Chúc TẾT Bính Ngọ

Nhân Tết Bính Ngọ

Website «tuelac. Com»

Thân chúc toàn thể độc giả bốn phương

Suốt năm 2026 nhiều bình an !

_____ Cư Sĩ Tuệ Lạc _____

Loạt bài từ sách mới viết.

«MINH TRIẾT trong ĐẠO PHẬT»

(Bodhivijjā Ñāyasattha)

————

Soạn giả : TUỆ LẠC (Nguyễn Điều)

(Toàn bản thảo kết thúc tại Paris, cuối năm 2025)

______________________________

Dẫn nhập.

<>LÝ DO làm cho tập biên soạn này (ayaṃ pakaraṇo) được khiêm nhượng mệnh danh là «Minh Triết Trong Đạo Phật» (Bodhivijjā-ñāyasattha = Lokuttara-maggo) thay vì gọi là «Minh Triết Trong Phật Giáo» (Buddhasāsanassa Vijjāvibhajaṇo) ! -Ấy là bởi soạn giả muốn chân thành đề cao SỰ THỰC HÀNH và khách quan TRẢI NGHIỆM (=> ĐẠO), mà không vướng mắc hay chú trọng đến «tính sắc bén lẫn thâm thúy» của «lý thuyết» (gambhīra bhāsitaṃ), dù nó “sâu xa” đến đâu…mà để xem thường «hiệu lực áp dụng» (āyācanā aggha) !

-Lầm lạc nhất, là cho rằng “có tư tưởng cao siêu thoát tục trong kiến thức là đủ”. (-Đây rõ ràng là một dạng ngụy biện !). -Rồi người “nhiều ý thức triết học” (thuộc về thế tục), thường xem “PHẠM HẠNH” (Brahmacariya) chỉ là phẩm cách tất nhiên “tàng ẩn” trong “tâm khảm” (ālaya-viññāna) của các người “có học hỏi nhiều” (?), -kiểu chủ quan “dựng lên khái niệm” rằng, phẩm tính viên hạnh (hay “tiềm năng siêu thoát”) thì “ai hướng thượng cũng có” (?!). -Nghĩa là «đức độ thánh thiện» của một «trí thức triết gia” trước sau gì cũng «bộc lộ»…chỉ chờ hội đủ “cơ duyên” mà thôi !(?).

*Và tệ nhất là những kẻ chủ quan ấy, vốn không “thông thấu nổi” tư chất thanh tịnh của “Bậc Phạm Hạnh” (Brahamacariya puggala). -Và hai chữ “Phạm Hạnh” ở đây ám chỉ “nội dung” của mẫu người nhiều khi có “bề mặt” rất “bình thường” (giản dị), chỉ sống với “thực tại”, tinh tấn làm sao cho hành động của thân tâm luôn luôn gắn liền với trong lẫn ngoài thiền pháp, -ngược hẳn chuyện các “luận sư” (=”triết gia”), nặng về “học vị”, “danh dự”, “áo mũ”, cùng thứ bậc xã hội, thường xuyên căn cứ vào “bằng cấp”, hay “uy tín” thế gian…luôn vô thường, và đầy ảo giác (!). -Nói rõ ra, đó là “bẩm tính phàm phu”, vốn thích phóng đại hình thức để “tự kỷ ám thị”, giúp bản thân hảnh diện…cho rằng «khoa bảng” có “tư duy thoát tục”, thì thuộc hạngthượng căn», “thượng trí”, tương đương với “sự đắc pháp” của “thánh nhân”, giống như thường thấy “mô tả” trong kinh sách !(?)

<>Đã đến lúc «CHÂN NỘI DUNG» (adhippāya-bhūta) của 2 danh từ «Phật Giáo» (Buddhasāsano) và «Đạo Phật» (Budhha-maggo) cần được vô ngại giải rõ (paridīpeti) để soi sáng (joti), rồi hiểu đúng (upādāti)…-nhất là phải “minh bạch hóa” thực chất của khái niệm, qua 2 câu hỏi khách quan, thẳng thắn, là 1/«đã áp dụng triết pháp qua hành động, thuần thục cụ thể chưa” ?(!), và 2/“đã có hiệu quả thanh tịnh, giải khổ thực trạng thân tâm chưa” ?(!). -Vì ấy mới chính là «năng lực thăng hoa (=giác ngộ), đưa tới cứu cánh thực tiễn của Đạo Phật» ! *Lời đáp cho 2 câu hỏi đó thuộc về “duyên hệ phạm hạnh” (paṭṭhāna) rằng, “khi công phu giới đức viên tròn” mỗi hành giả tự biểu lộ một phong thái “AN NHIÊN” (rūpaṃ passaddhi, santati), “TOÀN XẢ” (sabb’upekkhā), và “SIÊU THOÁT” (lokuttara), -chứ không thể căn cứ trên một số bình phẩm, giảng giải triết học nào cả !

<>Các nhà ĐẠI HIỀN NHÂN (=Ẩn Sĩ) và “KHOA HỌC TÂM LINH” (thanh tịnh) xưa nay, vẫn gọi đó là “tiến hóa đơn vị” (tức trước tiên phải xây dựng “đạo đức bản thân”!), giống như các tiến trình thí nghiệm của những qui nạp, từ công thức, định lý, và hệ luận được thể hiện, trong khoa học lý hóa vậy ! -Nếu không, thì cái “danh từ Phật giáo” vốn cũng chế định ấy…sẽ trở thành những mảnh “xa-cừ lấp lánh”, đã “bị” khảm vào gỗ, hay giống như những “hạt lân tinh màu vàng”, được rắc lên bề mặt của một vật tiêu biểu nào đó, để chỉ nhìn cho đẹp mắt nhân gian mà thôi !!!

