Những ý thiền hóa thành thơ P11

Thiền thơ đi vào thực hành

Pháp Tịnh Tâm Bằng Hơi Thở

(Pālī : Ānāpānasati : Nhớ biết mình qua hơi thở)

_____________

Bài giới thiệu, và hướng dẫn tâm thức,

duyên theo hơi thở, trong các oai nghi.

Nhân loại nói riêng, và động vật nói chung, vốn sinh hoạt hằng ngày không ngoài bốn oai nghi chính, là đi, đứng, ngồi nằm. Còn kiếp sống tất cả động vật cũng không gì khác hơn là sự tiếp nối xoay vần của một chuỗi chu kỳ hô hấp….thở vô rồi thở ra, trong giây phút hiện tại.

Nhưng mấy ai chú ý ?. Và nếu có kẻ để ý, thì đa số lại coi thường. Thậm chí có kẻ còn coi thường đến mức xem hơi thở như một hiện tượng thô tục, cho đó là hoạt động «tự nhiên», chẳng có gì đáng quan tâm đặc biệt cả, khoan nói đến chuyện xem «hơi thở là pháp hành mầu nhiệm».

Đức Phật đã khám phá ra tính thần diệu của hành động hô hấp ấy, xuyên qua 4 nhóm động tác chính, là đi, đứng, ngồi nằm, nên Ngài đã dày công (trải qua vô lượng kiếp) tự thân tu chứng, rồi lưu lại cho đời sau, một thiền pháp thực dụng, tối quan trọng, mà tiếng Phạn gọi là Ānāpānasati. Diễn dịch ra Việt ngữ là nhớ biết mình qua hơi thở trong giây phút hiện tại, Tàu âm là An Ban Thủ Ý, hay Hiện Hành Tịnh Tức.

Vì thiền thơ ảnh hưởng đến tâm thức con người rất nhiều, nên chúng tôi đã thành kính mạo muội viết ra một số «cảm tác», để đầu tiên, hướng dẫn chính mình, và sau nhân thuận duyên, cống hiến đến quí đồng đạo, xa cũng như gần, hầu chúng ta có thể dùng thiền thơ như phương tiện hổ trợ, thực hành pháp thanh tịnh đích truyền, của Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni.

Mục đích là chúng ta cùng nhau thực hành Pháp Phật, để được thanh tâm, an lành trong hiện tại, và có  thể nương nhờ «thiền quả» trong tương lai, nhất là nương nhờ vào giây phút lâm chung, vì thiền pháp hơi thở giúp cho tinh thần «cận tử» ổn định, minh mẫn.

Cũng xin nói thêm rằng : Đi, đứng, ngồi, nằm là bốn oai nghi gọi là chính trong đời sống con người. Nhưng tất cả những di động thân thể nhanh chóng, tinh vi, liên tục khác, tạo ra những phong cách đơn thuần hay biến thế của một con người thì thiền học gọi là oai nghi phụ. Và trong số bốn oai nghi chính, oai nghi ngồi là oai nghi thông dụng nhất cho việc hành thiền.

Trước khi thực hành pháp Thanh Tịnh Thân Tâm Bằng Hơi Thở, duyên theo một trong bốn oai nghi ấy, chúng ta cũng nên quan tâm đến sự chuẩn bị. Nói cách khác, là tạo khung cảnh đơn giản, lành mạnh và thích hợp ! Đó tất nhiên phải là một chỗ tịnh tâm đạm bạc, vắng vẻ, thoáng khí.

«diễn tiến» vào pháp thiền cũng phải cần nghiêm túc. -Chẳng hạng như trước khi bước vào an tọa, thiền thất tuy thanh đạm, không cầu kỳ, nhưng cần phải sạch sẽ, sắp xếp xong. Rồi trước khi vào đề mục, chúng ta cũng luôn luôn thầm đọc lễ bái Tam Bảo tóm tắt, và chú tâm nguyện thọ Tam Qui ngũ Giới. Sau đó là rải lòng từ bi đến tất cả chúng sinh….

