Tưởng niệm TAM HỢP = Đón mừng VESAKH 2025.

«CHÁNH KIẾN» trong «ĐẠO PHẬT».

(Phát biểu của Website Tuệ Lạc)

<>Ngày nay, «CHÁNH KIẾN» (sammādiṭṭhi) trong nếp sống phàm tục, là một từ ngữ trên “lý thuyết triết học” tuy cũng khá phổ thông…nhưng khi áp dụng, người ta vẫn không biết “phải dựa trên NỀN TẢNG NÀO để làm cho mình có chánh kiến một cách thực tiễn”, nhằm hành xử tốt, hay tin tưởng đúng, trước các “vấn đề” hay “đối tượng” trong cuộc đời !? -Đây quả thật là một “bài toán nan giải”, cần phải xem xét lại !

-Và ngay cả lúc “trông cậy” vào định nghĩa nơi đại tự điển (thường được xem là “ngữ ý hiển nhiên nhất”), -chẳng hạn như “chánh kiến là nhận thức đúng”…thì sau khi bình tâm “suy luận và qui nạp”, người ta vẫn thấy “nó nằm trong một “cái khung” (nào đó) có chủ đích…-do vậy khó thiết lập tính khách quan, -khoan nói đến sự chính xác ! -Nghĩa là, “định nghĩa” kia không thoát khỏi thuộc về “một chiều” mà khuynh hướng nhân gian nào…cũng cho là “tiêu biểu” cho “tư tưởng chung” của họ !

-Thử nghĩ đến “chánh kiến” của 2 tôn giáo, hay 2 đảng phái chính trị “đối lập”, thì rõ ràng là 2 “ý thức hệ” khác nhau, và rất dễ dàng trở thành đối nghịch vì quyền lợi ! Đó là “hạt giống” của xung đột, của chiến tranh từ nhỏ đến lớn !

-Dù cho “khái niệm tổng quát và bình dân” của 2 chữ “chánh kiến” chỉ đơn giản là “thấy hiểu một cách đúng đắn”, thì “tác dụng” của “sự thấy hiểu” (qui ước) ấy, vẫn sẽ gặp “bất đồng” khi cả 2 bên đều tuyên bố “muốn giúp cho xã hội loài người sống đồng thuận”. -Rồi “đồng thuận trên bề mặt đó” cũng ám chỉ “sự vụ lợi” gọi là của “đa số” (vốn ích kỷ), nên vẫn còn thiên lệch, chủ quan, áp đặt, chứ không thực sự vô tư soi sáng ! -Nhất là khi nó tùy thuộc hẳn vào một “khung tư tưởng”, thì ấy là “chánh kiến hạn chế”. -Và theo Phật học, cái gì hạn chế thì không thể thoát khỏi vô minh (lẩn quẩn) !

*Vì “Đạo Phật” (Budhhasāsana) với bản chất giải khổ (tiến hóa do cải thiện thân tâm), không rời trung đạo, và gắn liền với tính khai thông…trước mọi vấn đề (=vận hành) trong cuộc sống…thì chủ trương GIẢI TRỪ VÔ MINH nơi mỗi con người (gồm tinh thần và thể xác dễ ô nhiễm). -Vậy muốn biết «CHÁNH KIẾN trong ĐẠO PHẬT» như thế nào, chúng ta phải “tìm hiểu” một cách khách quan và trực tiếp vào hành động DUY THIỆN PHÁP, -nhất là trải nghiệm được sự soi sáng…qua áp dụng Phật ngôn, hay tự thân xác chứng lời dạy của Bậc Giải thoát (ariya sacca), chứ không thông qua suy luận hay lý thuyết. -Nghĩa là giống như các nghiên cứu, qui nạp và phát minh…trong khoa học vậy !

<>Bốn tiếng “giải trừ vô minh” ở đây, ám chỉ sự giũa mòn bệnh cố chấp (si mê, dị đoan, tà kiến), hay chủ quan (=sở tri chướng do học vị, bằng cấp) vốn phàm tục khuynh đảo, che mờ tri thức. -Nhất là giũa mòn khối ngu si (moha)…đang làm yếu sự khôn ngoan bẩm sinh, gồm khả năng hiểu biết tự nhiên, -xác nhận rằng “bộ máy nhân duyên quả luôn luôn vận hành có điều kiện”. -Không một đấng nào có thể biến hóa bộ máy ấy cho khớp với những lý thuyết hoang đường, -âm mưu kéo tư tưởng con người vướng vào sự “toàn năng cứu rỗi”, -nhất là thực tế phải thấy rõ các huyền thuyết chỉ hợp lý suông (do lòng tham), nhưng chứng minh thì “giả tưởng”, bất khả thi trong cõi dục, và hoàn toàn TUÂN THEO LUẬT sanh trụ hoại diệt !-Càng VÔ LÝ hơn nữa là lạm dụng “chiêu bài từ bi” trong Thánh Nhân, dựng lên những “cứu rỗi” chẳng bao giờ thật, phản CHÁNH TRÍ (adhammena), nghịch tiến hóa !

<>Xuyên qua lịch sử, Phật Thích-ca Mâu-ni” (Sakya Muni Buddha) là Một Bậc Toàn Giác, Trọn Lành Đại Xả. Tuy ra đời tại cổ Ấn-độ, nhưng giáo lý GIẢI KHỔ của Phật không phải chỉ nhằm cứu vớt dân tộc Ấn-độ, dưới ách thống trị đạo Bà-la-môn (tiền thân của Ấn-độ giáo ngày nay). -Mà Chánh Pháp ấy còn hướng đến tất cả chúng sanh, không phân biệt chủng loại, quốc độ, nhất là khai trí nhân sinh…thực hành công phu tiến hóa, để có thể tự lực chấm dứt khổ đau (do dục vọng chính mình gây ra), bằng CHÁNH KIẾN, từ đó tẩy sạch tham sân si, nơi thân khẩu ý trong kiếp sống sa đọa của con người !

<>Tất nhiên, nếu đại đa số người Việt biết tự lực tu thân…tinh thần trở nên dũng cảm, thiện lành và sáng suốt (có trí tuệ), thì chủ trương ngu dân của các thế lực ngoại bang phương bắc (cấu kết với nội gian bán nước) sẽ không thực hiên được…nên chúng phải “tạo ra” những huyền thoại về “Phật” và “Bồ-tát” (như “hàng nhái”), nhập cảng từ đế quốc, để ru ngủ, khuyến khích sự mê tín dị đoan của đám dân bị trị ! *Và trước một âm mưu tinh vi như thế, GIÁO LÝ NGUYÊN THỦY của Phật Thích-ca, luôn luôn đậm nét là một “phương pháp tự vệ, giải trừ xâm lăng” hữu hiệu nhất. -NÓ chính là lá chắn kim cương, chận đứng các loại tà kiến, vẹt tan vô minh, bán nước.

<>Và hiện tại, “2 phẩm cách siêu xuất” trên lộ trình tiến hóa (ariya magga) trong Đạo Phật, là 1/TRÍ TUỆ GIẢI THOÁT (vimutti prajña=bát-nhã), luôn hướng về “ánh sáng tự do” (nibāna=niết-bàn), và 2/TÂM TỪ VÔ LƯỢNG, hay đức độ lan tỏa “lòng thương vô hạn” (mahāvihāra) trong Đạo Phật Thích-ca…đã và đang bị các thế lực gian ác biến thành “2 phạm trù lầm lạc” đầy ngu dân và mơ hồ (không ai biết rõ “nguồn gốc” ở đâu !) là “tây phương cực lạc” và “nam hải ân đức”, dưới quyền năng tưởng tượng, của một đôi “hình ảnh” được “phong thần” gọi là “phật” và “bồ-tát”. -Họ cố ý phủ nhận “Ngài Thích-ca Mâu-ni không đủ ân đức độ đời” và “cũng không có lòng thương khi nghe sinh linh cầu cứu”…nên phải dựng lên “tiếp dẫn đạo sư” và “đại bi cứu khổ” !(?)

*Và thâm độc hơn nữa là họ còn xảo quyệt bày chuyện “Phật Thích-ca “giới thiệu” cặp “phong thần” kia, gồm một tượng trưng cho Bà-la-môn giáo, và một của đế quốc phương bắc”, xuất hiện trên thế gian để “vớt sạch sinh linh trong biển khổ”. -Mục đích của họ là mê hoặc các dân tộc bị trị. -Đồng thời xóa dần thanh danh Vị Phật CÓ THẬT trong lịch sử…-nhất là tiêu diệt giáo pháp khai trí (tự do bình đẳng) của Đức Thích-ca (Sakya Muni), vốn nghịch chiều với tham vọng thực dân !