-Thực ra, 2 chữ “PHẬT GIÁO” (Buddhassa sāsana) xưa nay vẫn ám chỉ toàn thể “lời Phật dạy” hoặc những “chân lý” mà Bậc Toàn Giác đã nêu ra. -Tất cả vẫn xem như 1 luận cứ giá trị (hay cơ sở lý thuyết), để đời sau có “tài liệu tham khảo”, khó tránh khỏi ngẫu nhiên làm cái việc «tô điểm một cách văn chương» cho ngôn ngữ đời sống…luôn luôn cần đến “lời lẽ thánh thiện”, nhằm khuyên nhủ, hướng dẫn, xoa dịu, hay “an ủi tinh thần con người…khi chịu đựng quá nhiều khổ vui” ! -Nhưng “Phật ngôn” dù “nội dung siêu đẳng” đến đâu, mà không áp dụng (chưa thực hành đầy đủ), thì “vẫn là lý thuyết” (sāsana=théorie). “NÓ” chỉ đóng vai “bông hoa trang trí”, trong tiến trình suy gẫm (=tư duy) cho một số người, gọi là “có học vấn cao”, giữa sinh hoạt “văn hóa giáo dục thế gian” (đầy phàm tục), chứ KHÔNG THỂ là là “hiện thân” của TIẾN HÓA do thực hành thiện pháp. -Nhất là nó ngược hẳn với phẩm cách thăng hoa, sau khi hành giả đã đạt thanh tịnh, tự trải nghiệm hiệu lực thoát khổ…qua thân và tâm nơi chính mình !

<>Khách quan mà nói, nghiên cứu lý thuyết (qua Phật học) thì KHÔNG phải là đang áp dụng hay chẳng phải là thực sự tu thân, sống đạo mỗi ngày ! -Chưa kể sự áp dụng các pháp cao thượng còn đòi hỏi nhiều hoàn cảnh thuận lợi…nội tâm cũng như ngoại cảnh, mà kẻ thiếu duyên lành, khó có dũng tâm thực hiện một cách tích cực được. -Huống chi nói đến một số phần tử lười biếng, chuộng việc dễ mà muốn gặt hái kết quả cao, rồi khéo léo viện dẫn các “triết lý tiên ông”, rằng “hãy sống theo lẽ tự nhiên” (?!), cực lực bác bỏ công phu thực tiễn, để che dấu bản chất vừa tham lam vừa thụ động, thì ấy chẳng khác nào dắt nhau đi vào “lưới nhu nhược của ma vương” (=vô thần), cố ý chủ trương lý thuyết đui mù “không gieo trồng mà vẫn gặt hái”, phủ nhận vận hành nhân quả…vốn muôn đời ! 

<>Theo Vi Diệu Pháp (abhidhamma) trong nhà Phật, “nghiên cứu triết lý” (tattañāna-sikkhāpada) cũng là «một tập khí» (khandha) do các “bộ óc tò mò”, hay “khao khát hiểu biết vụ lợi”, là một dạng dục vọng (taṅhā), thường có vẻ “tích cực”, tương đương với tính tham tìm kiếm kiến thức (rāga-diṭṭhi=nāma-lobha), thích thu thập càng nhiều “tư tưởng mới” (nava saṅkappa) càng hay, để gọi là “bồi bổ tinh thần” (?), của những người có «trí khôn đặc biệt».

*Phật học gọi hạng người nầy là “bẩm sinh vượt trội”, -là kẻ “mang tâm quả sáng” (sundara vipāka-citta), nhưng vốn giới hạn, và chỉ trổ ra một cách duy tác (kiriya)…từ “ý lành” kiếp trước. -Và đó chính là cái “phẩm cách tinh thần”, tuy biểu lộ “xuất sắc” mà vô hiệu năng, và hoàn toàn nằm dưới ảnh hưởng của tham sân si…trong sự sống hiện tại ! -Rồi “tính thâm thúy, tinh vi” của nó lại “đánh lừa” quần chúng, khiến cho giới học thức phàm phu, tưởng lầm “đó là căn cơ thánh thiện” (?), liền chủ quan tấn phong “Triết gia”, và lấy “triết thuyết” của họ, làm “ánh sáng soi đường”, để về sau mệnh danh mọi vận hành tư duy thuộc cái “tâm quả đặc biệt” ấy là “khả năng hình nhi thượng” một cách cầu kỳ lẫn hàn lâm ! -Nghĩa là họ xem “vận hành tư tưởng” (=triết học phàm trần) kia là “pháp ấn siêu thoát”. (!?)

*Và nhờ Vi Diệu Pháp nhà Phật, chúng ta cũng được biết, “tập khí” trong con người (khandha=aggrigates) chính là sự tồn đọng của những hỗn hợp thói quen (tốt lẫn xấu), không chỉ từ hiện tại (=sống có cái biết), mà còn từ quá khứ, tức “vô thức” của nhiều kiếp xa xưa lưu lại. -Nó vốn là “vật liệu nền tảng”, làm mầm móng cho tất cả hành vi cử chỉ (sabba paccuppanna-kammā) thanh lịch cũng như thô lỗ…của chúng sanh, nhất là con người, suốt mỗi kiếp sống nối tiếp…!

-Và dù cho nhân gian có trân trọng cái “túi khôn bẩm sinh” ấy, mệnh danh một cách đề cao là «triết học»…thì nó vẫn không tránh khỏi giai đoạn tạm “đặt ra một số giả thuyết”, xem như “giải pháp tư tưởng”, nhằm làm nhẹ sự bức xúc của bộ óc mà thôi ! -Lý do làm như thế là vì người ta quen dựa trên tính tra cứu, chia chẻ, và “phán đoán” (vốn phàm phu), từ thế hệ nầy qua thế hệ khác trước mọi vấn đề…kể cả “lãnh vực tâm linh”, đặc biệt là để “tạm tháo gỡ” (?) những rắc rối, khi «trí bẩm sinh» của con người, đối diện với một số bế tắc…!

<>Từ đó suy ra, «TRIẾT HỌC» trước tiên là «phương cách qui ước” trước các vấn đề “hiểu biết”, phát sinh bởi ngu dốt (avijjā=vô minh). Và “triết học” tất nhiên CHỈ LÀ nhu cầu thuần túy tư tưởng». Nó không thể đem ra thực hiện ! -Lý do ?! -Vì “sống theo triết lý”, con người luôn luôn xem trọng “tự ngã”…cho rằng, “ta suy nghĩ sâu sắc hơn nhân quần là trí óc đang thăng hoa, -hay tâm tư ta đã ở trình độ siêu việt !”(?) -Nói cách khác, triết học có hiệu lực thiết lập, hay “bổ túc” một “hệ thống tư duy” (phán đoán kiểu hàn lâm), để làm “cơ sở lý luận”, cho những “nhân sinh quan” (=chế định), trên mọi phương diện “học thức” (phàm phu), đầy tính “càng có đẳng cấp càng tốt”, dành cho sự “xếp hạng tri kiến” (cao lẫn thấp), chấp nhận tính hoàn toàn phi cụ thể… thuộc lãnh vực thuần túy tâm linh,tu từ học gọi là “lý lẽ siêu việt”. -Do đó, “triết học” không bắt buộc phải đem ra thực hiện. -Vì nếu NÓ được “cụ thể hóa”, thì ĐỊA VỊ “hình nhi thượng học” của nó sẽ bị hạ thấp”, hay nó phải “tự biểu lộ” và hòa đồng vào “cõi tri thức phàm phu”, một cách xem như “tầm thường”, “sa đọa” ! (???)