Sự chuẩn bị cho một “thời” hành thiền đối với «thiền tịnh cư sĩ» rất quan trọng, nhất là trước khi bắt đầu một oai nghi thiền nào đó, hành giả cần làm vệ sinh thân thể cho được nhẹ nhàng, tươi mát, cần thu xếp những việc vặt chưa làm xong trong ngày, như ghi lại một cách thứ tự những điều ấy vào sổ tay, để khỏi bận tâm qua trí nhớ. Mục đích để cho khi ngồi thiền, tâm ít bị các lý do ấy chi phối, gây chao động.

Sự chuẩn bị cũng bao gồm cách ngồi, tức là ngồi sao cho xương sống thẳng, toàn thân thoải mái, thuận chiều, để giữ cho tọa pháp được lâu. Nhất là trong tâm thức hành giả cần có sự hoan hỷ, để cảm thấy rằng «hành thiền là thể hiện một sinh hoạt khỏe, nhẹ, và sống trong thanh tịnh» chứ hành thiền không phải là luyện tập một cái gì thần bí, kiểu hiếm khi có dịp gặp «minh sư», nên có «khóa thiền» thì hành đạo bằng mọi giá, xem đó như một «phúc ích» giải nạn, phải mau mau «tinh tấn» tối đa, để dành công hạnh.v.v…

Vì quan niệm sai lệch hành thiền như vậy, nên thiền pháp trong Phật giáo đã bị hiểu lầm, là môn luyện thần lực, chiêu gọi linh khí, qua xác thân hiện hữu, đòi hỏi hành giả phải vận dụng tâm trí, hội tụ thần kinh, tập trung năng lực, để tập «xuất hồn», «thoát tục» hầu giao cảm, thành tựu một pháp gì, siêu nhiên trong cõi người.

Quay lại pháp thiền nhà Phật : Vì mỗi cá nhân có một cốt cách riêng, nên mỗi người tự chọn một thế ngồi riêng, xếp bằng sao cho thích hợp với mình nhất, không nhất thiết phải là «kiết già hay bán già, để vừa phát triển được tính nhẫn nại (chống lại thói quen chuộng tư thế dễ dãi), vừa không rơi vào tình trạng cực đoan, «uốn nắn, căng thẳng tập luyện gân cốt».

Và khi vào đề mục,  theo dõi hơi thở cũng vậy, hành giả phải chánh niệm một cách thoải mái, nhẹ nhàng, và hòa điệu, chứ không câu thúc, bắt tâm theo dõi hơi thở một cách cầm tù, kềm kẹp, càng không phải cố gắng điều khiển, hay luyện tập hô hấp, như nín thở lâu, hít vô hoặc thở ra thật dài, kiểu của những người luyện «nội công» của nhà võ, hay theo cách của các  “Yogi=Du-Già” Ấn Độ !

Nói về những “kinh nghiệm”, mà chúng tôi đã rút tỉa được trong việc thực hành thiền pháp niệm hơi thở, suốt thời gian qua, chúng tôi quả thật rất đắn đo, ngần ngại : Nói ra sợ phạm vào điều khoe pháp (mầm móng của ngã mạng), mà không nói thì phải chăng thiếu thiện tâm chia xẻ ? -Vậy chỉ xin thưa vắn tắc rằng :

Phàm làm việc gì cũng dẫn đến kết quả, dù «muốn» hay không muốn. Nhưng «thành quả» thực tế, dễ biết nhất của Pháp Thiền Niệm Hơi Thở có thể tóm tắt bằng nhóm từ «bền chặc với thời gian», tức là «Dùng đề mục ấy để thực hành thường xuyên mà không cảm thấy nhàm chán».

Thú thật, từ trước đến nay, chúng tôi chưa bao giờ cảm thấy chán nản hay bế tắc, trước đề mục hơi thở. Từ đó, chúng tôi chưa bao giờ khởi ý hướng về đề mục nào khác. Chúng tôi cũng không hoang mang, lo ngại mình không đạt được những bậc thiền cao siêu hơn. Chúng tôi chẳng nghĩ đến việc luận giải, trình bày, để nghe các đại thiền sư thẩm định rằng mình đã đắc được tuệ nầy, hay gần bước qua tuệ kia.…v..v…. Chúng tôi chỉ cố gắng hợp tâm cùng hơi thở, để giải trừ phóng giật, hay chấm dứt vọng tâm.