<>Hiện tượng các “luận sư trứ danh” thời “Hậu Phật Cồ-đàm” (Gotama Buddha), như “Long Thọ”, “Vô Trước”, “Thế Thân”, “Mã Minh”…v…v…(=Nāgajurna, Asaṅga, Vasubandhu…v…v…) vốn là những “trí giả” gốc bà-la-môn (Ấn-độ), chỉ nổi tiếng về biện luận triết học (=lý thuyết suông), và được người Tàu xem như “dụng cụ tốt”, để “tấn phong đại bồ-tát” trong “Phật giáo Trung hoa”…nhưng thật là lố bịch vì không thấy họ nói đến “hạnh tu siêu thoát của chư bồ-tát ấy cụ thể như thế nào”, chứng tỏ âm mưu hiểm ác của đế quốc hán tộc, là muốn xâm lăng các tiểu quốc xung quanh, phải tìm cách phá hoại “Phật Giáo Nguyên Chất”, -Và chỉ có “Khổng Lão” là xứng đáng độc tôn ! -Khác hẳn Phật Thích-ca là NGỌN ĐUỐC xiểng dương công hạnh giải thoát, cho những dân tộc bị trị !

-Còn đối với phía “bà-la-môn giáo” (cổ xưa) thì lúc Ngài Thích-ca sinh tiền, những “đặc quyền” cùng “lợi lộc” của giai cấp tăng sĩ (cổ Ấn-độ) đã đồng thời giảm thiểu, nếu không muốn nói là “sụp đổ”, nên sự oán hận đã làm cho họ quyết tâm trả thù “Đạo Phật Nguyên Chất” sau nầy. Do đó, họ đã “ngẫu nhiên bắt tay” với Tàu để phá hoại hay làm loãng chánh pháp của nhân loại, do Ngài Thích-ca để lại ! -Chính Bậc Toàn Giác (Sammāsambuddha) lúc sinh tiền cũng đã tiên tri rằng “sư tử trùng thực sư tử nhục”, -nghĩa là “vòi trong thân sư tử sẽ ăn thịt sư tử”, hay “ngụy đồ Như Lai núp trong thiền môn sẽ phá hoại đạo Như Lai”, -mô tả chính xác cho “phật giáo ngày nay” !

*Còn các sử liệu liên quan đến những lần KẾT TẬP KINH ĐIỂN (Saṅgīti) của “Phật giáo Nam Truyền” (Theravāda), thì cũng không đề cập tới “chư bồ-tát” kiểu ấy, trực tiếp hay gián tiếp !

(-Lưu ý : Chúng tôi chỉ phát biểu nhắc đến tính độc đoán của “đạo Bà-la-môn phong kiến, cuồng tín ngày xưa”, chứ không “quơ đũa cả nắm”, không ám chỉ toàn thể “Ấn-độ giáo có trình độ văn hóa xứng đáng”, dưới chế độ dân chủ ngày nay. -Xin nói rõ kẻo phát sinh hiểu lầm !).

<>Đây rất có thể là lý do hiên tại “Phật Giáotại Ấn-độ rất yếu” (chưa tới 1%). Các “Thánh tích đạo Phật” đang được người Ấn “chăm sóc và bảo trì tươm tất”, chỉ vì “ngoại giao” và “nguồn lợi du lịch” mà thôi ! -Còn nhìn qua mấy nước “Phật Giáo Nam Truyền” (hay “Nguyên Thủy”) như Sri-lanka, Miến-điện, Thái-lan, Cao-miên, Ai-lao…v…v…chùa chiền vẫn thấy phảng phất sắc thái bà-la-môn. -Đồng thời “Phật Giáo Bắc Truyền”, như Trung cộng, Đài-loan, Đại-hàn, Nhật-bản…thì đã bị “tàu hóa” rất nhiều. -Riêng Phật giáo Tây Tạng lẫn Mông cổ (“mật tông” hay “kim cương tông”) thì “pha trộn” với “Thần Vật Bí Tích” (do phong thổ). -Chưa kể các chủ nghĩa chính trị cận đại…duy vật, vô thần, không tin luật tái sinh nghiệp báo (=chết là hết, tội/phúc tiêu tan), cũng là thành phần thứ ba tích cực phá hoại chánh pháp !

<>Người học và hành đầy đủ theo gương Phật, có CHÁNH KIẾN thì luôn luôn tư duy đúng đắn rằng, “Bồ-tát phát nguyện độ tận chúng sanh” chỉ là gương mẫu, để khuyến khích tinh tấn tự lực trong mỗi chúng sinh, hãy làm sao SỐNG ĐẠO cho viên mãn, -BỐ THÍ thì bố thí đến cùng (trong vô lậu,buông xả, không hậu ý), -TRÌ GIỚI thì trì giới nghiêm túc (tròn ba-la-mật). -Và đã mang danh “Phật tử” thì KHÔNG TIN chuyện “Bồ-tát phát nguyện độ tận chúng sanh” là “Ngài mắc lời nguyền, chắc chắn phải cứu vớt tất cả, không còn một ai bị đọa nữa…thì mới (có quyền) thành Phật” (!).

-Vì trí tuệ giải thoát luôn luôn xác nhận rằng “căn cơ toàn thể chúng sanh trong tam giới vốn MUÔN ĐỜI bất đồng, KHI VÔ DUYÊN thì không bao giờ gặp Phật hay Bồ-tát để được các Ngài giải cứu”. -Ai tin ngược lại là nghịch chánh pháp, là ngu dân, là mê tín, TÀ KIẾN ! -Đó cũng chính là “nguyên nhân” để cho những kẻ xâm lăng “nhập cảng” “phật” và “bồ-tát” giả mạo của họ, nhằm lung lạc tinh thần dân tộc !

<>Theo một “Giai thoại Phật học”, mà không ít độc giả đã từng nghe qua, rằng Giáo Pháp do Đức Thích-ca Mâu-ni (Sakyamuni Buddha) để lại…vốn là “một nắm lá thuốc” (patta-hattha) trong rừng «diệp dược mênh mông» (bhesajjadhammā’rañña) mà Đức Phật đã “mặc nhiên để lại” cho tam giới chúng sanh. -Nghĩa là, toàn bộ «Ba bồ Kinh Điển Phật giáo» (Nam truyền), và giáo thư gọi là «Đại Tạng Kinh» (Bắc truyền), hiện được «tứ chúng» (=tỳ kheo, tỳ-kheo-ni, thiện nam và tín nữ)…-nói chung là mọi trường phái lớn nhỏ, đang chính thức nghiên cứu, học hỏi và «tu tập» vốn chỉ là những PHÁP KHẢ THI, cần thiết để giải trừ bệnh hoạn thân tâm cho nhân loại, chúng sanh…trong tam giới, xuyên chiều dài tuổi thọ 5000 năm, của Giáo Pháp Thích-ca Mâu-ni mà thôi (-viết căn cứ theo kinh sách chữ Pāḷī) ! 

*Cả Hai Nguồn Kinh Điển (Nam-Bắc Truyền), tượng trưng bằng “nắm lá” ấy, dĩ nhiên không phải là TẤT CẢ những gì Bậc Toàn Giác “biết” và trong cái TẤT CẢ đó…-hẳn phải chứa «trí năng bát-nhã» và «siêu khoa học» ! -Chúng tôi mạo muội phát biểu có 3 chữ “siêu khoa học” như vậy, không phải vì “thấy sang bắt quàng làm họ”…trước các “tiến bộ thần kỳ của LÝ HÓA”, mà vì “không thể phủ nhận MỐI LIÊN HỆ hiển nhiên, giữa trí năng (thanh tịnh, bát-nhã) và mọi phát minh trong khoa học hiện đại”. -Nói cách khác, «Pháp Của Bậc Toàn Giác» vẫn bao gồm vô tỷ sự thật (asaṅkhya sacca), mà tâm thức người phàm (puthujjna), kể cả «các thánh nhân hữu học» (sekhā puggala) không đủ khả năng nắm bắt, -vì chưa đoạn tâm tham sân si, hay còn nhiều hoặc ít VÔ MINH (avijjā). -Viết dựa theo Vi Diệu Pháp !

