Phụ lục 1. Bài 20

(Liên đề  «Đạo Phật, Khoa Học, Thiền Pháp, Sức khỏe»)

«Tu cái tâm»<=HÀNH THIỀN=>«Sửa niềm tin»

(Thanh lọc tư duy=Cải thiện tưởng uẩn)

——————-

1-Mô tả «TÂM» (citta-viññāna, hadayavatthu).

*Nêu một số “ẩn dụ” liên quan đến «trú sở»  :

<>“TÂM” khi tượng trưng bằng «dấu chấm ở trung ương», thìtuy nhỏ…nhưng «NÓ» là định vị của «vai trò chủ chốt». -Người ta còn gọi ẤY là «tâm điểm», hay ẤY là chỗ quyền lực cao nhất. -Khi TÂM «thuần là vật lý» (rūpa) thì chi phối toàn bộ guồng máy. -Và khi “NÓ” là «hỗn hợp lý hóa» (rūpa-nāma) trong một sinh vật, nhất là con người thì «có phận sự» rất kỳ diệu. -NÓ chính là cái “năng lực linh động” (iṅdriya), và là “hoạt cơ” (hadaya=tim) của vận hành thể xác(kāya), đồng thời cũng là « «nguồn cung cấp» năng lượng (uyyāma) cho sinh hoạt tinh thần(maṅo).

*«TÂM» nầy (idaṃ cittaṃ) vừa làm việc «hữu hình» vừa làm việc «vô hình», vượt khỏi mọi «công thức khoa học tối tân». -NÓ biểu lộ cả 3 trạng thái (=tầm vóc), là –cực tiểu (natthi), cực đại (atthi), -và TẤT CẢ (sabba) !

<>Đối với tư tưởng tôn giáo, “TÂM” có “nhiều phẩm cách” để diễn tả, như «tâm lệch lạc» thì cuộc sống nghiêng ngả đảo điên, «tâm gian manh» thì cuộc sống bất an, –«tâm sân hận» (nóng nảy, bức xúc) thì cuộc sống hận thù, «tâm đố kỵ» thì cuộc sống cô lập, –«tâm tham lam» thì cuộc sống cạnh tranh, tàn nhẫn, dối trá.v…v…

Về «VỊ TRÍ», thì ngụ ý phẩm giá của TÂM có thể :

-Trong lồng ngựclà tâm bẩm sinh, thu và phát sự yêu thương.

-Ở bàn tay là tâm làm đẹp, tạo ra mỹ thuật, trang trí cuộc đời.

-Ở đôi mắt là tâm thiện cảm, nhìn thấy nổi khổ vui của nhân gian.

-Ở hai chân là tâm tích cực, nhanh bước cứu giúp người khốn cùng.

-Ở cửa miệng là tâm hòa nhã, nói lời cảm thông, an ủi kẻ bất hạnh.

-Ở lỗ tai là tâm vô tư, biết nghe lời chánh trực, công bằng, xây dựng.

-Ở đôi vai là tâm gánh vát, luôn nhận trách nhiệm, trong sự sống.

*Theo Phật học, muốn cho TÂM thường xuyên ở VỊ TRÍ có hành động xứng đáng, thì phải thực hiện GIỚI ĐỊNH TUỆ, nhất là TU THIỀN (=thường định), để giảm thiểu hay dẹp bỏ tham sân si.

*Theo khoa học, TÂM BÌNH TĨNHcó 2 hiệu lực :

1/Biểu lộ đúng «ĐỘNG ĐỒ» của não bộ (xuyên qua máy MRI).

2-Biết rõ mìnhvà người khác, ở TRẠNG THÁI NÀO (an hay loạn). 

<>Mặc dù ngày nay các nhà khoa học, đã thành công trong việc phát minh các máy móc tinh vi, “đo được hiện trạng” để tương đối xác nhận LỜI LẼ phát ra từ 1 tâm thực thà hay từ 1 tâm dối trá. Nhưng tiến bộ ấy vẫn chưa đủ để KHÁM PHÁ một con người (vốn luôn luôn phức tạp !). -Như khoa học gia tên Gallant, đang tìm cách «ấn định» những gì diễn tiến trong đầu một con người.Vấn đề mà ai cũng cho rằng “đó là thế giới riêng của mỗi cá nhân, nơi được cho là «bất khả xâm phạm», để phàm phu dấu kín những bí mật !”(?).

*Và để bổ khuyết cho “máy móc điện tử chưa đạt tới mức xác nhận thực tại nội tâm”, môn VI DIỆU PHÁP (Abhidhamma sikkhāpada) trong nhà Phật (Theravāda Budhhasāsana), đã ngẫu nhiên trở thànhKhoa học Thức Tánh (cittaciññāna-vjjā), một «kỹ thuật siêu quan sát» vào biến hành năng lượng của TÂM (sabbacitta-sādhārana). Ấy là «Bản Sắc Tinh thần» (maṇa lakkhaṇa) trong con người, -bao gồm các thành tựu thiền pháp (bhāvanā samiddhi), mà nhiều nhà khảo cứu hệ thống thần kinh (neurologues) ngày nay đang rất chú ý.