-Trong Phật học có một từ ngữ (mô tả chủ quan) rất “báo động”, là «SỞ TRI CHƯỚNG» (madiṅdriya-duccarita), ám chỉ cái TẬT (s’ūnatta) dùng đặc tính vượt trội của “trí bẩm sinh”, nhưng thực chất chỉ là “tâm quả trong sáng (sobhana cetasika) vốn còn phàm. -Và khi nghiên cứu “Phật học” thì chúng ta biết “tâm quả đặc biệt” ấy, khi chưa thuần thục giới định tuê, vẫn có thể rơi và cái bẩy gọi là “như lý tác ý” (yoṇiso manasikāra), thiên về “chọn lựa khôn khéo”, dưới nhiều “nhãn hiệu” khác nhau, như “TÁNH KHÔNG (suññatā), hay VÔ NGÃchẳng hạn (anattā)…để NGỤY BIỆN và chủ trương phi cứu cánh (adhippāya natthi), -từ đó dễ lập nên một thói quen tiêu cực là bác bỏ công phu (anacitta), hay phủ nhận nội lực siêu độ (lokuttara pāramī),trong những Pháp Hành Thanh Tịnh (dhutaṅga cariya).

*Hạng “người sở tri chướng” nầy, tuyngôn ngữ bề ngoài thì đầy vẻ thông minh, TRI THỨC”, nhưng thâm tâm rất ngại nhọc thân”, sợ chịu khổ (=tiêu cực), luôn luôn bênh vực sự “không làm gì hết”, đồng thời đề cao triết lý tánh không, chủ trương rằng “hãy sống theo lẽ tự nhiên” (=một dạng hưởng thụ !), không cần chế phục ác pháp”, chẳng tôn trọng tính cố gắng, và thường xuyên coi thường hiệu lực quí báu của TAM ĐỘ ba-la-mật (tipāramī) nhất là “Tinh Tấn” lẫn “Thần Túc”, mà Bậc Toàn Giác đã xác chứng và luôn luôn khuyến khích !  

<>Nghiêm trọng nhất là họ cố gắng ngụy biện, để hạ thấp “MỤC TIÊU TIẾN HÓA” bằng công phu thanh lọc, và đề cao tật “cứ để như thế” (kiểu Lão tử), -viện lẽ “tất cả là vô ngã” (!), không đặt vấn đề chính mình cải thiện cả thân lẫn tâm (hay tinh tấn tu hành), nhằm tự lực thoát ly THAM SÂN SI, đạt đến toàn xả ! -Họ chẳng những đang “hài lòng” sống với VÔ MINH, mà còn gây hoang mang cho những ai gia công triệt tiêu tham sân si, vượt đọa luân hồi. -Họ trộn lẫn “ô-trược” với “thanh tịnh”, rồi lý luận rằng, “tu hành có mục đích (dù cho thoát tục) vẫn là vướng mắc” (?!). Đồng thời họ cũng vừa nhìn nhận “mang thân người là KHỔ”, vừa tin rằng, “tấm thân thăng đọa đầy tham sân si nầy là ẢO, -nghĩa là “khổ chỉ là ảo thôi”, nên chẳng có gì “nguy hiểm” để thoát ly cả”. -Xem ra, bản tính họ vẫn là “mâu thuẫn xoay vòng”, vĩnh viễn !

-Nói cách khác, “SỞ TRI CHƯỚNG” (uddhumāyana) chính là “bệnh triệt tấn”, hay “tật dung dưỡng ác tính” (akusala adhivāsana) ngăn chận con đường tiến hóa giải khổ, -một dạng “tâm lý phiêu lưu bế tắc” (vīracriyā nīvarana), có thể xem tương đương với “tư tưởng cố chấp vô hành”(đánh bóng “vô vi”!?), do một loại TÀ KIẾN (micchādiṭṭhi), gọi là “hình nhi thượng” (atiseṭṭha) của “u-mê trí giả” (avijjā sappañño). -Họ thường xuyên đem triết lý “tánh không” hay “vô ngã” ra rao giảng, để chủ trương sống với lòng tin cứng vào “VÔ TIÊU CHUẨN”, xem thái độ “thả trôi”, “bềnh bồng”, chẳng định hướng, hay “an nhiên trong cái đang là”, vàxem ấy như “chân cứu cánh” !?  

<>Một “tâm thức từ vô lượng kiếp…đã ô trược” trong một “ngũ uẩn đầy ô trược” mới có thể tái sinh hiện hữu trong môi trường nhiều ô trược”, tiêu biểu là cõi nhân loại ! -Đồng thời, tham sân si tạo ra sinh lão bệnh tử…vốn chỉ là VẬN HÀNH TỰ NHIÊN mà thôi ! -Một sinh linh đang trôi nổi trong vô số vòng luân hồi ô-trược ấy…thì làm sao có cái tâm thức bệnh hoạn đó, cứ “an nhiên trong tình trạng ĐANG LÀ, xem ấy như CỨU CÁNH, “không cần công phu cải thiện để trở thành cái gì hết”…phải chăng là “giải pháp ưu tú nhất”?! -Nhưng với “trí tuệ tích cực” (Bát-nhã) nở ra từ GIỚI và ĐỊNH, mỗi bậc phạm hạnh còn GIÁC NGỘ minh bạch rằng, dù cho “không cần trở thành cái gì cả”, thì ấy vẫn là “một mục đích” đã định, mục đích không trở thành gì hết (tức SIÊU THOÁT), chứ thực sự chẳng phải là “vô vi” hay “tánh không” như lý thuyết !