-Thỉnh thoảng chúng tôi cũng nghe «một giảng sư» hay «một cao tăng» nhân danh Phật giáo phủ nhận «nội dung kinh Phật» KHÔNG LIÊN QUAN đến «khoa học», chúng tôi khó tránh khỏi nghĩ rằng «cái khung chủ quan» (cứng ngắc) qui cho các nguồn kinh điển…vốn nằm trong tư duy của con người phàm phu (ảo tưởng là mình “quán triệt Phật giáo”. -Dù cho họ có «bác học» đến đâu, «cái khung» ấy vẫn chắc chắn là một dạng vô minh !

*Và nắm lá thuốc KIA, từ ngàn xưa cho đến ngàn sau…luôn đóng vai trò của «quang tuyến không màu» (=trắng tinh, trong suốt) để «đốt cháy» mọi ung thư phiền não (=tham sân si), và có thể được mệnh danh là nguồn sáng thanh tịnh “phục vụ vô tận”, mà xã hội phàm tình muốn gọi là «gì cũng được», -miễn là NÓ hằng SOI THẤU THỰC TẠI (bề mặt lẫn bề trái, và chiều sâu), để làm tròn công tác «xạ trị» cho bệnh vô minh (=diệt ngu dân)…trong mọi duyên lành hướng thiện ! -Nghĩa là HIỆU LỰC của «nắm lá thuốc» ấy, nếu được xem là “đại diện” cho «84.000 pháp môn giải khổ», thì tất nhiên phải chuyên chở một dược tính thông thoáng, để làm cho kẻ khỏi bệnh về sau biết hành động cởi mở…tiến hóa, vượt qua mọi câu chấp (=tư duy) …-nhất là trở nên CHÍNH MÌNH biết triệt tiêu tà kiến !

-Nói một cách “tu từ học”, đối với người tin kính và xem «đạo Phật» là «con đường thoát nạn» (upaddavā vimutti magga), thì «NẤM LÁ THUỐC» kia cũng là vật liệu đầy năng lượng, có HIỆU LỰC thắp đuốc thần, soi thấu, và hướng dẫn con người biết sống vô hại (ahiṃsa-cariya). Đồng thời NÓ luôn luôn là «dược liệu thanh lọc thân tâm», hay «kỹ thuật» thăng hoa vật chất lẫn tinh thần ! -Một hiện thân có giá trị đóng góp siêu khoa học !

-Cuộc đời vốn là một môi trường thăng trầm, có lên thì có xuống (=vô thường). Dẫu khi con người bị vô minh che áng, rơi vào lầm lạc…chịu đựng khổ đau, thì Phật giáo vẫn là «nguồn sáng vô giákhông màu sắc», có thể soi thấu tâm thức sinh linh nói chung, và nhân loại nói riêng…thấy rõ vạn vật đúng bản chất, rồi giúp đỡ tìm ra lối thoát. -Phật học gọi ấy là hiệu lực của CHÁNH KIẾN (sammādiṭṭhi), hằng phá tan vô minh ! -Nghĩa là, dù cho đạo Phật có mang nhiều «tên» khác nhau, nhưng «nội lực chính» vẫn là khả năng «dẹp tà kiến» (miccha-diṭṭhi vimutti), hay giải trừ tham sân si (tam độc) ! -Hãy qui nạp rằng, phẩm cách đích thật của “CHÂN GIÁC NGỘ” chính là CHÁNH KIẾN (hay sự soi sáng tận cùng), làm sao cho “mắt thịt” và “mắt tâm” tùy duyên THẤY lẫn BIẾT đúng SỰ THẬT (asatho). -Đó mới là “cái dụng giải thoát” của Phật ngôn vậy ! 

*Tổ tiên chúng ta đã rất thông minh, nhận diện rõ “Phật giáo không phải là dụng cụ xâm lược, mà là võ khí khai trí, tiến hóa, tự chủ, che chở sinh linh”. -Đạo Phật đi đến đâu là “biến thành công bộc, bảo vệ dân tộc của nơi ấy”, nên tiền nhân Việt Nam đã gìn giữ Đạo Phật như “gia sản muôn đời”. -Do đó, Đạo Phật phát triển tốt ở nước nào, kẻ xâm lăng dẫu mạnh đến đâu cũng khó thâu tóm !

<>Nhưng “CHÁNH KIẾN (Sammādiṭṭhi) trong ĐẠO PHẬT”, nêu ra ở đây để Tưởng niệm Lễ Tam Hợp…là một chủ đề thực tiễn hơn ! -Ấy là nhấn mạnh công phu “TRI HÀNH HỢP NHẤT”. Nó giống như châm ngôn “thấy biết để thực hành” và “thực hành để thấy biết”. -Nghĩa là “SỰ THẤY BIẾT ĐÚNG do sống đạo thanh tịnh (visuddhi jīvita), thì luôn luôn làm theo lời Phật”, để thấm nhuần nội dung an lạctự tin, qua thân cũng như qua tâm, một cách tự tại, sáng suốt, có khoa học. -CHÁNH KIẾN ấy hoàn toàn không liên quan gì đến giá trị phù du bề ngoài, hay “hiện thân” của “thấy được cực lạc” ở một cõi nào đó, mô phỏng theo sự cao sang vật chất, vô thường trên thế gian !

-Và “giải thoát trong đạo Phật” là chính mình cảm thấy nhẹ nhàng, dứt ràng buộc từ tất cả các hướng…khi thể hiện đạo đức, chứ không tưởng tượnghay đơn hương tự kỷ ám thị. Từ đó, mọi hành vi của bậc phạm hạnhsẽ nhờ CHÁNH KIẾNmà thiện thục trung đạo, và biết rõ “SIÊU ĐỘ” là gì, không hoang mang cầu cạnh…-để xác nhận ĐẠO PHẬT là “con đường hạnh phúc” !

*Đối với CHÁNH KIẾN trong Đạo Phật, thì một «lãnh tụ xứng đáng» của thế tục, hay một “hiện thân thánh thiện” trong tôn giáo, không phảimột phẩm giá nhắm đến hưởng thụ danh vị, lợi lộc…cần được xã hội loài người “tấn phong”, mà là một “KẾT TINH” của phạm hạnhtrí tuệ do VÔ NGÃ trổ hoa. -Hai chữ “đạo đức” (guṇa) trong Đạo Giải thoát, ám chỉ “thân tâm thanh tịnh”, như tấm gương không bụi, có thể phản chiếu đúng sự thật, từ những gì đối diện với nó một cách tự nhiên. -“ĐẠO ĐỨC” ấy chính là một trạng thái hòa bình, toàn xả, chứ không phải là giá trị qui ước do nhân gian đặt ra, -như thế nầy hay như thế khác ! -Nhất là “đạo đức” trong đạo Phật chẳng bao giờ là “sản phẩm của sự đánh bóng” (=dàn dựng !). -Đức Phật đã để lại cho chúng ta một GIÁO PHÁP (dhamma) hay một TĂNG ĐOÀN (saṅgha), hiện thân của phạm hạnh, luôn luôn SỐNG LỤC HÒA, chứ không phải là “giáo hội” (xum xuê), kinh doanh và sinh hoạt “hành chính” theo mô hình thế gian !

-Quay lại CHÁNH KIẾN trong hành động “tầm thường nhất”, và nói theo ngôn ngữ bình dân, thì một người muốn có sức khỏe tốt, đương nhiên phải ẩm thực lành mạnh, điều độ, -song song với việc dùng y phục, trú sở khiêm nhượng, đoan trang, vừa phải, hợp lý, sạch sẽ…nhằm giữ cho thân thể được che chở khỏi các cực đoan nóng/lạnh. -Và thật là ngu xuẩn, nếu một người tin rằng, “hằng ngày ta chỉ cần chú tâm “tụng” 2 chữ “ăn uống” rồi chẳng tiêu thụ gì cả, mà cũng vẫn sống bình thường…”. -Đây là hành động của kẻ điên rồ, mất trí…hoàn toàn vô lý, ngay cả trẻ con 5-10 tuổi cũng tự nhiên dư biết !

