CẨM – NANG THỰC TIỄN,
làm nền tảng chuẩn bị hành thiền
Tứ Niệm Xứ
Tuệ Lạc
(2010)
(Ghi theo thực nghiệm bản thân)
Đây là một ghi chép cơ bản của hành thiền. Nó rất cô đọng. Nó không phải là một luận thuyết để giảng giải về thiền. Nó chỉ gồm những từ ngữ và định nghĩa ngắn gọn, để hành giả đi trước có thể dùng làm «tiêu chuẩn» tự mình tu, và tùy duyên thân cận, trực tiếp hướng dẫn từng bước cho hành giả đi sau, qua sự thực hành.
Phần I : Một số từ ngữ cần biết :
1/ TÂM THẦN (hay tâm và thần)
-Tâm (=tim) là khả năng của nghiệp để kéo dài sự sống.
-Thần là năng lực biểu lộ sự sống (hay tinh thần).
Và cần nhận rõ :
*THIỀN ĐỊNH là định thần, chứ không phải định tâm.
*Khi thần an thì tâm an. Thần loạn thì tâm loạn.
*Khoa học gọi ấy là quân bình hay an định thần kinh.
2/ THÂU PHÁT (hay thâu thần và phát thần) :
*Thâu thần có điểm tựa là tâm (hay tim).
*Phát thần có điểm tựa là ngoại cảnh (hay ngoại trần).
*Người nói nhiều thì thần khí phân tán.
Châm ngôn : “Khẩu khai thần tán”.
3/ NGŨ QUAN CẢM XÚC (PG gọi là ngũ căn).
*Năm giác quan là năm cửa để tinh thần phát ra ngoài.
*Năm giác quan cũng là 5 ngõ để thâu thần vào tâm.
*Năm giác quan ám chỉ 5 sự sinh hoạt của mắt, tai, mũi, lưỡi, và thân.
4/ THIỀN NGỮ và TRI HÀNH là gì ?
*Thiền ngữ là một số tiếng nói (hay nhóm chữ) chế định, để làm phương tiện tu thiền.
*Tri hành là biết mình khi hành thiền, qua thân và tâm.
*Tụng thầm thuộc lòng thiền ngữ, vang vang trong đầu, không phải là hành thiền. Xin đừng nhầm lẫn !
*Thiền ngữ không thể thay thế tri hành.
5/ THUẦN THỤC.
*Thuần thục là tri hành thiền pháp một cách khắn khít, nhuần nhuyễn, thoải mái.
*Thuần thục không phải là nhất tâm bất loạn, «nhập một» vào thiền ngữ.
*Ngồi yên lặng, thành tâm cầu nguyện không phải là hành thiền
6/ ĐỐI LỰC. Những đối lực trong khi hành thiền là :
a/Năm trở ngại (hay 5 triền cái = Pañca nīvaranāni) :
1/Tham dục (kāmachanda) : Ưa thích ngũ dục,
2/Ác ý (abhijjā vyāpāda) : Bất mãn, hay sân hận
3/Thụy miên, hôn trầm (thīna middha) : Buồn ngủ, nặng nề (hay lười biếng).
4/Vọng động (uddhacca kukkucca) : Phóng tâm, bất an.
5/Hoài nghi (vicikicchā) : Do dự, không chắc.
b/Mười dây cột trói, hay thằng thúc (10 saŋyojanāni).
-Có 2 bản kê khai khác nhau :
Bản A :
1/Thân kiến (sakkāyadiṭṭhi) : Chấp thân sắc nầy là “ta”,
2/Hoài nghi (vicikicchā) : Nửa tin nửa không,
3/Giới cấm thủ (sīlabbataparāmāso) : Chấp nghi lễ,
4/Tham dục (kāmachando) : Thèm ngũ dục,
5/Ác ý (vyāpādo) : Bất mãn, hay oán hận.