-Hơn nữa, xuyên qua CHÁNH KIẾN (Sammā-Diṭṭhi) và Chánh Tư Duy (Sammā-aṅkappo), bậc phạm hạnh còn xác nhận rõ ràng : “chỉ có HOA TRÁI của giới định tuệ là TOÀN XẢ, mới đủ năng lực giải khổ và thoát ly, không trở thành cái khung vướng mắc”. Trái lại, khi đã nhiễm tật “phá tiêu chuẩn” (vô mục đích), cực đoan cố chấp vào “không cần gia công thanh lọc thân tâm”, cứ “an nhiên trong tình trạng đang là” sẽ biến thành “thánh thiện” thì…chắc chắn bế tắc !

*Hãy bình tâm suy xét vấn đề “nếu an nhiên trong tình trạng ĐANG LÀ” mà đạt “cứu cánh” thì tam giới chúng sanhđã cực lạc rất lâu”, -từ khi CHƯA CÓ “ý thức tiến hóa”! -Sự cải thiện đời sống (như văn minh ngày nay) phải trở thành vô dụng ! -Và “ÂN ĐỨC CỨU KHỔ” do hóa giải tham sân si, mà chư “Phật” (Buddha) lẫn chư “bồ-tát” (Bodhisatvā) lưu lại…đều không thể “được cảm nhận”, bởi TRI THỨC con người hướng thượng ! -Xin đừng hiểu lầm “Bồ-tát là bậc chẳng cần tu tập bản thân, lẫn không mục đích phục vụ chúng sanh, để “viên tròn” ba-la-mật…gọi là “pháp độ” !

<>Hơn nữa, «MINH TRIẾT» trong nhà Phật (Bodhivijā-Ñāyasattha), vẫn soi sáng mọi phương diện (sabba-vesa-dhammā). -Ấy là “ân huệ” (guṇa) của “Bát-nhã” (Prajña), qui nạp thành một “PHƯƠNG PHÁP THỰC HÀNH” (Ariya magga). “Minh Triết” giúp áp dụng học tập chân chánh, thanh lọc thân tâm, có thứ tự tiến hóa, để cải thiện vững chắc đời sống con người (nói tiêng), và xã hội, chúng sanh (nói chung) hiện tại và tương lai, luôn luôn qua hiệu lực của GIỚI ĐỊNHTUỆ (Sīla-Samādhi-Paññā).

<>“Đặc tính” (lakkhaṇa) của MINH TRIẾT là phải khả thi (sādhiya, sukara), -tức hằng đưa đến thực hiện thành công…chứng thật bằng cảm thọ bình an (appanā vedanā), THÔ (olārika) cũng như TẾ (sukhuma), trong mỗi hành giả…nơi THÂN(vật dẫn điện) cũng như nơi TÂM (dòng năng lượng)…một cách có lịch trình khoa học, xuyên qua NĂM UẨN (pañca khandhā), -được lành mạnh hóa trong THỰC TẠI SỐNG, đầy “tinh thần cởi mở”, từ gần đến xa…-bắt đầu trước tiên là từng cá nhân, rồi đến cộng đồng, với môi trường xung quanh…-thấm nhuần «tri hành hợp nhất», hướng đến TIẾN HÓA (Abhivuddhi), vượt khổ (dukkha vimutti) !

<>Mặt khác, chữ «ĐẠO» (magga) trong danh từ “ĐẠO PHẬT” (Buddhasāsana-magga), theo nghĩa đen tự điển (Hán-Việt) là «con đường», nhưng một khoảng cách trên mặt đất, có chiều dài nối liền 2 địa phương A và B…mà chẳng được ai đi trên đó hết, thì cũng không gọi là «đạo» ! -Và chính căn cứ vào sự đạt đến tiến bộ cụ thể (saṃhata phala) do đã xử dụng con đường ấy, hay đã trải nghiệm hiệu quả…di chuyển đến đích một cách an toàn, lành mạnh (kusala vipāka), mà «MINH TRIẾT» mới xác nhận…đó là «ĐẠO» (magga). Nói cách khác, ấy là cái phương án siêu thoát «sống đúng pháp nhận diện sự thật» (dhammena=justifier), hay tiến bước trên lộ trình thăng hoa…thay đổi vị trí thực tại với tâm thức trong sáng (=giác ngộ) !

<>Nếu hiệu lực (phala) của “Phật giáo” (Buddha-sāsana) không phải như vậy, thì…đó chỉ là triết lý suông (philosophie théorique), hàm chứa nội dung viễn vông, –vô phẩm cách chân thật (bhūta bhāvanā natthi). -Mà cũng với một cách khác, 2 chữ «ĐẠO PHẬT» (Buddha-magga) ở đây…tất nhiên phải ám chỉ cái “lộ trình hữu dụng” (sopakāra-magga), khả thi (bhāve-tabbaṃ), và chắc chắn đưa đến CỨU CÁNH (nibbana=dứt luân hồi), hay kết quả thăng hoa, giải khổ (kilesa vimutti vipāka), bằng công phu và trải nghiệm cụ thể, qua tinh thần cũng như thể xác. -Đó hiển nhiên là sự thực hành giáo phápcủa BẬC đã hoàn toàn giác ngộ, đạt thân tâm thanh tịnh (=Phật).

 <>Nếu qui nạp để “xác nhận”, thì “ĐẠO PHẬT là sống thực hành lời Phật dạy”,hay «áp dụng đầy đủ pháp tiến hóa». *Tức là trong Phạm Hạnh (Brahlacariya), một chân hành giả luôn luôn đặt nhẹ “giá trị lý thuyết”, và càng sống đạo thì họ càng KHÔNG đề cao sự rao giảng giáo pháp (hay khẩu giáo), là «công phu cứu độ» !

-Hơn nữa, HÀNH ĐỘNG LÀNH (hay thân giáo) cũng là «một ngôn ngữ vô âm thanh, chẳng văn tự», tỏa ra từ ĐỨC HẠNH (brahma-cariya). -Nhưng NÓ vẫn có thể truyền bá phẩm cách tiến hóa đến mọi người xung quanh, nhân loại chúng sanh…rất hữu hiệu. -Và đó cũng chính là hiện thân của MINH TRIẾT, -hay tri hành hợp nhấtđể luôn luôn chứng minh chân lý…đúng theo kết quả thực nghiệm !