Chúng tôi quan niệm rằng : Mong mỏi hay vui thích khi nghe các bậc cao nhân xác nhận mình đạt được «thiền tuệ» như thế nầy, hay «thiền tuệ» như thế kia..v..v… cũng là một loại phóng tâm. Đó là loại phóng tâm rất tinh vi. Loại phóng tâm nầy thường làm cho hành giả ỷ lại, rồi ngã mạng, lầm lạc, vướng mắc mà không hay !

Vì cứu cánh của pháp thiền là an tịnh thực sự, an tịnh trong chánh niệmchánh kiến. Sau đó pháp vi diệu nào sẽ phát sinh, chỉ có thiền giả mới biết. -Biết để rồi xả, biết để rồi tự tại, để thấy «nó» đến cũng như đi một cách bình đẳng, tương tự như cánh sen hứng biết bao giọt mưa, «nhận đủ» tính mát của tất cả, (viên dung), nhưng không giữ chút nước nào của những giọt mưa ấy.

Thiền giả nếu luôn luôn chuyên cần như vậy, thì sẽ cảm thấy một pháp lành thực tế, rằng có hành thiền, thì tâm tư được yên tĩnh, trong sáng, và trong thân xác, một số đau nhức có thể giảm xuống hay tự biến mất. Nhưng khi không hành thiền thì các vọng tâm và khổ thân (như buồn vui, đau nhức vì già, vì bệnh.v.v…), sẽ tự nhiên trở lại, cái nầy xen kẽ với cái kia, nối tiếp nhau…..

Hơn nữa, chúng tôi nghĩ rằng : Hành Thiền Hơi Thở đồng nghĩa với sự sống hằng ngày, chứ pháp thiền không phải là một việc cần thực hành khi có dịp. Và thiền nhân là người luôn luôn hoan hỷ với nếp sống có vệ sinh tinh thần, có kỷ luật tâm thức, chứ không đợi gặp khung cảnh «hành đạo» mới giữ đúng pháp lành, nhất là họ không cố ý thực hiện thiền công trước quần chúng (hay nơi đông người).

Đây chính là lý do mà những hành giả thiền tức quán (bất luận ở tuổi tác nào), khi đối diện với khổ thân (đau nhức vì lão thể), thường tìm chỗ vắng vẻ để hít thở, hay tản bộ kinh hành, hơn là nhờ người thân chăm sóc về mặt thể xác. Ngoại trừ những trường hợp khẩn cấp do thẩm quyền y sĩ đề nghị !

Từ khi chúng tôi được thọ giáo thiền học niệm hơi thở với chư thầy tổ tại VN (qua hai Hoà Thượng Hộ Tông và Giới Nghiêm), trong thời thanh niên, thì thú thật chúng tôi đã dễ duôi, ỷ mình còn khỏe mạnh. Nhưng khi may mắn được làm du học sinh Phật Pháp một thời gian dài trên đất Phật, nhờ thiện duyên tham khảo với các cao tăng thiền sĩ, trong khoảng 1968-1970, chúng tôi đã ý thức được sự cao quí, vô song  của pháp thiền nầy, và tiếc rẻ thời niên thiếu không tinh tấn sống tịnh. Từ đó, chúng tôi đã chỉ đeo đuổi duy nhất đề mục thiền hơi thở.

Trần tình như thế hy vọng tạm đủ. Nếu có gì sơ sót ngưỡng mong được lượng thứ.

Quay lại chủ đề Thiền Hơi Thở. Sau đây là những thiền ngữ, được đề nghị để làm phương tiện thực tập, chúng tôi xin cống hiến đến quí vị. Có hai trường hợp dùng thiền ngữ là :

1/Trường hợp thứ nhất (đơn giản hơn cho người bắt đầu), gọi là “thở tỉnh thức”, dùng thiền ngữ và hướng dẫn như sau : Bắt đầu hơi thở vô thì niệmToàn thân hít”, và bắt đầu hơi thở ra thì niệmtoàn thân thở.