6/Ái sắc (rūparāgo) : Thích sắc dục,
7/Ái vô sắc (arūparāgo) : Thích danh dục,
8/Ngã mạn (māno) : Tự cao,
9/Trạo cử (uddhaccaŋ) : Phóng túng, kích động,
10/Vô minh (avijjā) : Không thấy, không biết đúng sự thật.
Bản B :
1/Ái cõi dục (kāmarāga) : Thèm ngũ dục
2/Bất mãn, không vừa lòng (paṭigha) : Giận, thấy không đủ,
3/Ngã mạng (māna) : Tự cao
4/Tà kiến (diṭṭthi) : Mê tín, tin tha lực
5/Hoài nghi (vicikicchā) : Đổi ý, không cả quyết
6/Giới cấm thủ (sīlabbataparāmāso) : Tin chắc vào nghi lễ
7/Ái hữu (bhavarāga) : Ôm cứng bản ngã
8/Ích kỷ (issā) : Hèn mọn, dễ lúng lúng, dễ lạc hướng
9/Keo kiệt (macchariyā) : Hẹp hòi
10/Vô minh (avijjā) : Không thấy, không biết đúng sự thật.
c/Năm vượt để tới chánh định *(sammāsamādhi) :
1/Vượt tầm (vitakka) : Hết phóng tâm
2Vượt tứ (vicāra) : Hết bị (tư tưởng) lôi kéo
3/Phỉ (pīti) : Vừa ý, vượt bất mãn
4/Lạc (sukha) : Thân vui, vượt khổ, hết cảm giác khó chịu.
5/Nhất điểm (ekaggatā) : Đi một đường, thoải mái, vô chi phối.
*Chú ý : Cần phân biệt “định” và CHÁNH ĐỊNH, như sau :
-“Định” thường bị đứt quãng, và có thể đi vào tà thiền. “Định” dễ bị vướng mắc “quả thiền”, hành giả luôn luôn chờ đợi, đo lường “thành công”, và ôm ấp kết quả.
-Còn CHÁNH ĐỊNH thì liên tục, không vướng mắc vào “quả thiền”, thảnh thơi, trong sáng, và càng ngày càng không còn yếu tố thời gian
Phần II : CƠ BẢN NIỆM THÂN
Niệm thân là pháp hành đầu tiên của TỨ NIỆM XỨ.
-Vì sao niệm thân ?
*Vì thân nầy là «chỗ chứa» tất cả cảm thọ khổ vui, là môi trường căn bản của vạn pháp.
*Niệm thân thuần thục là tìm ra đầu mối giải thoát.
*NIỆM THÂN có nhiều phương pháp. Ở đây chỉ đề nghị cách niệm thân, mà người chép cẩm nang nầy, đã tự mình thực hành. Và xin đề nghị cho người mới bắt đầu :
“Thiền ngữ tổng hợp” để niệm thân, là :
«Cảm giác biết toàn thân»
(Sabba kāya satisampajañña)
(Thực hành thiền ngữ cơ bản nầy càng thường xuyên càng tốt,
xuyên qua cả bốn oai nghi : đi, đứng, nằm, và ngồi).
*Khi hành giả đã thuần thục trong «cảm giác biết toàn thân» rồi, thì hơi thở sẽ tự nhiên «hiển lộ» rõ rệt, hành giả không cần tìm kiếm, mà chỉ cần nhận diện, nắm bắt. Sau đó mới bắt đầu niệm hơi thở (tức quán) qua thân.
*Cảm giác biết toàn thân có thể ví như nền tảng. «Niệm hơi thở» ví như ngôi nhà xây trên đó. Khi nền móng vững chắc (hay thuần thục), thì sự xây dựng sẽ tiến đều và bảo đãm.
*Hành giả tuyệt đối không nên «đốt» giai đoạn !
*Chưa thuần thục «cảm giác biết toàn thân», mà đốt giai đoạn, bắt đầu niệm hơi thở, dốc lòng dựa vào chỗ khí lực “biểu lộ”, thì hành giả sẽ căng thẳng thần kinh, vì cố gắng điều khiển hơi thở không phải là pháp thiền trong Phật giáo. Do đó sẽ xảy ra các phản ứng tai hại, như lạnh chót mũi, nhức đầu, khô khí quản, lạnh rốn, sôi bụng..v.v.. và mất quân bình năng lực !