<>Hai chữ «Minh Triết» (Bodhivijjā ñāyasatha = vibhajaṇa) trong tập sách nầy,đã được chúng tôi trân trọng cân nhắc, để mạo muội đặt tên cho soạn phẩm khiêm nhượng, vì ngoài NÓ ra, chúng tôi chưa tìm thấy một danh từ (chế định) nào khác, xứng đáng hơn…chuyên chở được «nội dung» (adhippāya, gamyattha) của «Đạo Phật Nguyên Chất» (Ariya mokkha magga), tránh tối đa sự “đa nghĩa”, “mập mờ”, “lừa gạt” của ngôn từ chế định…trong quan niệm phàm phu !!! -Xin nói rõ là “tránh tối đa”, chứ không thể “tránh hoàn toàn” được !

<>Trái lại, “Triết học thế gian” gian (tattañāna, ñānasattha) thì khác. Khi nói đến «triết học» là nói đến lãnh vực “phân tích để tô điểm kiến thức” một cách củng cố chủ quan (vibhajaṇena vivadana), nhằm tháo gỡ nhất thời “những lủng củng tư duy” (saṅkappāsava), hay “chỉ để đánh giá theo tiêu chuẩn,của các suy nghĩ thuộc 1 thời đại mà thôi” (saññākhandha). -“NÓ” xem ra “khá hợp lý” và tương đương với “sở tri chướng” hay “tật trí thức” (paṇdit’āsava), và là nguồn gốc của ngã sở (attano), -mầm móng chính phát sinh và nuôi dưỡngngạo mạn (māna), -nhất là trong một trường phái cực đoan đề cao học đẳng, cần đến “văn chương triết lý” để có đặc tính “siêu việt hóa” tư tưởng con người.

<>Sự “đề cao” ấy dần dần không tránh khỏi biến thành “tập khí” (khandha) hay thói quen, phản ảnh cố tật tinh vi của vị kỷ ! -Tức là cái “Triết học” luôn luôn nhuộm màu chủ quan”ấy, phảitất nhiên” được “tấn phong” là “hình nhi thượng”. Và khi “đối chiếu” với “Đạo Phật” (kể cả khoa học lý hóa), thì “NÓ” sẽ trở thành một “học thuyết” bất khả thi, đồng thời «rất khó áp dụng» !  

<>Ngoài ra, «Văn chương» của «triết học phàm phu» cũng để ám chỉ lời lẽ cao kỳ, thuần túy tư tưởng (paripuṇṇa cetanā bhāsita), hay “vận hành đa chiều vốn mâu thuẫn” trong tư duy hữu tình (puthujjana-saṅkappa-kamma), -hoặc «phân tích để mà phân tích», theo một kiểu ngôn ngữ càng «hàn lâm, cầu kỳ, cao siêu, bóng bẩy, đầy tu từ học» thì càng tốt ! -Trường hợp nếu 2 chữ “triết lý”, ngẫu nhiên “đi đôi” với danh xưng “phật giáo”, thành ra “Triết lý Phật giáo”, mà trên thực tế vẫn chưa được áp dụng một cách vô tư cải thiện, lợi lạc, toàn xả, TIẾN HÓA (abhivuddhi)…thì “nó” sẽ biến thành môn học phiến diện phiêu lưu, -tương đương với «một lý thuyết» trống rỗng (suññavāda), không hơn không kém…!

<>Và từ đó về sau “Triết lý Phật giáo” dễ trở thành nền tảng của hí luận, dành cho nhũng kẻ say mê các từ ngữ «tánh không»(suññatā), “vô ngã” (anatta), hay “sống như đang là…”đầy «tưởng tượng» (saṅkappaja), –tiêu biểu cho một loại lậu hoặc (āsava) «phản Đạo Phật» (anta-bodhi) ! -Đây cũng là LÝ DO mà các «triết gia», dù hùng biện, nổi danh đến đâu, trong lịch sử cổ kim nhân loại…vẫn CHƯA tất nhiên trở thành Phật !  

*Và xuyên qua cái công trình thanh lọc siêu thế (vốn không liên quan gì đến triết học của hạng phàm phu), mà một Bậc Toàn Giác (sammāsambuddha), hay Nhân vật cực hiếm (gọi là “PHẬT”) tuy sinh ra một cách lý hóa, BÌNH THƯỜNG như bao nhiêu người khác (không khuyết tật), nhưng nhờ công phu cực kỳ thanh tịnh, viên tròn công hạnh BA-LA-MẬT (=giải độ), thoát ly tham sân si (pamokkha paramattha pāramī), tự tại buông bỏ (upekkhā santati)…mà các Ngài đã có thể đạt được phẩm cách tinh khiết thân tâm (visuddhi nāmarūpa), sống tích cực trong vô lượng hỷ xả (brahma-vihāra-upekkhā), đồng thời tuyệt đối phá chấp (sabbupadāna vimutti) một cách an nhiên, tự tại (passaddhi santati)!

<>Tưởng cũng nên “nhấn mạnh” rằng, chữ “PHẬT” (Buddha) cần được hiểu một cách Minh triết (Bodhivijjā Ñāyasattha), là “Bậc Hoàn Toàn Giác Ngộ” (Sammā-Sambuddha) xuất hiện thanh thiên bạch nhật giữa nhân loại, chứ không phải là “một nhân vật bí hiểm” bị đóng khung trong lịch sử tín ngưỡng, rằng, –ấy chỉ là vị “giáo chủ” xuất thân từ nước Ân-độ, và “thấm nhuần” văn hóa Bà-la-môn giáo “đầy phân chia giai cấp” (khepa = cast), tiếp tục phản ảnh môt nếp sống tinh thần lẫn vật chất, trái nghịch với pháp giải thoát ! -“Phật” ví như ánh sáng bao trùm mặt đất, dù bị định danh ở đâu, nhưng nó vẫn là “nhất thể” !

<>Không có một “nhà khoa học” nào, chỉ thuộc lòng những “công thức”, “định lý”, hay “hệ luận…rồi mang ra diễn thuyết…mà tự nhiên xuất hiện những sản phẩm tuyệt vời, vô cùng hữu dụng cho nhân loại, -Trái lại chỉ có những bộ óc an tĩnh phi thường, cần mẫn ỨNG DỤNG các hiểu biết do thông suốt LÝ HÓA, và bền bỉ thực hiện qua thí nghiệm nhiều lần, trước khi công bố kết quả !