-Nhưng chuyện quá tầm thường nầy, lại được chúng tôi nêu ra, vì trong CHÁNH KIẾN, “tiến trình bồi dưỡng đời sống lành mạnh”, bắt đầu từ hành động tầm thường nhưng cơ bản, lại là yếu tố không thể thiếu, đóng góp trực tiếp vào “sức khỏe tuyệt vời”. *Và trong “TIẾN HÓA CAO SIÊU” (nhằm giải thoát tham sân si) cũng vậy, chỉ có sự thực hiện Phật ngôn và trải nghiệm TỊNH HẠNH mới là “nên tảng”, phát sinh Phẩm Cách Thấy Biết Đúng (sammā diṭṭhi), -hay CHÁNH KIẾN, tương đương với sự đích thân ăn uống, hấp thụ chất bổ tinh khiết ! -Xem ra, những thói quen tốt thuộc về thiện nghiệp càng tầm thường, minh bạch bao nhiêu…thì hiệu lực bồi bổ thân tâm trong đời sống tiến hóa hằng ngày, càng mang lại hiệu quả chính xác, cụ thể bấy nhiêu ! -Các “học giả nặng về triết lý”, nhất là “giới trí thức nhiều bằng cấp” thường chỉ “chú trọng” đến những gì “cao thâm”, “sâu sắc”…thuộc về “đầu óc thượng thừa” hay “vượt bậc”, đồng thời coi thường các “tiểu tiết cụ thể”…thì nên xét lại ! -Vì những gì trong lãnh vực thuần túy suy luận, tư duy…đa số đều ảo !

-Theo Phật học, muốn “thoát tục”, chúng ta phải sống bằng đầy đủ hành thiệnnhập thế (hầu hết là những việc lành thường nhật), thì cái “THẤY” (dassana) trong thân tâm chúng ta mới có thể chánh kiến được ! -Phẩm cách CHÁNH KIẾN ấy (sa sammā diṭṭhi), tuy lúc còn phàm (puthujjana) thì tất nhiên “tương đối” (sāpekkha), chỉ thuộc về tri thức hướng thiện mà thôi, nhưng khi “hành giả” (yogāvacara) đã thăng hoa, NÓ sẽ trở thành “tuyệt đối” (paripuṇṇa, viên mãn), gọi là THÁNH KIẾN (ariya diṭṭhi). -Lúc đó, “TA” không còn là “ta” nữa, “chúng ta” tự nhiên sẽ CHẲNG LÀ gì hết, chứ ấy không phải “thu hoạch” !

-Và trong “Giáo Lý Tương Tác” (samuppāda-dhamma) của Bậc Toàn Giác (Sammāsambuddha), chúng ta cũng thấy “một hướng dẫn rất sâu sắc, trung đạo” (gambhīra majjhima paṭipadā) là “tiến hóa TÙY DUYÊN” (paccaya sampatthāna saṃvattati), -đại ý nói rằng “Do liên quan nhân quả (cộng nghiệp nhiều vòng trong quá khứ), mà khi ĐẠI HẠNH biểu lộ (mahaggatacariya)…thì đồng thời cũng xuất hiện một số “thành viên”, lập thành «cộng đoàn tu hành chân chất» (TĂNG GIÀ=Saṅgha), vượt trên cố chấp tập quán gọi là “giáo hội”…trước mắt quảng đại quần chúng, để “đánh thức” thế gian, làm cho nhân quần nhận ra…thế nào là TU THẬT, sống đạo !

-Hiện tượng có một số “tịnh nhân ẩn sĩ” đã “hòa mình từ lâu” trong cảnh đời tục lụy (=gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn !), bỗng “chỉ trong thời gian ngắn”, được nhiều cộng đồng nhân loại chú ý…một cách “trân trọng…không ai ngờ”, vượt khỏi tầm “nhận định” nhân sinh, chính là hiện tượng của “vận hội”, mà dân gian một số nước Phương Đông (gồm Việt Nam) đã truyền khẩu câu «sấm văn toán học» cùng tắc biến, biến tắc thông !

<>Tất nhiên, các thế lực ác chính và “ma vương”, gồm những “phần tử hàng đầu” (thuộc «cấp quỷ sứ trở lên»), đã quen thói “thừa nước đục thả câu” trong suốt thời gian trên đời chưa có “chân nhân xuất hiện”, thiếu ánh sáng đạo đức…đã không ngừng tung ra nhiều chiêu trò đen tối, -lạm dụng tình trạng mê tín, ngu dân…“thả khói mù bao che bầy đảng”, -nhất là chúng khai thác tối đa cố tật tà kiến nơi quần chúng ít học, chậm tiến…để làm “giảm thiểu” PHẨM GIÁ ĐỘ ĐỜI, từ những TẤM GƯƠNG ĐẠO HẠNH !

-Chúng phối hợp giữa ỷ mạnh bóp méo công luậngià mồm ngăn chận trực giác, bằng cách gây nhiều khó khăn trước “mỗi bước chân tỉnh thức” của “hiện tượng thoát trần”! -Nhưng lạ thay, chúng càng làm thế, thì hình ảnh ĐẠO ĐỨC của hạnh lành càng rạng rỡ…làm rung động sâu xa quả tim của nhiều cộng đồng lớn nhỏ bốn phương…một cách KỲ DIỆU…-không những trong nước mà ngay cả nhiều nơi trên thế giới…khiến cho các “lý thuyết gia” gian hùng nhất thuộc phe họ…cũng không phản biện được !

<>Ngược dòng lịch sử, thì Đạo Phật Thích-ca (hay con đường duy nhất giải khổ), tuy đã “phát sinh” từ xã hội cổ phong kiến Bà-la-môn ở Ấn-độ cách nay hơn 2500 năm, nhưng căn cứ vào “bản sắc phục vụ nhân loại, chúng sinh”, thì Giáo lý Giải khổ ấy CHẲNG thuộc về bất cứ dân tộc nào, mà là của nhân loại. -ĐÓ là gia sản của tất cả những ai hướng thiện, muốn thiết lập đời sống VĂN MINH, hòa bình, tiến hóa. Từ đó, Đạo Phật là “bảo vật chung” của trần gian, không một thế lực nào có quyền dùng Phật giáo như một bình phong cho giả tâm cai trị tinh thần con người, -nhất là tạo một «phật giáo lai căn» để bành trướng “thế lực văn hóa”…xâm lăng và thôn tính lãnh thổ khác !

<>Nhân “Vesakh”, RẰM THÁNG TƯ (Âm Lịch), ngày kỷ niệm cùng một lúc “BA SỬ CỐ TRỌNG ĐẠI” của Đạo Phật Thích-ca Mâu-ni, gồm : 1-ĐẢN SINH (Thái tử Sĩ-đạt-ta ra đời = Rājaputto Siddhatta jayanti), 2-THÀNH ĐẠO(Bồ-tát Cồ-đàm Sĩ-đạt-ta đạt giải thoát = Siddhatta Gotama Bodhisatta samijjhanti), và 3-NHẬP DIỆT (Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác “xả thân niết-bàn” (Sammāsambuddha parinibbanti), Website tuelac xin thành kính cúng dường đến Ngày lễ TAM HỢP (Vesakha tividha-chaṇa) bài PHÁT BIỂU và những cảm niệm chân thành khiêm nhường sau đây :

CẢM NIỆM.

<>Sinh ra và lớn lên trong một nếp sống có đa số thân nhân và đồng bào hằng tôn kính và xem Đạo Giác Ngộ như «con đường nuôi dưỡng tâm linh», do Đức Thích-ca Mâu-ni để lại. Rồi khi xét kỹ qua khả năng làm theo lời Phật dạy, chúng tôi nhận thấy…dù chỉ quá ít như 1% GIÁO LÝ trung đạo, thông thoáng lẫn khai trí, để khiêm nhượng tiến hóa…chúng ta còn chưa thực hiện nổi, nói chi đến 84.000 pháp môn (dhamma khandha) ghi trong kinh điển ! -Do không thiếu «giáo lý tiến hóa» như thế, chúng ta cần gì một “thần thuyết” khác !?

-Nhưng qua giòng lịch sử, Việt Nam là một quốc gia nhỏ, thường bị thực dân phương bắc (với sự tiếp tay của nội gian bán nước) liên tục áp đặt nhiều dạng xâm chiếm, nhất là dùng văn hóa lai căn, tôn giáo tập quyền, tín ngưỡng ngụy tạo, tập quán loạn sắc…để mê hoặc dân bị trị. -Họ đã dựng lên một số thần tượng hoang đường, rồi «phong thánh», ca ngợi, tuyên truyền là «đấng cứu khổ giải nạn» hay «thay thế phật trời», có thể đưa linh hồn kẻ phàm tục lên cõi cực lạc. Họ ỷ đông và mạnh (-chưa chắc !) cố ý “hợp thức hóa” sự “hối lộ thần linh” bằng cách cúng bái, nhuộm màu mê tín “thực chất hướng về diêm vương (địa ngục) nhiều hơn lên thiên đàng”…-gian ác, ngu dân, nhằm phá hoại sức mạnh tinh thần nhân quần địa phương, gây xáo trộn kinh tế sở tại ! 

