nó thành nguyện lực, hội nhập nó vào ánh sáng nhất định, dội mạnh nó vào tàng thức A-Lại-Da. Ðến một lúc nào đó phách lực A-Lại-Da được kích thích, chắc chắn sẽ làm hiển lộ kết quả tương ứng của ý muốn đó.
Ðời sống con người không phải chỉ có một hình thức hiện tại, mà nó là sự tiếp nối (tích lũy) từ đời nầy qua kiếp khác, từ quá khứ đến hiện tại, rồi từ hiện tại đến vị lai. Cho nên đạo Phật khuyên con người chớ sợ sệt, và không nên tự cầm tù, chấp cứng vào hiện hữu, mà phải biết mình có một mạch sống hùng hậu liên tục. Mạch sống ấy tuy không có hình tướng nhất định, có thể sờ mó, nhìn thấy được. Nhưng nó rất kỳ diệu, sáng tạo, và đủ khả năng biến chuyển cả vật chất lẫn tinh thần.
Tuy điểm cuối của một đời người là cái chết, nhưng sự chết không phải là bị chấm dứt vĩnh viễn, mà chỉ có nghĩa là chuyển tiếp chu kỳ, để «lại cất bước lên đường», hay tái hóa hiện ra một mạch sống mới, có thể giống như kiếp trước hay khác với kiếp trước, theo tỷ lệ của những ý nghiệp đồng dạng nào mạnh nhất, được tập trung trong tàng thức A-Lại-Da của mỗi sinh linh.
Ai hằng ngày sống theo thiện pháp, biết hướng dẫn tất cả hành động, lời nói, và ý nghĩ trong đạo đức, thường thanh tịnh mong mỏi cho mọi sinh vật xung quanh được bình an hạnh phúc, và thành tâm sung sướng khi thấy kẻ khác may mắn hay thịnh vượng hơn mình, thì kẻ ấy cả đời sẽ được tự tại, rồi khi nhắm mắt họ cũng thản nhiên, để thoải mái lên đường.
Trước khi chuyển sang đoạn II của tập sưu tầm nầy, soạn giả xin chân thành ghi ra đây câu nói của Lão Tử :
«Ngoại kỳ thân, nhi thân tồn».
-Nghĩa là «Muốn thân còn hãy gát thân ra ngoài».
Và Trường Xuân Chân Nhân cũng có câu :
«Bá kế dĩ dưỡng nhân,
tức bá kế dĩ muội tâm».
-Nghĩa là :
«Dùng trăm kế để nuôi thân,
đó là dùng trăm kế để làm cho tâm ngu muội».
Vả lại, công trình của tất cả sự tiến bộ, của tất cả các nền văn minh, phải chăng cũng chỉ nhắm vào một mục đích duy nhất là để cải thiện, để tiến hóa cho những sự sống cá nhân và sự sống cộng đồng, được nối tiếp trong chiều hướng tốt đẹp hơn, bình an hơn, và thanh khiết hơn ? Và cái «động cơ» tiềm tàng có khả năng đẩy tới một trạng thái sống mới thanh cao hơn, đó chính là A-Lại-Da thức.
Cũng xin lưu ý một điều : A-Lai-Da thức (được hiểu trong đạo Phật) không phải là một “linh hồn” nguyên vẹn, trường cửu, bất biến, tác phẩm “độc quyền” của một đấng toàn năng nào đó tạo ra, như quan niệm của một số tín ngưỡng khác. Nhưng A-Lại-Da thức theo Phật giáo, là một động lực tiểm tàng, vừa vô tư, vừa liên tục thay đổi tùy theo các hoàn cảnh, và hằng biến hiện ra rất nhiều dạng sống luân hồi khác nhau, trên một trong hai chiều sinh động là tiến hóa hay thoái hóa.