Căn-Trần-Thức và NHỊ BIÊN
Tôi ngồi trong nhà cỏ
Khép cửa, kéo các phên.
Mọi vật liền mờ tỏ
Nhưng âm thanh vẫn “bền”…
***
Tiếng động xa… nghe nhỏ
Tiếng động gần… lớn hơn.
Tất cả gồm đủ cỡ
Làm nhĩ thức bồn chồn…
***
Tu thiền, tránh nhìn sắc
Nhưng qua ngõ âm thanh.
Do người và vật phát
Thường xuyên bị “ồn” hành !
***
Cục gòn… không ngăn hết
Dù tai bế cả hai.
Vẫn còn “âm” nội kết
Nghe ù mãi trong ngoài.
***
Rồi lại đến cái mũi
Có bao tử, đồng minh.
Khi cồn cào… giục, xúi…
Mũi tìm kiếm “hương bình”.
***
Dầu thơm trên vật chất
Thì tùy hạng hèn sang.
Kẻ nghèo thiếu tiền nhất
Nhiều khi lại ít màn.
***
Nhưng mùi ngon ẩm thực
Là khứu giác dính ngay.
Khi cơn đói chưa dứt
Khó làm sao chế tài.
***
Bao tử giục hai ngả
Cả mũi lẫn lưỡi mê…
Kìa mùi thơm ngon quá
Miệng… nước miếng tràn trề.
***
Nhắm mắt lâu… không được
Tự động mở mí ra.
Xem vật gì phía trước
Theo “bản năng” ấy mà !
***
Chợt thấy một hình thái
Ngẫu nhiên chạm vào thân
Duyên dáng và mềm mại
Tâm ý liền bần thần…
***
Ngũ trần là năm cảnh
Ngũ căn ấy thông quan.
Nếu…“thức” không là…“tánh”
Tìm đâu “Ý”, -để bàn ?
***
Bình tâm thử tìm hiểu
Thứctánh “thường” hay không ?
Nếu “không”, -cái gì “biết” ?
Khi duyên hợp xoay vòng !
***
Duyên…hợp tan, thay đổi
Thì “biết” cũng… “đổi” theo
Có gì mà cứ chối :
Thức chỉ là bọt bèo ?
***
Giả sử không có thức,
Chỉ có… “cảnh” qua “căn”…
Chạm vào “thần kinh lực”…
Vậy máy “suy nghĩ” chăng ?
***
Người chẳng phải là máy
Dù máy tinh đến đâu
Có từ trường chuyển chạy
Với “điện tử” trong “đầu” !
***
Máy nào biết suy nghĩ,
Chẳng cảm xúc phân ly.
Máy chỉ thu như thị
Những gì người ta ghi.
***
Còn con người thì khác
Thay đổi vì tâm tham.
Rồi những gì tạo tác
Người biết là mình làm.
***
Máy móc thì không vậy
Cũng có “cảnh”, “kinh”[1], “căn”.
Nhưng vô “thức”, chẳng “thấy”
Nhân quả, pháp công bằng !
***
Tin “duyên hợp… sinh thức”
Là “duy vật” đó đa !
Ấy vốn cùng một mức
Với “đoạn diệt”, kiến tà.
***
Đạo Phật không duy vật
Cũng chẳng phải duy tâm.
Trung dung là pháp thật
Tránh mọi tư duy lầm.
***
Chưa đắc được Phật quả
Chớ bàn đến thánh tâm.
Dù kinh, luận tạc dạ
Cũng chỉ hiểu nghĩa phàm.
***
Nghĩa thánh chẳng trong sách
Nghĩa thánh ở pháp hành.
Chứng rồi, không cần bạch
Đắc rồi, hết loanh quanh.
***
Tư duy, suy vô ích
Giữa hữu ngã, bất vi.
Giữa Niết Bàn “tịnh tịch”
Với… tam giới, ba thì…
***
Giữa vô thường, vĩnh viễn
“Sắc có” và “sắc không”.
Giữa sinh tử : hiện,biến…
Sống cùng chết xoay vòng.
***
Hằng ngày nghe “nói pháp”
Soi sáng tương đối thôi.
Chớ vướng vào hỏi đáp
Ngôn ngữ lệch tơi bời.
***
Tôi ngồi trong nhà nhỏ
Khép cửa, che các phên.
Năm căn “vô tư” mở
Đón pháp giải nhị biên[2].
***
Biên nầy luôn bế tắc
Biên kia cũng thế thôi.
Pháp XẢ lìa vướng mắc
Là hạnh phúc muôn đời.
T.L. 22/12/2006
[1] “Thần kinh” dĩ nhiên không có trong một bộ máy còn chạy, nhưng ở đây ám chi mạch từ trường, đẩy máy chạy bằng điện tử, ví như thần kinh trong con người.
[2] Nhị biên tức là luôn luôn có hai bên, song đối, tượng trưng bằng hai ngôn ngữ, hay hai quan niệm ngịch chiều, phản nghĩa, để đối đãi, phán xử, khắc ứng nhau, nhiều khi dẫn đến xung đột trầm trọng. Chẳng hạng như : chánh/tà, phải/trái, trắng/đen, thuận/nghịch, chủ/khách, cao/thấp, thiện/ác, khinh/trọng, tiểu/đại, v.v… không thể nào kể xiết !
Những ý thiền hóa thành thơ P12 Những ý thiền hóa thành thơ P14