<>Con người được xem là “động vật thông minh nhất” trong tất cả các loài trên mặt đất…là nhờ CÓ TRÍ PHÁN ĐOÁN (ñāna)…biết cân nhắc giá trị (agghaṃ anucinteti) thực hay giả, lành hay dữ…để biết tiếp cận sáng suốt với môi trường xung quanh, -nhất là để biểu lộ lòng tri ân trước một đối tượng cao quí luôn luôn vì đời, vô ngã…bất vụ lợi ! Và tất nhiên cũng để XỨNG ĐÁNG (yogga) với phẩm giá làm người (manussa-puñña), trong nếp sống có văn hóa (kasita), chúng ta đương nhiên phải nhớ ơn Đức Phật Thích-ca, mà không sợ nhầm lẫn, hay bị lôi kéo…bởi si mê lạc đường từ một thế lực xâm lăng nào cả !

*Xin nhắc lại dù cho nhiều lần rằng, Đạo Phật tuy đến từ Ấn-độ, nhưng ĐỨC PHẬT là hiện thân của đại đồng, hy sinh, TOÀN XẢ, không vì một vụ lợi phàm phu hay hạn chế nào cả. Ngài là biểu tượng của một căn tính hướng thượng “vốn có” trong mỗi “cá nhân” thuộc các dân tộc trên thế giới, chứ không riêng gì người Ấn-đô. -Đây là lý do mà Đạo Phật đi đến đâu là có thể “hòa nhập” và “biến thành” văn hóa chánh kiến của địa phương đó, để vô tư phục vụ con người, chẳng phân biệt ranh giới ! -Và «Phật Giáo Nguyên Chất» (Theravāda), đã từng lan tỏa đến quê hương Việt-nam…từ thuở xa xưa (dấu tíchKhu khảo cổ Luy Lâu” còn đó !).

*Đất nước chúng ta đã và đang bị “đế quốc Tàu” rình rập…xâm lăng nhiều lần, trải qua hàng nghìn năm, -dai dẳng nhưng về sau…khoảng đầu thế kỷ 20, «Giáo Lý Thích-ca» (Sakyamunisāsana) mới có cơ hội “tái hiện ở nửa phần phía Nam nước Việt”. -Nhưng vì “Đạo Phật Nguyên Thủy” (“Theravāda buddhasāsana”) vốn vẫn là một “nguồn sáng vô tư”, nên đặc tính phục vụ không bao giờ phân biệt, hay hạn chế “nhuộm màu văn hóa vụ lợi” như các “tôn giáo” khác, –ngoại trừ NÓ bị mạo nhận để phá hoại !!!

-LÒNG TRI ÂN của chúng ta đối với Đức Thích-ca Mâu-ni là do tự nguyện, sáng suốt nhìn nhận rằng, «ấy là ơn ích thanh khiết» (xứng đáng !), hoàn toàn không phát sinh từ si mê ngu tín…lo lót thần linh, kiểu hối lộ lẫn xu nịnh quyền năng, cầu ban ơn…dẫn linh hồn phàm tình về cực lạc !

-Phần cảm niệm hay TRI ÂN Đức Thích-ca Mâu-ni, nhân Lễ Tam Hợp VESAKH của chúng tôi đến đây…xin chỉ khiêm nhượng như thế !

Tiếp theo là “CHÚT PHÁT BIỂU CHÂN THÀNH”.

<>Nhắc lại “Giai thoại Phật học”, mà không ít độc giả đã từng nghe qua, rằng Giáo Pháp do Đức Thích-ca Mâu-ni (Sakyamuni Buddha) để lại…vốn chỉ là «một nắm lá thuốc» (patta-hattha) trong rừng «pháp diệp mênh mông» (bhesajjadhammā’rañña). -Nói cách khác, là “Toàn bộ Kinh Điển” của Phật giáo Nam truyền (Ti-Piṭaka Buddhasāsana), hay “Đại Tạng năm bộ A-hàm” của Phật giáo Bắc truyền” (Pañcāgâma Buddhasāsana), gọi là chính thức được «tứ chúng» (tỳ kheo, tỳ-kheo-ni, thiện nam và tín nữ, (-kể cả các trường phái lớn nhỏ) đang nghiên cứu, học hỏi và «tu tập» vốn chỉ là những điều khả thi (cần thiết) để giải trừ bệnh hoạn thân tâm cho nhân loại, chúng sanh, trong suốt chiều dài “5000 năm”, -tuổi thọ của Giáo Pháp Phật Thích-ca Mâu-ni. (-Viết dựa theo kinh sách chữ Pāḷī, “Phật Giáo Nam Truyền”) ! 

*TẤT NHIÊN, cả hai nguồn kinh điển (-đã ngụ ngôn bằng nắm lá) đó, không phải là TOÀN THỂ những gì Bậc Toàn Giác “khám phá” và “có thể mặc nhiên để lại” cho tam giới chúng sanh, lẫnvũ trụ mênh mông nầy. Và trong cái “TẤT CẢ” ấy, chắc chắn phải chứa những gì ngoài “Nắm lá Giác ngộ” mà trí óc hạn chế của phàm nhân không sao nắm bắt được, -chẳng hạn như “thần thông bát-nhã” (paññābhiññā) và “năng lực siêu khoa học” (abhivijjiṅdriya) ! -Chúng tôi mạo muội nêu ra 2 nhóm chữ “thần thông bát-nhã” và “năng lực siêu khoa học” như thế, chẳng phải vì “thấy sang bắt quàng làm họ”, trước các “tiến bộ thần kỳcủa LÝ HÓA HIỆN ĐẠI”, mà vì “không thể phủ nhận MỐI LIÊN HỆ hiển nhiên, giữa trí năng toàn tịnh trong Đạo Phật…và phát minh khoa học” !

-Nói cách khác, «Pháp Của Bậc Toàn Giác» vẫn bao gồm vô tỷ sự thật (asaṅkhya sacca), mà tâm thức phàm phu (puthujjna) và «các thánh nhân hữu học», (=bậc đang tiến đến giải thoát = sekhā puggala), vẫn không có khả năng nắm bắt dễ dàng được, -vì chưa đoạn tận THAM, SÂN, SI hoặc còn nhiều/ít VÔ MINH (avijjā). -Nói dựa theo Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) !

-Thỉnh thoảng…quí thính giả cũng nghe một “giảng sư» hay một “cao tăng” nào đó, nhân danh Phật giáo phủ nhận «nội dung kinh Phật KHÔNG LIÊN QUAN gì đến «khoa học». Và nếu chúng tôi nghe như vậy, thì khó tránh khỏi nghĩ rằng «cái khung chủ quan», khép kín vào “các trang kinh điển”…vốn nằm trong tư duy (cứng ngắc) của con người. -Và khi nội dung thâm mật của Phật ngôn mà chưa được hiểu thấu, thì người ta thường dựa vào “trì tụng” và “tin tưởng” rằng mình “nhập tâm kinh điển” là “thấm nhuần phật pháp” (?). -Nhưng theo Phật học, «cái khung» ấy vẫn là một dạng vô minh, dù cho họ vừa “thuộc lòng” vừa “giỏi luận giải” giáo lý đến đâu !

*Và nắm lá thuốc KIA, từ ngàn xưa cho đến ngàn sau…vẫn là «nguồn quang tuyến không màu» (=trắng tinh, thuần túy, trong suốt) để «đốt cháy» ung thư phiền não (=tham sân si), và có thể được mệnh danh là “mạch phục vụ vô tận”, mà phàm nhân muốn gọi là «vai trò văn hóa gì cũng được»…-miễn NÓ luôn luôn SOI THẤU THỰC TẠI (bề mặt, bề trái, lẫn chiều sâu), để làm tròn việc «xạ trị» bệnh vô minh cho con người…trong mỗi duyên lành hướng thiện ! 