*Đây là ĐIỂM CHUNG (tạm gọi là tri hành hợp nhất) của Đạo Phật và khoa học hiện đại ! -Và ai cũng biết rằng, “mỗi phát minh ra sản phẩm mới, đều đến (hay bắt nguồn) từ một số qui nạp cụ thể (hiện vật), dựa trên các sáng kiếnáp dụng cũ (được “hoàn thiện hơn”), chứ không phải do lý thuyết. -Ấy phải gọi là “TÂN TIẾN HÓA” cái THẬT đã có, hay do phối hợp trải nghiệm các yếu tố đã từng thành công, mà người ta sáng chế ra PHẨM VẬT MỚI -chứ hoàn toàn không phải “nhờ vào” ngôn ngữ “triết học cao siêu” của các “luận sư trứ danh”, mà sản phẩm khoa học được ra đời !

<>Cần nói rõ như thế, vì trong nếp sống văn hóa, đã có một số người lầm lẫn…cho rằng «thuộc lòng giáo lý “của” nhà Phật, rồi trở thành «triết gia dưới mái chùa»…là có thể (hay tương đương với) «đắc đạo giác ngộ» (?!). -Chưa kể những kẻ chưa học hiểu tạm đủ «Phật ngôn», mà đã “ngây ngất triết học” (=bội thực lý thuyết), tự mình «sáng chế» những điều “cao siêu”, “hấp dẫn” hoang đường, ngầm đáp ứng TẬT cực đoan mê tín, cầu cạnh ngoại năng…của quần chúng lạc hậu thực thà…thường xuyên bị ngu dân, bởi chính quyền gian manh.

-Nghĩa là những “ngụy triết gia” ấy đang đồng lõa với độc tài, phá hoại«Đạo Giải khổ», cố ý chôn vùi gia sản tinh thần của nhân loại. Họ chính là những phần tử «chùm gửi» (rất nguy hiểm), đã lạm dụng tăng tướng, để cạo đầu, mặc áo nhà tu…dùng nhiều phương tiện truyền thông…giả bộ rao giảng “lý thuyết tâm linh», đầy kinh doanh tín ngưỡng, và bắt tay với đảng đoàn tôn thờ “chủ nghĩa vô thần”, đầy âm mưu toàn trị…nhằm đẩy văn hóa nhân loại vào tình trạng thấp hèn, duy lợi…và say mê hưởng thụ…chà đạp đạo đức !

<>Lại nữa, «TRIẾT LÝ trong PHẬT GIÁO», nếu được một số người «nhiệt liệt hoan nghênh» thì cũng chỉ là «bồng bột ca ngợi» một giá trị “chưa hiểu thấu” của “phàm phu trí thức” mà thôi, dù họ thuộc loại «nhiều bằng cấp» cỡ nào…về đời sống trọn lành của chư «Thánh Nhân» (hay Phật). -Nhưng trong hoàn cảnh thông tin bưng bít (hay tuyên truyền một chiều, đàn áp và xóa bỏ giới đức (=cố ý ngu dân), thì “họ” (=phàm phu trí thức) làm sao có thể tiếp cận được với “hiện thân của chân lý” qua ĐẠO HẠNH…để “thấy rõ” gương sáng thoát ly ?!

*Chung qui, hành động “hoan nghênh phật giáo” kia vẫn là tán dương một thứ “ánh sáng tưởng tượng” có thể xem là “ngọn đèn vô hình dược dựng lên giữa đêm đen”, hoàn toàn do vô minh (avijjā) ! -Đơn giản chỉ vì Phật ngôn chưa được họ hiểu đúng, và chưa được vô tư thực hành một cách đầy đủvới công phu đáo bỉ ngạn hay BA-LA-MẬT (=Paramattha-pāramī), thì làm sao sự “hoan nghênh phật giáo” của họ chính xác được ! -Và trong đầu óc trần tục của hầu hết phàm nhân ấy, “triết lý Phật giáo” ví như cái loa, được phát thanh ra rả…đọc lại từ một «mớ kinh điển» không hơn không kém…-chẳng khác nào “sự tôn vinh” của một loài mọt gỗ vô thị giác, không ngừng gặm nhấm đống sách vở lỗi thời…đã mục ! -Xem ra một người đã thuộc lòng (đến nhập tâm) tất cả giáo lý căn bản của nhà Phật mà chưa áp dụng…thì muôn đời vẫn không thể là người hiểu nổi 2 chữ «giác ngộ», chứ đừng nói là được giảm bớt bệnh hoạn tư tưởng, do “tam độc” tham sân sigây ra !

<>Mặt khác, chúng ta vẫn phải “nhìn lại” thực tế…khi đọc những «lời lẽ thoát tục» trong kinh sách nhà Phật, mà các hàng «trí thức» đã rất «tâm đắc» và tự góp nhặt. -Vì sao ?! -Vì các “lời lẽ cao siêu” ấy…vốn may ra chỉ giúp cho kẻ nào (-đã hữu duyên), chợt thấy được «TIA SÁNG» định hướng tốt…giữa một cái rừng treo nhiều ngọn đèn giáo ly màu mè…“chân giả lẫn lộn”! -Nhưng tiếp theo, nếu kẻ hữu duyên, không thực hành Phật ngôn đến nơi đến chốn, chưa thể nhập được đức hạnh thanh tịnh…đủ khả năng dũa mòn tham sân si…thì «tia sáng định hướng» ấy cũng chẳng có khả năng gì nhiều trong sự “hướng dẫn” đến chân giác ngộ ! 

-“TIA SÁNG” vừa nêu ám chỉ hiệu lực của “tiền trí tuệ” kề cận Bát-nhã=prajña). Nó tất nhiên cũng sẽ làm cho người hướng thiện biết rằng, «bờ thoát khổ tưởng chừng rất xa, nhưng với tâm vô chấp, buông bỏ nhờ TU TẬP thì rõ ràng…như ở trước mặt». -Với điều kiện là sau đó, hành giả phải quyết tâm(adiṭṭhāna)tự mình gia công tiến tới…-không mơ màng “tánh không” hay “vô ngã” chi cả (!)…để cho TIA SÁNG được “hiện thân” là định hướng lành thật sự ! -Bởi nếu gạt bỏ công phu hành thiện thì “Tia sáng Phật giáo” trở thành BẤT LỰC, không thể lôi người (lười biếng) đến nơi thoát khổ được !