Toàn thân” ở đây kiến giải rất quan trọng. Tiếng Phạn gọi là Sampajanna. «Nó» ám chỉ thân phối hợp với tâm (hay danh câu hữu với sắc), và «hít» ở đây là pháp hành trong tư thế “biết mình đang hít, và cảm giác hơi hít vào đầy, làm nở toàn thân (từ đầu đến chân), chứ không phải chỉ nở riêng có ngực và bụng”. Rồi toàn thân thở ở đây cũng vậy. «Nó» ám chỉ “khi hơi thở ra, tâm cảm biết toàn thân xẹp xuống, buông thỏng tất cả, chứ không phải chỉ có bụng và ngực xẹp lại”.

-«Buông thỏng» tức là : Chẳng những tâm không còn điều khiển thân để giữ hơi, tâm trở thành thảnh thơi, thân cũng không bị tâm câu thúc, buông thỏng toàn bộ xương cốt, gân mạch, bắp thịt, làn da. Hành giả trong khoảnh khắc nầy, có thể cảm nhận được sự thoải mái của toàn thân buông thỏng ấy, và cảm giác luôn sự «khinh cảm» của tâm vô tư «nhìn» hơi thở đi ra. Cả hai thân tâm trở thành nhẹ nhàng, «tự do», không vướng bận một «chấp» nào của tâm, hay một «hành» nào của thân cả.

Trạng thái nầy giống như khi chúng ta vì một cảm giác nào đó, chúng ta siết chặc nắm tay, nhưng tiếp theo, khi cảm giác ấy được hóa giải, chúng ta buông thả nắm tay ra, cho các ngón lơi thẳng, trở lại vị trí tự nhiên lúc trước, không bị một dư lực thân hay tâm nào ảnh hưởng hết.

2/Trường hợp thứ hai (cho người thuần thục), gọi là “thở niệm tâm xả, dùng thiền ngữ và hướng dẫn thầm rằng : Hít vào niệm chữ «tâm». Hành giả tập trung cảm giác để nhận biết hơi thở vô, rõ ràng vào toàn thân, và tiếp theo chú ý nơi «sắc tâm» (Hadayavatthu=quả tim), cảm giác biết tim đập. Rồi thở ra niệm chữ «xả». Hành giả để tâm tươi tỉnh, thư thả tiễn tất cả hơi trong ngực, bụng, hay nói chung là toàn thân ra khỏi khí quản. Nghĩa là tâm thức trong khoảnh khắc ấy, không còn câu hữu với thân trong việc vận dụng thả hơi ra.

-Cặp thiền ngữ «tâm-xả» duyên theo pháp hành, đi suốt hai chiều ra của chu kỳ hơi thở. Cảm thức của hành giả trong pháp hành nầy cần rõ rệt, không nên lẫn lộn. Vì vậy, người mới bắt đầu (hay sơ cơ), mà không kiên nhẫn, bỏ tiệm tiến, dùng ngay cặp chữ Thiền Ngữ “Tâm Xả” của trường hợp thứ hai (thuần thục), thì thoạt tiên họ cảm thấy dường như “làm được” nhưng về lâu về dài, chắc chắn sẽ gặp trở ngại.

Đối với người mới hành, chúng tôi đề nghị nên bắt đầu bằng hướng dẫn và dùng «thiền ngữ» ở trường hợp thứ nhất !

Cần nhấn mạnh thêm rằng : Thiền ngữ ở đây chỉ là trợ duyên cho pháp hành, chứ thiền ngữ không thể thay thế pháp hành. Do đó, không nên «tụng» thiền ngữ cho nhập tâm, rồi tưởng là mình «hành thiền». -Mà một cách khác, khi hành thiền là «chú tâm» trên hơi thở, chứ không «chú tâm» trên thiền ngữ. Còn «vai trò» thiền ngữ chỉ là để nhắc tâm làm việc đó mà thôi. Nếu tâm chỉ «cột chặt» vào thiền ngữ, mà không duyên theo hơi thờ, thì hành giả sẽ thất bại, có khi còn bị vọng loạn nữa.