*Còn kết quả thần diệu của pháp thiền niệm thân ra sao. Khi làm đúng, người hành đạo sẽ tự biết, không cần nói trước. Đó gọi là “Passaddhi” (khinh an). Vì nếu báo trước, tưởng uẩn và thức uẩn trong mỗi cá nhân sẽ phản động, làm cho họ trông đợi, vọng tâm, mong chờ, dễ lạc lối vào tà thiền, không hành đạo tốt được !
*Tu thiền niệm thân nhắm 2 mục đích :
Phàm tịnh và Thánh tịnh.
–Phàm tịnh có chân ích, là làm cho tâm thần không phóng ngoại, an trú một cách quân bình trong nội thân, điều chỉnh cảm thọ và chứng thật mọi biến hành của sự sống, tiến dần đến buông bỏ các trạng thái cảm giác có nhân duyên, điều kiện, hợp tan. Sau cùng hành giả vững chắc trực đắc pháp vô thường trong chính thân mình.
-Thánh tịnh có chân ích, là thấy rõ các lý do sinh tử, bỡi phiền não cố chấp mà ra. Từ đó giải thoát chân tâm, tự tại hướng đến toàn xả, phát triển từ bi và hoan hỷ vô biên (tứ vô lượng tâm), không mắc dính trong bất cứ cảnh giới.
*Sau đây là những «cặp thiền ngữ» rất thích hợp,
dùng để niệm hơi thở (ànàpànasati),
sau khi đã thuần thục niệm toàn thân :
1/Toàn thân hít – Toàn thân thở. (-Cảm thấy toàn thân đồng làm việc, nhịp nhàng hít thở qua lỗ mũi, chứ không phải chỉ có lỗ mũi mới hít thở).
2/Toàn thân phồng – Toàn thân xẹp. (-Cảm thấy toàn thân hòa điệu, chứ không phải chỉ có bụng hay rún phồng xẹp).
3/Toàn thân đầy khí, nặng. –Toàn thân vơi khí, nhẹ (cảm thấy).
4/Toàn thân chứa khí. –Toàn thân thải khí (cảm thấy).
5/Toàn thân dẫn khí vào. –Toàn thân tiễn khí ra (cảm thấy).
6/Thần thức nhìn khí vào thân. -Thần thức nhìn khí ra (vô tư).
7/Hít vào toàn thân tươi. -Thở ra toàn thân tỉnh (cảm thấy).
8/Hít, toàn thân «thiền». -Thở, toàn thân «thiền» (cảm thấy).
9/Hít, toàn thân là pháp. -Thở, toàn thân là pháp (cảm thấy).
10/Hít vào toàn thân an. -Thở ra toàn thân lạc (cảm thấy).
11/Hít, tinh thần hội về tim. -Thở ra tinh thầnxả (cảm thấy).
12/Hít, tinh thần hướng về pháp – Thở, tinh thần xả các pháp.
-Khi thuần thục thì chỉ dùng những chữ có gạch dưới cho gọn !
Chú ý :
-Trong khi niệm hơi thở (ànàpànasati) trên căn bản «biết toàn thân» (sabba kàya sampajañña), thần thức hành giả không nên hội nhập vào thiền ngữ, mà phải hội nhập vào thân và tâm, rõ ràng qua cảm giác.
-Đây là yếu tố tối quan trọng, quyết định cho sự tiến bộ, tránh tình trạng dẫm chân tại chỗ, hay bị bế tắc !
-Thân người ví như biển khổ. Bao nhiêu thọ cảm, tưởng, hành, thức huân tập (tích tụ) trong thân nầy (hay uẩn), từ vô số kiếp luân hồi, ví như chiều sâu của nước biển. Tham, sân, si….ví như 3 loại gió độc, thổi mạnh không ngừng, làm cho nổi sóng, chao đảo ngọn đèn tri thức, chẳng phát được ánh sáng minh mẫn, tự soi thẳng vào.