<>Quay lại danh từ «MINH TRIẾT» (Bodhi-vijjā-ñāyasattha = analysis in the light), soạn giả xin thêm vài phút, để trình bày “ngữ phong” một chút. -Chữ «TRIẾT» hay «CHIẾT» (vibhaṅgabhava) hàm nghĩa «sự phân tích = chia chẻ» dựa trên cụ thể lẫn trừu tượng, và xuyên qua ánh sáng của trải nghiệm thực hành». Rồi hiệu quả do công phu thanh tịnh nầy phải là tiến hóa, thăng hoa, thông thoáng, KHÔNG bế tắc, thoát khỏi «ngục tù» của cố chấp THÔ cũng như TẾ, phát nguồn từ tham sân si (lobha dosa moha, olārikapi sukhumapi).

-Còn chữ «MINH» (vijjā) trong trường hợp nầy ám chỉ «sự đánh tan si mê», -nhất là hóa giải tận cùng bệnh say sưa lý thuyết, –dạng vướng mắc tinh vi của «trí thức phàm phu», do sở tri chướng gây ra, đang khéo léo “đeo mặt nạ hướng thiện” để chủ động, khuynh đảo !

<>Vả lại, «chân ngôn bát-nhã» (prajña bhūtabhāsanā) của Hiền Nhân Thanh Tịnh trong nhà Phật (Bodhi-Ariya Visuddhi Puggalo), cũng đã cảnh báo rằng, «triết học càng phân tích, thì lý luận càng đóng khung, ngôn ngữ càng hạn chế, thệ thống tư tưởng càng dẫn đến mâu thuẫn…tạo ra liên hoàn các vòng lẩn quẩn, vô lối thoát !». Vậy đó là “khung gì ?” -Ấy là cái khung NGÃ MẠN (māna = attaṃ upādāna), «nuông chiều» (abhiramati), dễ dàng thiên vị các vấn đề «nhân văn tinh vi» (vốn nằm trong lưới nhện tham sân si), hằng ẩn sâu trong tâm trí phàm tục, và cột chặc vào luân hồi, kể từ bẩm sinh !

-Nhưng PHẠM HẠNH (Brahmacariya) trong đạo Phật thì hoàn toàn trái ngược. -Khi đã thực hành thiện pháp đầy đủ, thì tự NÓ trở thành hiện thân của “Minh Triết” (Bodhivijjā Ñāyasattha) hay «khả năng phân biệt một cách soi sáng, khai thông». -Và MINH TRIẾT ở đây có nghĩa là năng lực chứng minh bằng kinh nghiệm tiến hóa tự lực bản thân (=giác ngộ), dựa trên ÁNH SÁNGBát-nhã (paññiṅdriya-raṃsī), -nhất là với đầy đủ chánh kiến (sammā diṭṭhi) và chánh tư duy (sammā saṅkappo), nên NÓ rất ANH MINH (vịjjā), tránh được mọi “tái lập tri kiến mờ ảo”, trở ngại, bế tắc, mờ mịt !

<>Đến đây thiết tưởng nét phân biệt (nānatta) giữa 2 danh từ có chữ TRIẾT (“Minh triết” = Bodhivijjā-Ñyasattha, và “Triết học” = Avijjā-vibhajana-tattañāna) đã khá rõ ràng, tương đối giúp chúng ta «hết lẫn lộn» giữa LUẬN LÝ (avijjā-vibhajana-tattañāna) thuộc nhân gian, và TUỆ TRI THỰC DỤNG (vijjā-vibhajana-ñāna) của ĐẠO PHẬT, với đặc tính căn bản, hùng hậu, là VÔ LẬU (=Xả=upekkhā) !

<>Trong tập nầy, chúng tôi sẽ khiêm nhượng cống hiến đến quí vị, một loạt bài phát biểu về MINH TRIẾT trong ĐẠO PHẬT, có thể gọi là «hoa trái» của phẩm cách «phân tích theo kinh nghiệm tu tập kể từ bước đầu» (không “nhảy lớp” do lòng tham), và luôn luôn được soi sáng bởi kiên nhẫn thực hành thiện pháp. -Những bài nầy có đánh số từ thấp đến cao. -Tất cả vẫn trực tiếp hay gián tiếp liên hệ với PHÁP HÀNH (patimokka saṃvarasīla bhāvanā), đồng thời mỗi phát biểu cũng ôm sát một «luận đề» đầy xây dựng, như MỘT ĐÓA HOA (hướng thiện), để sau cùng…các bài thuộc soạn phẩm của chúng ta, có thể «xâu lại» lại thành một tràng hoa phạm hạnh, hay quyển sách đóng góp và VĂN HÓA NHÂN LOẠI, được gọi là «MINH TRIẾT trong ĐẠO PHẬT» (Bodhivijjā ñāyasattha).

Trước khi chấm dứt “BÀI DẪN NHẬP” Chúng tôi xin ghi lại

Các NỘI DUNG CHÍNH, giúp trí nhớ để phân biệt như sau :

<>MINH TRIẾT (Bodhivijjā Ñāyasattha) là phân tích và vạch trần các trạng thái câu chấp (sở tri chướng), và qui nạp thành «phương án hành động cải thiện», đầy công phu hướng thượng…để áp dụng, giảm thiểu…rồi tận trừ các NHÂN ÁC (akusala hetu) trong tâm tư mỗi người còn tham sân si. -Từ đó, “Minh Triết” sẽ hiện thân là “CON ĐƯỜNG TIẾN HÓA”, -một kỹ thuật SIÊU KHOA HỌC thanh lọc thân tâm, và sáng suốt trải nghiệm diệt khổthô cũng như tế (olārikavā sukhumavā), trong đời sống, để từng bước đạt đến THANH TỊNH (abhi-visuddhi), qua xác thân lẫn tinh thần, và TOÀN XẢ (sabba-upekkhā), giải thoát phiền não (āsava vimutti), tịch tịnh hay Vô Dư Niết-bàn (Anupādisesa-Nibbāna) !