-Nghĩa là HIỆU LỰC của «nắm lá thuốc» đó, nếu được xem là «pháp giải khổ», thì tất nhiên phải chuyên chở một dược tính thông thoáng, để làm cho kẻ khỏi bệnh về sau biết hành động cởi mở…tiến hóa, vượt qua mọi cố chấp (=tà tư duy), -nhất là trở nên CHÍNH MÌNH triệt tiêu tà kiến (miccha diṭṭhi), chứ không phải trông cậy vào ngoại năng nào cả ! -Đối với người tin kính và xem «đạo Phật» là «con đường giải khổ» (dukkha vimutti magga), thì «NẮM LÁ THUỐC» ấy cũng là vật liệu phát quang (joti vipāka), có HIỆU LỰC SOI SÁNG và chỉ đường cho người đời biết sống vô hại (ahiṃsa-cariya). -Đồng thời NÓ luôn luôn là «dược liệu thanh lọc thân tâm», hay «kỹ thuật» thăng hoa vật chất lẫn tinh thần ! -Một hiện thân có giá trị linh diệu…đóng góp tốt vào sự sống thực tiễn, tương đương với siêu khoa học !

-Nhưng cõi trần là một môi trường vô thường (=thăng trầm). Con người lắm khi không tránh khỏi nghịch duyên, bị vô minh che áng, rơi vào lầm lạc, bế tắc…chịu đựng khổ đau, thì Phật giáo vẫn là «NGỌN ĐUỐC KHÔNG MÀU», có thể soi sáng toàn thể tam giới nói chung, và nhân loại nói riêng…giúp tìm ra lối thoát. -Phật học gọi ấy là hiệu lực của CHÁNH KIẾN (sammādiṭṭhi), hằng giải quyết vô minh ! -Đạo Phật tuy có thể được “qui cho” nhiều «danh phận», nhưng chung cục…vẫn là khả năng «dẹp tà kiến» (miccha-diṭṭhi vimutti), hay giải trừ tham sân si (tam độc) ! -Hãy tóm tắt rằng, phẩm cách đích thật của Đạo Phật là SỰ SOI SÁNG (joti), làm cho “mắt thịt” và “mắt tâm” dù còn tùy duyên…vẫn THẤY và BIẾT đúng sự thật (asatho). -ẤY mới là CÁI DỤNG của Phật ngôn giải thoát !

<>Có lẽ đó là lý do, mà về sau đa số thiện trí thức…quan tâm nhiều về danh từ “PHẬT HỌC”. -Chữ “HỌC” (Sekkhā) trong tiếng “Pāḷī” vốn hàm nghĩa “áp dụng để xác chứng” (thực tế),sẽ giúp chúng ta “nghiên cứu thoáng hơn” là “khép mình” trong danh từ PHẬT GIÁO”. -Vì đối với phàm nhân, 2 từ ngữ vốn “liên hệ nhạy cảm với nhau” là “bảo thủ” (=y cứ kinh điển) và “phát triển” (canh cải, sửa đổi xa rời Phật ngôn) dễ trở thành “2 nguồn đối nghịch”…dẫn đến xung đột…“che mờ” TRUNG ĐẠO ! -Còn nội dung chân thật của “PHẬT HỌC” vẫn là “giáo lý nguyên thủy” hay “Pháp Luật Giải Thoát của Thánh Nhân” (Ariya Puggala Dhamma-Vinaya = Theravāda), như Lời Phật ngày xưa, -nhưng NÓ không bị “hạn chế” cứng ngắc bởi “cái khung thánh điển”! -Vì “PHẬT HỌC” thì bao gồm được các “ngữ lục” (thực dụng) do nhiều “tổ sư” thừa truyền Đức Phật (như Ca-diếp, Xá-lợi Phất, Mục-kiền-liên, Ca-chiên-diên…v…v…) kinh cẩn ghi lại…theo kinh nghiệm từng trường hợp !

*Nhờ “TÍNH THUẬN DUYÊN” (rất trung đạo) của PHẬT HỌC, mà chúng ta có thể bảo tồn “chánh pháp nguyên thủy”, đồng thời loại bỏ 2 CỰC ĐOAN (agga), gồm “bảo thủ” (=cố chấp) và “cấp tiến” (=lạm dụng), hầu tránh xa “2 mâu thuẫn”, là “khép kín” và “mở toang”, -mà hậu quả nếu không vướng mắc “khổ hạnh” thì chạy theo “hưởng thụ vật chất”, sa đọa !

-Mặt khác, PHẬT HỌC còn “chứa” những “chú giải cần thiết” (aṭṭhakathā avassakaraṇīya) cho sự soi sáng pháp hành, do tiền nhân từng trải thanh tịnh nói ra, nhờ họ đã được giải thoát vĩnh viễn hay có hạn. -Chưa kể “Phật học” cũng là chỗ chứa kết quả của thực hành,“giao thoa” với một số CHÂN LÝ từ các tinh hoa văn hóa khác (ngoài Phật Giáo), được “nghiệm chứng hội nhập” vào PHÁP GIẢI THOÁT, trong điều kiện ôn hòa, do các tinh hoa ấy luôn luôn ăn khớp với tôn chỉ Đạo Phật !

Thử nêu mấy câu thơ dân gian sau đây, làm bằng chứng :

“Trong đầm gì đẹp bằng sen,

Lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng.

Nhụy vàng bông trắng lá xanh,

Gần bùn nhưng chẳng hôi tanh mùi bùn !”.

*Trong Tam Tạng Kinh Điển Pāḷī, chúng ta không tìm thấy đoạn nào có thể dịch ra “nghĩa đen” Việt ngữ như thế, nhưng nội dung bài thơ thì rất Phật học. Nó gián tiếp nói lên rằng “thân tâm phàm phu tuy còn bị ô-trược bởi tham sân si, nhưng do Tu Phật bằng giới định tuệ thuần thục…nó vẫn thăng hoa, tinh khiết, thánh thiện!”. -Bài thơ nầy tuy thuộc về “Văn chương dân gian” nhưng đã hội nhập vào Phật học !

Khi khuynh hướng tìm kiếm ánh sáng giác ngộ được xử dụng một cách CHÁNH KIẾN, nhằm cải thiện cá nhân lẫn xã hội, để chấm dứt những hành vi tội lỗi, sa đọa…thì lúc ấy tâm thức (citta-viññāna) mới có năng lực tiến hóa ! Hai chữ «HÀNH VI» ở đây ám chỉ nghiệp lành do bộ ba thân-khẩu-ý đã được cải thiện thực sự, trong việc đối xử (cộng nghiệp) với xung quanh, -chứ không phải lý thuyết của tư duy, hầu hết do vô minh chủ động, phối hợp với lòng tham…biểu lộ ra cửa miệng một cách “lạm dụng”, nhằm “nhồi sọ người nghe” với lý lẽ “TÁNH KHÔNG”, vốn không phải là công phu giải thoát (=ba-la-mật).

-Theo Vi Diệu Pháp (abhidhamma), “sản phẩm suy luận” (saṅkappo vipāka) hay “dẻo miệng tâm lý” (vacīkammā) chỉ là “biểu lộ sắc bén” (=ma mị) từ tưởng uẩn (sañña-khandhā), –một trong năm tập hợp thường xuyên xung đột, vỡ vụn (saṅkhittena), hằng nhiễm độc bởi tham sân si, phiền não…vốn chứa khả năng ngấm ngầm lập thành nền tảng khổ đau => thân tâm luân hồi của con người !

<>Và “Phật học” giúp chúng ta biết, các “đại triết gia”, dù có bộ óc được xếp hạng «lỗi lạc» đến đâu…nhưng hễ còn phàm (=thân tâm chưa tẩy sạch tham sân si), thì vẫn chưa có CHÁNH KIẾN (neva sammādiṭṭhi) một cách TOÀN XẢ (upekkhā sahagatā) như Thánh Nhân đã Giải thoát. -Người đời “tôn vinh” triết gia, vì họ đã nghiên cứu hầu hết các nguồn tín ngưỡng lớn nhỏ trên thế giới, kể cả «Phật giáo»…để nêu ra một số “giải pháp”, gọi là phát triển tinh thần đạo đức, «bình an nhân sinh» ! -Nhưng trên thực tế, tất cả học thuyết ấy vẫn vướng mắc và mâu thuẫn, -cụ thể là khi chúng thiết lập được điều tốt ở mặt nầy…thì làm phát sinh mầm xấu ở mặt kia, xuyên qua nhị biên đối đãi !