-Niệm thân thuần thục là phát triển ánh sáng thanh tịnh vào “biển thân luân hồi” ấy. Hành giả nhờ đó sẽ phăng ra được chỗ khởi đầu của sinh tử nơi chính mình mà hóa giải !
PHẦN III
Kỹ thuật «niệm toàn thân» cho hai loại hành giả :
1/Hành giả không ngồi như “yogi” :
-Bốn oai nghi đi đứng ngồi và nằm, của loại hành giả nầy vẫn bình thường. Khi hành thiền, họ có thể ngồi trên ghế có lưng dựa, và thòng chân xuống đất, vì lý do già yếu, gân cốt không mềm dẻo, hay vì những lý do khác.
*Trong trường hợp nầy, cần chia “toàn thân” ra thành những phần, từ thấp lên cao, cho dễ thực tập, như sau :
1/Phần bàn chân : Gồm 2 bàn chân,
2/Phần bắp chân : Gồm từ bàn chân lên tới đầu gối,
3/Phần bắp đùi : Gồm từ đầu gối lên tới cuối xương sống,
4/Phần bụng : Gồm từ háng lên đến xương sườn thấp nhất
5/Phần ngực : Gồm từ xương sườn thấp nhất lên tới xương sườn cao nhất
6/Phần cánh tay : Gồm từ xương quai xanh (2 đoạn nằm ngang phía trước chân cổ) ra 10 đầu ngón tay
7/Phần cổ : Gồm cần cổ
8/Phần đầu : Gồm cái đầu.
*Khi vào pháp thiền, họ vẫn đi, đứng, nằm hay ngồi (trên ghế) như thường lệ, với xương sống thẳng và thoải mái, rồi bắt đầu “niệm”, theo hướng dẫn, từ thấp lên cao (tức từ số 1 đến số 8), như sau :
Số 1 : Phần bàn chân, niệm :
nghĩ đến hai bàn chân – cảm giác hai bàn chân –
biết hai bàn chân ở đó
Tương tự như vậy, họ tiếp tục :
nghĩ đến phần bắp chân,
cảm giác phần bắp chân,
biết phần bắp chân ở đó…v.v.v….
…dần dần lên đến phần đầu !
…rồi tái bắt đầu từ phần bàn chân trở lên lại !
2/Hành giả ngồi như YOGI.
Loại hành giả nầy, khi đi đứng và nằm để hành thiền, thì họ làm bình thường, như loại người nói trên. Nhưng khi tọa thiền thì họ chọn cách ngồi của “Yogi” (kiết già hay bán già).
*Vì vậy phải chia các “phần thân” một cách khác, để thích hợp hơn, như sau :
1/Phần bàn toạ : Gồm 2 chân xếp bán già, hay kiết già
2/Phần bụng : Gồm từ háng lên đến xương sườn thấp nhất
3/Phần ngực : Gồm từ xương sườn thấp nhất lên đến xương sườn cao nhất
4/Phần cánh tay ; Gồm từ xương quai xanh (trước chân cổ) ra đến 10 đầu ngón tay
5/Phần cổ : Gồm cần cổ
6/Phần đầu : Gồm cái đầu.
-Và họ cũng dùng thiền ngữ, hướng dẫn có 3 đoạn.
Bắt đầu từ phần thân thấp nhất, ví dụ phần bàn tọa, họ niệm :
nghĩ đến bàn tọa – cảm giác bàn tọa – biết bàn tọa ở đó.
Cứ thế, hành giả sẽ tiến lên, niệm phần bụng, phần ngực, phần cánh tay, phần cổ, và phần đầu….rồi tái thực hành như vậy, cho đến khi nào thuần thục qua cảm giác !
3/Nửa thân bên phải, nửa thân bên trái, và xương sống.