Trên đây chỉ là sự trình bày đơn giản, kinh nghiệm khiêm nhượng cá nhân, quí vị nào đã quen dùng đề mục khác, nhận thấy đề nghị của chúng tôi không thích hợp, thì đừng áp dụng, và cũng đừng so sánh, hay thắc mắc. Mục đích của chúng tôi, không phải là phổ biến phương pháp hành thiền của mình, mà là khuyến khích chư đạo hữu, cùng nhau thực hành Như Lai Thiền Pháp, mà Thiền Tức Quán được xem là pháp nòng cốt của Phật Tổ Thích Ca Mâu Ni.

Gọi là «kinh nghiệm cá nhân», vì nó vốn hạn chế, và ước định, không thể thoát ra ngoài lãnh vực tương đối, hay lý thuyết mà thôi. Lý thuyết thì khó diễn tả đúng giá trị thực hành. Còn «thiền pháp chân thực» thì không thể giản dị, xuông pha nói ra được, vì thật ý trong đó rất dễ bị hiểu lầm ! Chỉ khi nào thuận duyên, hành giả có sự cùng thực hành,thân cận giữa người đi sau với người đi trước, một cách thanh tịnh, thì «chứng nghiệm chân thực» mới có thể «chia xẻ» cho nhau được.

 Vì hơi thở luôn luôn nằm trong nhịp sống từng giây đang diễn ra, nên pháp thiền nầy cũng gọi là «thiền định» trong hơi thở hiện tại. Nhưng cái linh diệu của nó, là khi thuần thục, nó sẽ trở thành minh sát (hay “thông kiến”=Vipassanà), tức «nó» giúp hành giả thấy rõ các biến hành thể xác (nhịp sống tế bào) trong thân, cùng biết rõ các biến hành thọ cảm trong tâm, nên tiếp theo, «nó» (tâm định trong hơi thở) tự có khả năng chiếu soi tận cùng nữa. Nghĩa là thiền giả ở kết quả đó, sẽ biết rõ mọi cảm và thọ trong thân và tâm, ngay giây phút hiện tại.

 Từ đó hành giả thường xuyên chứng thực các biến dịch của sự sống, theo từng hơi thở, từng sát-na, nhất là chứng đắc pháp sinh diệt (vô thường) của những tế bào trong thân thể, một cách trực nhận, chứ không phải ý thức qua sách vở, lý thuyết.

Chứng đắc pháp vô thường rốt ráo, nơi bản thân mình rồi, thì tâm linh sẽ không còn bám víu vào cảm thức của nhục thân mình nữa, và nhất là không chạy theo nội hay ngoại vật, rồi chấp thọ giác, gọi là ta, là của ta nữa. «Tâm linh» hành giả nhờ đó sẽ định tỉnh, chánh niệm, trực xả, vô biên thảnh thơi, thiền ngữ gọi phẩm cách nầy là “Hiện Tại Lạc Trú”. Như kiến giải kinh đã nói «Đắc được pháp sinh diệt nội thân tức là thấy đạo giải thoát, thông hết vạn pháp».

Và để giúp gợi ý thiền pháp, “hòa hợp” thân và tâm vào nhịp sống thể xác lẫn tinh thần, bằng hơi thở, chúng tôi xin đề nghị quí vị, dùng hai bài quán niệm trợ duyên, theo ngôn ngữ chế định, sau đây :

-Bài thứ nhất trước khi hành thiền, và

-Bài thứ hai sau khi xả thiền

Bài thứ nhất


Quán Niệm Về Tứ Đại Tâm Thiền

(Tứ Đại ám chỉ đất, nước, lửa, và khí [hay gió])

(Còn Tâm Thiền gồm cả ba thời : quá khứ, hiện tại, và vị lai)

 