-Kết quả, sự xung đột hay khổ đau trong cuộc sống vẫn tiếp tục, càng ngày càng rắc rối, khó khai thông ! -Rồi người ta không ngừng tìm kiếm một “đấng linh thiêng” (với phép lạ), hay một thứ “chủ nghĩa” giỏi lời lẽ thuyết phục (=tâm lý), đủ năng lực lôi kéo, “hướng dẫn” xã hội…đi vào một khuynh hướng mơ ước, gọi là “hạnh phúc bền vững” nhưng không bao giờ có ! -Và nếu «chủ nghĩa» hay «phép lạ» xuất hiện, thì ấy cũng chỉ là một mầm móng mới của mất thăng bằng cũ ! -Vì trong chiều sâu, “chủ nghĩa” và “phép lạ” đều ngầm chứa sự cuồng tín (TÀ KIẾN), mà tính phá hoại sẽ nguy hiểm hơn nhiều ! 

<>Chiêu bài “phát triển đạo đức” của tôn giáo duy thần hay chủ nghĩa duy lý khi nêu ra thì rất hay, và tất nhiên được một số lớn nhân loại đề cao, tạm xem như có thể «đối trị» các hiện tượng xung độ, gây khổ đau, trong đời sống nặng về nhu cầu vật chất, do bản năng (hay thân tâm chứa tham sân si) không ngừng đòi hỏi. -Nhưng “chiêu bài ấy…vốn rất KHÓ chuyên chở đúng cái «nội dung chỉ nam» hướng dẫn nhân loại đến bình an chân thật nếu không có chánh kiến !Nhất là CHÁNH KIẾN (sammādiṭṭhi) dựa trên nền tảng vô ngã (anatta), không cầu lợi cho một tín ngưỡng hay đảng phái !

*Xin nhắc lại PHÁP DUYÊN KHỞI (paṭicca samuppāda dhamma) ở đây, rằng  chánh kiến trong Đạo Phật cũng là “hoa trái”, nở ra từ trải nghiệmCÔNG PHU LÀNH (kusala kamma pāramī). -Nói cách khác, “nếu không thuần thục chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm chánh địnhthì không có chánh kiến !” (natthājīva natthisammādiṭṭhi).

<>Chưa kể có bao nhiêu tôn giáo (tín ngưỡng) lẫn chủ nghĩa (chính trị), thì có bấy nhiêu thứ “đạo đức” để «làm tín đồ ngoan đạo» hoặc «làm đảng viên ưu tú». Nhưng để làm “CÔNG DÂN TỐT” thì ít ai nói đến phương pháp KHAI TRÍ nào cả, -vì “công dân tốt vốn không cần được quản lý”! -Và đối với tôn giáo hay chủ nghĩa chính trị “muốn được gọi là công dân tốt”, trước tiên phải là «tín đồ thuần thành» hoặc «đảng viên xuất sắc»…do họ nhồi sọ !

<>Tất cả “tác phong gương mẫu”, -nhìn chung trên bề mặt…thì dường như “đẹp giống nhau”, nhưng trong chiều sâu (theo cường độ tuân phục) thì…quả thật rất khác ! -Sự «tương đồng ba phải» nầy trên lý thuyết, đã tạo ra “câu ngạn ngữ” khá phổ thông trong dân gian, là «đạo nào cũng khuyên con người ăn hiền ở lành !». -Hay «nên sống thực thà, tuân thủ mệnh lệnh nhà nước là người có ý thức chính trị», -nói theo kiểu “truyền bá chủ nghĩa”!

-Thế tạo sao ngòi nổ của bom đạn chiến tranh, nhân danh “tôn giáo” (đạo đức) lẫn “chủ nghĩa” (hòa bình), vẫn đã không được tháo gỡ, -mà trái lại chúng càng ngày càng được gia tăng sản xuất ?! -Chưa kể người ta còn nói «muốn duy trì hòa bình”,“hạnh phúc bắt buộc phải chuẩn bị chiến tranh, để tự vệ”…» !

 <>Theo PHẬT HỌC (tức “giác ngộ nhờ thực hành thiện pháp”), thì tham sân si hằng “bám chặt” thân tâm con người, hay nói chung là trong tất cả động vật. -Riêng lòng ích kỷ (=ác tính của tham) thì với nhiều mánh khóe, khó nhận diện, và sự biểu lộ của nó thì rất tráo trở ! “Lòng ích kỷ” chỉ muốn kẻ khác “dẹp bỏ 2 tật tham và sân”, nhưng chính đương sự…thì luôn luôn “tự dung dưỡng”, ngấm ngầm biện hộ…xem “ấy” là “tốt” hay “vô hại !”(?). -Nhất là nó rất khéo léo “un khói bản ngã nơi tâm”, lộng hành trong tư tưởng…rằng “ta là giáo sĩ thuộc hạng thượng căn thượng trí” (-tức đầy đủ “đạo đức”?), hay “ta là cán bộ, chỉ sống phục vụ chủ nghĩa” mà thôi ! -“Tuyệt chiêu” nầy luôn lừa gạt xã hội loài người, qua hình thức “tôn giáo tín ngưỡng” hay “chủ nghĩa chính trị”…một cách đa dạng, nhiều khi rất “tinh vi” ! 

-Từ đó phát sinh “luận cứ miễn tội”, đề cao “tà tính triết học” (=“khôn ngoan gian trí” mạo nhận là “thông minh giác tuệ”), tấn phong “tật ích kỷ”…rằng “giai cấp tăng sĩ” của một “tôn giáo”,hoặc “lãnh đạo ưu tú” của một “chủ nghĩa” thì “vô nhiễm” (?). -Những “sai lầm” của họ chỉ là “tiền đề” (=cái cớ), để “thẩm quyền tối cao” hay “anh minh trung ương” cải thiện cuộc đời !(?). -Đây quả thật là sự đồng lõa gian ác của TÀ KIẾN cấu kết với NGỤY THUYẾT !

*«PHẬT GIÁO NGUYÊN CHẤT» dứt khoát xem hành động lành dù “tầm thường” đến đâu cũng cao quí hơn giảng thuyết hay. -Vì đạo đức bản thân mới chính là “chân lý vô ngôn” trong tâm thức kẻ giác ngộ. Và hành giả cũng không để bị ảnh hưởng bởi “văn chương hùng biện”. Họ thanh tịnh cho rằng “kinh phật chánh thống nếu không được áp dụng, thì chỉ là lý thuyết trống rỗng”. Đồng thời người tu thân vẫn lấy trải nghiệm thăng hoa (trong thiện pháp) làm nền tảng, để thoát khỏi tình trạng “tiến dần” đến “nhàm chán”, xem nhẹ đạo đức, -nhất là tránh sự bắt chước lý luận đề cao “tánh không”…để gọi là “bỏ chấp” hay “chẳng tự trói mình”, nhằm được ngụy biện cho “tự do hành động” sau nầy !(?)

<>Trong đạo Phật, khi đã vững vàng “công phu Ba-la-mật” (pāramī) trên nền tảng CHÁNH KIẾN (sammā-diṭṭhi pāramī), triệt tiêu gốc rễ bám chặt bản ngã (attupādāna nittharati), người noi gương giải thoát, hay HÀNH GIẢ THANH TỊNH sẽ tự nhiên sáng suốt, biết rõ…-không “mơ hồ”, -không “lẫn lộn” giữa các cặp “từ ngữ qui ước”, của  triết luận phàm tục thế gian…sau đây : 

*Ấy là…«ta» hay «không phải ta» -bất định (1),

*Ấy là…«biết chính mình» hay «chưa biết chính mình» -hoang mang (2),

*Ấy là…«tâm an trú» hay «tâm vọng động» -tan loãng (3),

*Ấy là…«thực chứng», hay «ảo chứng» -mất hướng (4),

*Ấy là…«chấp giới» hay «phá luật» -vô tri (5),

*Ấy là…«vướng công phu» hay «xả công phu», -thành kiến (6),

*Ấy là…«có thực tại» hay «không thực tại», -u-minh (7),

*Ấy là «đầu đà chế dục” (theo Phật) hay «khổ hạnh bà-la-môn» -phiêu lưu (8),

*Ấy là…«tu thật» hay «tu giả» -ly trí (9),

«Ấy là…Phật» (dứt sinh tử) hay «Bồ-tát» -còn luân hồi (10).