-Sau một thời gian “niệm một phần thân”, luôn luôn từ thấp lên cao, qua 4 oai nghi bình thường, hay qua 4 oai nghi có cách ngồi “yogi”, tùy theo loại hành giả. Người tu thiền tiếp theo phải áp dụng thêm 2 phần niệm nữa, là “niệm nửa thân bên mặt”, “niệm nửa thân bên trái”, và “niệm xương sống thẳng”.
Ví dụ, làm theo thiền ngữ, họ niệm :
nghĩ đến nửa thân bên mặt
cảm giác nửa thân bên mặt
biết nửa thân bên mặt ở đó.
hay
nghĩ đến nửa thân bên trái
cảm giác nửa thân bên trái
biết nửa thân bên trái ở đó.
Rồi “xương sống thẳng” cũng niệm như vậy.
4/Phối hợp để trở thành niệm toàn thân.
-Công phu niệm “từng phần thân” nầy, khi đã thuần thục, thì hành giả có thể phối hợp từ thấp đến cao, một cách tiệm tiến, như sau :
Phần 1 với phần 2 (=bàn chân và bắp chân),
Phần 1, phần 2 với phần 3 (=toàn đôi chân),
Phần 1, phần 2, phần 3 với phần 4….v.v….
-Nghĩa là từ toàn đôi chân lên đến bụng, rồi ngực, rồi 2 cách tay, rồi cổ, rồi đầu. Sau đó lập lại, cũng từ phần bàn chân, lên đến phần thân cao nhất !
Tương tự như vậy, niệm phối hợp nửa thân bên trái với nửa thân bên phải…Rồi nửa thân bên phải với nửa thân bên trái và xương sống thẳng, hay ngược lại !
*Để sau cùng tổng hợp thành niệm “biết toàn thân !
*Hành thiền NIỆM THÂN tuy là 1 pháp môn luyện tâm, nhưng đó là một pháp môn luyện tâm đi vào bản thân của mỗi cá nhân, nên nó chỉ trừu tượng đối với người khác. Nhưng đối với chính hành giả khi làm đúng, thì nó rất “cụ thể”.
Cụ thể ấy có thể ví như một kẻ lữ hành chăm chỉ đi trên con đường hướng đến mục tiêu. Họ sẽ thấy (chứ không tìm kiếm) những gì trước mặt họ, như thế nào, thì người thuần thục trong NIỆM THÂN cũng sẽ thấy hơi thở rõ ràng như thế ấy !
-Niệm “biết toàn thân” là kỹ thuật mở cánh cửa “niệm hơi thở”. Đó là cánh cửa duy nhất của sự sống. Và toàn thân đang sống chính là nền tảng của mọi cảm thọ, hay chính là phản ảnh của mọi tâm thức, đồng thời cũng chính là hiện trạng của vạn pháp.
-Những chữ in xiêng, có gạch đít trên đây,
hẳn đã tượng trưng cho TỨ NIỆM XỨ, là
Niệm thân – Niệm thọ – Niệm tâm – Niệm Pháp vậy !
Lời khuyên riêng :
Trước khi bắt đầu hành thiền, nếu hành giả là một người theo đạo Phật, thì hành giả nên tưởng niệm đến ân đức Tam Bảo (Phật Pháp Tăng), và tái tình nguyện giữ đúng 5 giới.
Trên đây chỉ là một số “chia xẻ” cơ bản nhập môn, giúp chuẩn bị hành thiền Tứ Niệm Xứ một cách vững vàng, chứ chưa phải thực sự hành Thiền. Còn những đóng góp khác để thực tập xa hơn, sẽ tùy duyên trình bày sau.
Với tấm lòng thành.
Tuệ Lạc
viết tặng chư đạo hữu nặng về pháp hành.
(11/06/2010)

Chùa Kỳ Viên, hình ảnh đã
vô thường đi vào dĩ vãng.
Đây là nơi ghi nhiều kỷ niệm
hướng thiện và hướng thượng,
của Phật Giáo Nguyên Thủy Việt Nam,
tại Sài Gòn.