Sắc thân và tâm nầy,
Bây giờ và ở đây.
Quá khứ hòa thực tại,
Cùng tương lai hiện bày…
***
Hít vào, ba thời đến,
Thở ra, ba thời đi.
Cuốn trôi theo dòng mệnh,
Luân, hồi… chẳng khác chi ?
***
Đất vừa là xương thịt,
Đất cũng là vật ngoài.
Đất muôn ngàn hình tích,
Cứng mềm, cảm xúc thôi.
***
Còn cảm xúc, có đất,
Hết cảm xúc, đất tan.
Xúc nhận ra thể vật,
Và đồng nghĩa không gian.
***
Nước hiện ra sông biển,
Nước cùng khắp ta bà.
Nước thành khí là biến,
Khí đọng, khói sương sa.
***
Mây mưa là dấu nước,
Sông biển ấy dạng hình.
Nước vừa khô vừa ướt,
Trượt lên các sắc tinh.
***
Lửa gồm cả nóng lạnh,
Nóng do lửa đã đành.
Lạnh cũng là lửa tánh,
Lửa biến, sắc tịnh sinh.
***
Ngọn đèn, lửa xuất hiện,
Bóng tối, lửa ẩn mình.
Tìm đâu nguồn hỏa tuyến ?
Gốc từ chỗ vô minh !
***
Gió chính là không khí.
Tĩnh hay động vô chừng.
Động, duyên hành vô tỷ.
Tĩnh, luân nghiệp cáo chung.
***
Hơi thở là khí dịch,
Như mọi vật hợp tan.
Thở vào, thân kích thích,
Thở ra, thân suy tàn.
***
Tứ đại vốn không sinh,
Tứ đại vốn không diệt.
Cả bốn hằng lung linh.
Bất khả tư nghì, thuyết.
***
Tâm ngừng vương danh sắc,
Tâm đoạn trừ ngã si.
   Tâm thoát ly sáu mặt[1],
Tâm tự tại tức thì.
***
Không chấp vào sống chết,
Chẳng vướng trong nhị biên.
Có và không chứng thiệt,
Qua “Tứ Đại Tâm Thiền”.

 

T.L.

                  Paris, một ngày được soi sáng, năm 2005                          

Bài thứ hai:

     Quán niệm về Pháp Luân Lưu Vô Ngại

Lá rụng, nước mây bay

(Tất cả là hiện tại)


Trong chiếc lá vàng rơi,
Cũng có lời Phật dạy,
Rằng “lá và nước trôi,
đôi bên chẳng khác vậy.
***
Lá úa rơi nhẹ nhàng,
Nước trôi êm, thoải mái.
Lá nương gió thoảng ngang,
Nước xuôi nguồn chảy mãi.
***
Lá mọc cành thêm tươi,
Cành không mừng phiền toái.
Lá rụng, cành “mỉm cười”,
Chẳng âm thầm ái ngại.
***
Giọt mưa rơi trên lá,
Lá thêm xanh sắc màu.
Giọt nào rơi đất hạ.
Lá nhận giọt mưa sau.
***
Nước cùng lá không hẹn,
Là sẽ lại gặp nhau.
Nhưng trên đường ra biển,
Nước chở những lá nâu.
***
Thân lá rữa thành đất.
Nước khô, biến thành mây,
Rồi tưới lên vạn vật….
Lá, nước lại “sum vầy”.
***
Kim đồng hồ đi tới.
Giây, phút, rồi …đến…giờ.
Sáng, trưa, chiều, và … tối.
Hiện tại, hiện tại thôi !
***
Cây có thân để gãy.
Cành có lá để rơi.
Nước có dòng để chảy.
Mây có gió để trôi.
***
Lá mọc trong hiện tại,
Xanh um và nhất thời.
Rồi lá úa…, không ngại !
Lá, cành luôn thảnh thơi.
***
Nước nào tánh cũng mát,
Nước nào cũng thành hơi.
Dạng nào nước cũng sạch,
Mát và sạch muôn đời.
***
Ngàn năm lá vẫn rụng.
Ngàn năm mây vẫn trôi.
Vạn vật không lủng củng.
Qua chu kỳ luân hồi.
***
Người học Phật biết lá,
Nằm trong đất, trong cây.
Biết luôn cả nước đã,
Nằm trong đám mây bay.
***
Thấy sao thì biết vậy.
Đừng chấp nhất lôi thôi.
Lá rụng, nước luôn chảy.
Trước, sau… chỉ hiện thời.
***
Tất cả là thực tại.
Tất cả là mọi nơi.
Xa hay gần vô ngại.
Tuệ giác nở đây rồi.

T.L

Ivry/Seine, một ngày được soi sáng, năm 2006

 


[1] Sáu mặt : Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân và ý  thức.

Những ý thiền hóa thành thơ P10                        Những ý thiền hóa thành thơ P12