<>Còn “TRIẾT LÝ” (avijjā-vibhajana-tattañāna) chỉ là phân tích và chia chẻ sâu sắc tri kiến trong tư tưởng nhân sinh (phàm tình), để thảo luận và ấn định nguyên tắc hình nhi thượng (luôn luôn trừu tượng) vốn dành cho trí óc suy đoán (cao kỳ), nhằm thiết lập «khái niệm siêu nhiên về mọi vấn đề» ! –“Triết lý” không phải là “HÀNH ĐẠO theo Giới Định Tuệ”, -nhất là chẳng liên quan đến thiền pháp, nên không thể cảm nghiệm hay khám phá một cách cụ thể thực tại hằng thay đổi, trong vật chất (xác thân và môi trường)…đang VÔ THƯỜNG từng sát-na “tương tác nội ngoại”, với chuyển biến tinh thần, và nghịch hướng giác ngộ. -Khi dựa vào “Triết lý”, kẻ phàm phu chẳng những “không nhìn thấy” ý thức mù mờ của mình, chứ đừng nói là “nhìn nhận” rằng, ấy chính là các thay đổi nối tiếp trong mạch sống, xuyên qua 4 giai đoạn thành, trụ hoại, không (=sinh, lão, bệnh, tử), hiển nhiên như thế nào !

*Do đó, TRIẾT LÝ sẽ đưa đến SIÊU HÌNH HỌC, một môn khảo cứu, suy luận, tư duy…chỉ để đáp ứng đòi hỏi của tư kiến. Nó thuộc về tưởng uẩn (saññā-khandhā), ngăn cách thức uẩn (viññāna-khandhā) và thọ uẩn (vednā-khandhā), khó liên thông đến thể xác (vật chất) hay tinh thần (năng lượng xoay chiều) ĐANG SỐNG, -tệ nhất là “nó” viện lẽ “vạn vật phù du, hoàn khôngthì cần chi mệt nhọc trí óc cho cái kiếp cuối cùng hằng biến mất ?(!)”.

*Nói cách khác, “triết học” hằng DỄ DÀNG đưa đến qui nạp bế tắc rằng, «khi sự sống tan rã, mất dạng, chấm dứt…thì chẳng còn gì cả». “Đức hạnh trong đời nầy…rồi sẽ đi về đâu”, -chẳng thể chứng minh được ! -Tư tưởng ấy khó tránh tạo ra ấn tượng hụt hẫn, bi quan, đưa đến kết luận “hoàn toàn bất tri”, dễ rơi vào “DUY VẬT”, vô thần, «đoạn kiến» ! *Ngược lại, trong một dạng cực đoan tín ngưỡng nào đó, thì “Triết Lý” lại rơi vào tình trạng nghịch chiều…là vô cùng “DUY TÂM” (chủ trương “hồn tinh vĩnh cữu, bất biến”), sẽ “cố chấp hữu thần”, chủ trương tuyệt đối tin vào “linh thiêng tạo hóa” một cách mù quáng, phiêu lưu…vô định !

<>Nhưng để khai thông tình trạng ấy, MINH TRIẾT trong ĐẠO GIÁC NGỘ (Phật) là “DUY THẬT” (Sacca-cariya). Minh triết là một «phương án thực nghiệm», tức PHẠM HẠNH (=công phu cụ thể) do Đức Thích-ca Mâu-ni, đã vô lượng kiếp…thực hiện viên tròn, rồi cống hiến phương pháp cho thế gian, có thể áp dụng ngay trong thân tâm mỗi con người, để hóa giải vận hành khổ đau hiện tại (ám chỉ kiếp sống tâm+vật), và giảm thiểu phiền não (tinh thần), trước khi chấm dứt một vòng luân hồi (saṃsāra).

<>Và để “bổ túc” cho phần Dẫn Nhập, soạn giả xin chân thành nhắc lại giai thoại (đầy CHÂN NGHĨA) trong kinh điển…đại ý rằng “Đức Phật Thích-ca Mâu-ni suốt 45 năm trường “truyền bá con giáo pháp, tượng trưng thực tếnhư con đường cứu khổ”, Ngài đã “xác nhậnkhông thuyết một lời nào” (!). *Giai thoại nầy đã làm cho không ít tín đồ, thường đọc sách Phật học phải thắc mắc, tự hỏi “Vậy do đâu mà có Kinh Luật Luận gồm 84.000 pháp môn” (?!).

-Và “tiêu điểm sâu xa” của soạn phẩm này, cũng để trân trọng “tán dương” câu phủ nhận “không nói lời nào” của Bậc Giác Ngô ! “-Vì Đức Phật Thích-ca vốn đã KHÔNG để lại lý thuyết, nhưng Ngài ĐÃ ĐỂ LẠIkhá nhiều pháp hành(khandha dhammā), cho nhân loại thuộc 3 lãnh vực Kinh, Luật, và Vi Diệu Pháp” (gồm đến 84.000 cách tu), để mỗi người tùy căn cơ tự mình áp dụng…một cách gia tăng Chánh kiếnChánh tư duy (samādiṭṭhi & sammāsaṅkappo).

Với tấm lòng thành.

Cs. Tuệ Lạc (Paris cuối năm 2025)

Trước khi đi vào soạn phẩm,

Xin nêu ra «nghĩa nền» của 3 từ ngữ thường gặp :

<>PHẬT GIÁO => Là toàn bộ những lời Phật dạy (Buddhasāsana), được ghi lại một cách trung thực (không thêm không bớt) bởi các Thinh Văn Đệ Tử Thánh Nhân (Ariya Sāvaka), còn gọi là Tam Tạng Kinh Điển (Tipitaka).

<>PHẬT HỌC => Gồm tất cả những gì có nội dung KHÔNG NGHỊCH với giáo lý của Đức Phật Thích-ca (Sakya-Muni Buddha), mà đời sau đã, đang, và sẽ tìm thấy…trong lẫn ngoài Tam Tạng Kinh Điển (Buddhasāsana Tipitaka) thuộc Phật giáo Nguyên Thủy.

<>ĐẠO PHẬT => Ám chỉ sự tinh tấn sống đạo, hay thực hành giáo lý của Phật Thích-ca Mâu-ni (Sakya-Muni Buddha), một cách hướng về giải thoát (buông bỏ), chẳng cố ý trình diễn đức hạnh, không phân biệtmình với người, và cố gắng thực hiện Tứ Vô Lượng Tâm TỪ-BI-HỶ-XẢ (Catu Mahāvihāra).

(Mời quí vị đón xem các bài tiếp theo. Kính chúc BÌNH AN !)

__________________________________________________

Laisser un commentaire