-Đối với một tu sĩhọc vị lớn hoặc tu lâu năm, được tôn xưng là cao tăng, mà lòng chưa sạch tham sân si (=phàm phu), thì chắc chắn tất cả những «giòng suy tư» (nhị biên) nêu trên…họ đều không thể tránh được !

*Nhưng khác hẳn hạng phàm phu, một Thánh nhân sau khi đã VIÊN TRÒN phạm hạnh BA-LA-MẬT (paramattha pāramī bhāvanā), hay thuần thục giới định tuệ (sīla-samādi-paññā visiṭṭhattaṃ), thì NGÀI luôn luôn tươi tỉnh trong CHÁNH NIỆM (sammā saṭi), và thông thấu mọi thực tại thân tâm (rupanāma sampajañña, trong lẫn ngoài). -Từ đó, Bậc Giác NgộTHẤY RÕ (abhibhavati) sự khác biệt (visesa-lakkhaṇa) trong «10 nhị biên» vừa nêu…giữa «chánh niệm lẫn chánh định» và «bế tắc tư duy»…vốn rất khó tránh…nơi những kẻ phàm phu tục tử (kể cả «tu sĩ»)…để các Ngài tùy duyên hướng dẫn…! -Và nhờ sự tiếp độ nầy, mà thiền sinh tinh tấn có thể MINH SÁT (vipassateyya), để trong bước đầu đủ sức vô hiệu hoá tình trạng hôn trần thụy miên (thīna-middha nīvarana=trì trệ, lười biếng) do vô minh (avijjā) gây ra, trước khi đối phó với «10 thắc mắc «hàng hai» ấy… -nhằm đạt «tâm cảnh» thảnh thơi…tự tại !

Nói cách khác,một THÁNH NHÂN hay tịnh sĩ đã đắc đạo thì lúc nào cũng tỏ ra nhẹ nhàng, tươi tỉnh, và tích cực…trước mọi «hiện tượng», chứ không lừ đừ…để dễ dàng nhàm chán thiền pháp…vì bất cứ lý do gì ! -Còn «hành giả phàm nhân» khi «đối diện» với các cảm giác nặng nề buồn ngủ hay «bế tác tư duy» thì lập tức bỏ rơi sự tinh tấn và «tìm cách biện hộ» dựa trên «lý thuyết vô ngã», dễ rơi vào tà kiến, cho rằng tất cả đều dẫn đến cái «không», rồi xem sự tinh tấn lẫn quả lành của công phu chỉ là «chấp nhất» !

<>Nghĩa là thân tâm trong sạch, khinh an lẫn sẵn sàng hòa nhập vào thoát cảnh của một bậc chân tu, không bao giờ có thể «trá hình», để bị «hiểu lầm»…giống như tư cách của một «giáo sĩ…từ háo danh đến lười biếng…rồi gian manh dựa vào bằng cấp mà hùng biện». -Mục đích của «xàm tăng» là nhằm đề cao 2 chữ «vô chấp» (=rỗng tuếch), hay «tánh không» (tưởng tượng), để chủ trương chẳng làm gì mà vẫn có thành tựu địa vị cao…nhằm hưởng thụ an nhàn, trên lòng tin của đa số tín đồ nhẹ dạ ! -Hiện tượng đạo đức giả nầy chính là «sự phá hoại» của ác ma đối với CHÁNH KIẾN ! -Còn nếu nói theo «ám chỉ ngày nay» «tai họa nầy» gọi là «trổ tài của quỉ các cấp»…đang ngụy biện (đánh lạc hướng), cổ võ «chiêu bài tôn giáo phát triển», khuyến khích «phá rào đạo lý», vô trách nhiệm…trước sự đau khổ cùng cực của quốc dân đồng bào !

<>Quay lại HIỆU LỰC thâm diệu (abhibāla) và giải thoát (vimutti) của CHÁNH KIẾN (sammādiṭṭhi phala), là «triệt tiêu» sự mơ hồ hay lẫn lộn trong tư tưởng phàm tục, liên quan đến «triết lý đối đãi» của các ngôn ngữ chế định do trí thức hiện đại nêu ra, chúng tôi xin nhắc lại SỰ THẬT MUÔN ĐỜI rằng, «Giải thoát hết tất cả chúng sanh trong tam giới» là một điều «KHÔNG TƯỞNG» chẳng bao giờ có, -ngoại trừ «ngu tín», «phản trí tuệ», «phản khoa học», và hoàn toàn trái ngược Đạo Phật ! –«ĐỘ TẬN» là cái «bánh vẽ» !

-Người mang «học vị cao » mà không có «trình độ tương ứng», sẽ là kẻ lủng đoạn văn hóa, lừa gạt xã hội, phá hoại giáo dục, và chủ trương NGU DÂN. -Còn người mặc áo nhà chùa mà không nghiêm trì giới luật là phần tử bôi nhọ Đạo Phật…một cách chắc chắn và nhanh chóng, đồng lõa với duy vật, vô thần, ma vương, hằng làm cho cuộc sống nhân loại…rơi vào hỗn loạn, đau khổ !

<>Khi biết như vậy mà mỗi người trong chúng ta cứ làm ngơ, vì sợ «nếu phản đối thì hậu quả xấu sẽ đến với mình» rồi im lặng, thì thật tế là một thái độ bất thiện, vô trách nhiệm «mặc nhiên chấp nhận ác tố» trên cõi đời cần tiến hóa ! Và dù muốn dù không, cái VÒNG VẬN HÀNH (tự nhiên) của «bánh xe nghiệp quả» vẫn quay đều…và đang chứng minh rằng, kết quả đen tối của những ai gieo nhân ác…sẽ hiện ra oan trái, trả báo… mỗi ngày một rõ hơn !

*Hễ thấy biết đúng (CHÁNH KIẾN) thì suy nghĩ đúng (CHÁNH TƯ DUY).

*Hễ suy nghĩ đúng thì tin đúng (CHÁNH TÍN).

*Hễ tin đúng thì hành động đúng (CHÁNH NGHIỆP).

*Hễ hành động đúng thì kinh nghiệm đúng, KHAI TRÍ, dẹp ngu dân !

<>Và để cống hiến NGUYÊN TẮC CỤ THỂ…trước khi chấm dứt bài phát biểu khiêm nhượng nầy, chúng tôi xin nêu ra 4 chi pháp của CHÁNH TÍN (sammā saddhā) trong nhà Phật, rằng người muốn tiêu diệt si mê, chấm dứt lạc hậu…thì chính mình phải áp dụng và quảng bá các pháp học sau đây ra nhân quần, –để tiến hóa cho mình và cho người :

1/Hãy tin NHÂN (hetu saddhā), -mọi hành động đều chắc chắn«nguồn gốc» của một «thực tại (vui hay buồn) sẽ xảy ra. Nó chỉ đến sớm hay muộn mà thôi !

2/Hãy tin QUẢ, (vipāka  saddhā), -mọi tình trạng sống (tốt hay xấu) đều chắc chắn là «kết thành tự nhiên» của một hay nhiều hành động (thiện/ác) đã làm.

3/Hãy tin NGHIỆP (kamma saddhā) «là hành trang duy nhất» trong luân hồi, gồm NHÂN lẫn QUẢ (hetu-vipāka paccaya bhava) không bao giờ có thể xóa mất hay chuyển nhượng. Nghĩa là «biệt nghiệp của người nào, thì người ấy phải gánh vát (vui hay khổ), hoàn toàn chẳng tránh khỏi». Và có khi nó cũng ảnh hưởng người khác !

4/Hãy tin PHẬT (Buddha saddhā) là bậc TOÀN XẢ. -Ngài đã đoạn tận tham sân sikhông mong cầu hưởng thụ phúc đức, nên khi nhắm mắt Phật hết tái sinh luân hồi, và dứt hẳn cả khổ lẫn vui.

(-Viết vắn tắc 4 chi của Chánh Tín cho dễ nhớ, làTin NHÂN. Tin QUẢ. Tin NGHIỆP. Và Tin PHẬT).

*Ai sống dựa trên BỐN CHI PHÁP như vậy, là người có CHÁNH TÍN, và tất nhiên có CHÁNH KIẾN !

Namo Buddhāya = Mô Phật.

Cám ơn toàn thể quí vị, đã chịu khó đọc hết «phát biểu» nầy.

Kính chúc đọc giả bốn phương thân tâm thường an lạc.

TL.

Laisser un commentaire