*Rồi trong «Năng Lực Định Tâm» (samādh’iṅdriya bala), cũng có nói về các «thần thông» (abhiññā), như một «kết quả tự nhiên» của CÔNG PHU (pāramit’āyāsa), gồm “thiên nhãn thông” (dibba-cakkhu), “thiên nhĩ thông” (dibba-sota), “túc mạng thông” (pubbenivā-saññāna) và tha tâm thông” (cutūpapā-saññāna). -Nghĩa là thần thông không phải là «phù phép» do «đấng toàn năng» ban cho, mà là chính đương sự «đã thuần thành» trong «thăng hoa tri thức triệt tiêu hạn chế» (=vô hiệu hóa vất chất).

-Từ đó, bậc đắc thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, túc mạng thông thì «TÂM» trở thành vô trở ngại trong việc THẤY, NGHE rồi BIẾT mọi đối tượng…giữa không gian lẫn thời gian. Còn bậc đắc tha tâm thông thì có thể biết được Ý NGHĨ (cintā, cetanā) của kẻ khác một cách không nhầm lẫn, căn cứ trên những “giao thoa tâm trường”, giữa “ĐỊNH NHÂN” hằng thanh tịnh (visuddhi puggala) và các tư ý ngũ ngầm của đối tượng nào còn tham sân si (puthujjana).   

<>Tuyệt diệu nhất là Đức Phật (Thích-ca Mâu-ni), nhờ đắc LẬU TẬN THÔNG (āsavakkhayaññāna), dứt sạch tam độc mà tự tại… biết mình đã hết phiền não (vô lậu hoặc), nên tâm thức NGÀI trong suốt như kim cương, tương đương với NGUỒN LINH QUANG tinh khiết, trong trắng, không màu sắc…có thể “xuyên thấu” mọi tư duy của muôn loài chúng sinh, để xác nhận “căn duyên” của mỗi cá tính…mà tùy duyên cứu độ.

-Mặt khác, không phải vì PHẬT là bậc “toàn giác” (sammā sambuddha) biết tất cả, mà Ngài «có thể» gieo rắc cho chúng sanh, (nhất là loài người) cái niềm tin ỷ lại, hay mê tín (miccha diṭṭhi), coi thường hiệu lực của BA-LA-MẬT (tức công phu pāramitā), chỉ cầu cạnh nơi tha lực, thỏa hiệp với lười biếng và thụ động…để tất nhiên không tránh được tư tưởng sai lệch rằng, “Phật có thể đưa những tâm hồn tội lỗi đến niết-bàn, «mỗi khi đương sự chợt nhận ra quả khổ…rồi gọi là…giác ngộ», –nhất là trong giai đoạn đang trả giá sa đọa rất đắc…trước SỰ THẬT (nhân quả), mà trước đó họ đã không tin…rằng NGHIỆP BÁO hành trang duy nhất của mình trong mỗi chu kỳ sinh tử !  -Xem ra «biết hối hận chưa phải là phẩm cách siêu độ…và vẫn còn rất xa cứu cánh giải thoát» !   

-Do đó trong giáo pháp của Đức Thích-ca, không có chuyện «đồ tể buông đao thành phật», như thế gian tham lam vẫn dựng lên. -Mà đơn giản chỉ là «đồ tể trước tiên phải buông đao sát thủ, rồi sau đó nếu quyết tâm xa lìa nghiệp ác, trau dồi nghiệp lành…thì thiện hạnh ấy tương lai mới có thể giúp đương sự dần dần…thành Phật» !

*Có rất nhiều SỰ THẬT (Ariya Saccāni) trong TAM GIỚI chúng sanh (tiloka-sattā), người phàm dù thông minh đến đâu, vẫn không thể nắm bắt được…khiến cho đa số nhân loại, dễ rơi vào “bẩy cứu độ” của “tha lực một chiều”, nên Phật giáo (=đạo đức của TRÍ TUỆ) đã không ngừng khuyến khích “công hạnh tự lực”. -Vì đó là “chánh pháp tương tác” (=vốn đa chiều), -hay nền tảng duy nhất để TIẾN HÓA, đưa đến GIẢI THOÁT nhờ giác ngộ rồi dũng mãnh thiết lập công phu ĐÚNG !

-Kinh Phật nhiều đoạn cũng tiết lộ rằng, “trong thời gian Phật còn tại thế, Ngài đã cứu độ nhiều kẻ khốn khổ» (do hữu duyên). –Tất nhiên “ân đức vô lượng” của Phật, cũng có thể giúp nạn nhân “vượt qua” một số “cảnh xấu đặc biệt”. -Nhưng đó hoàn toàn không phải là «tính thiên vị» của «một quyền năng được tôn vinh», mà chỉ là “phúc phần hội đủ” ! -Rồi sau khi Phật tịch diệt, sự biểu lộ “ân đức cứu khổ” ấy tự nhiên phải trở thành hiếm hoi, –không thể tồn tại như một phép lạ nhất định…giữa Thánh nhân và phàm phu…cho dù họ đang rất hướng thiện ! -Nói chung, Phật giáo vẫn tùy duyên tiếp độ chúng sanh suốt mọi thời, -không phải chỉ trong giai đoạn Thế Tôn (Bhagavā) còn tại thế, nhưng sự tự lực và đủ duyên lành vẫn là động cơ chính !

-Tóm lại, MÊ TÍN hay trông chờ thần thánh ân xá tham sân si là “nguyên nhân sa đọa” ! -Đức Thích-ca Mâu-ni (Sakya-Muni) trước khi thành bậc «Chánh Đẳng Chánh Giác» (Sammāsambuddha) là một Bồ-tát tu hạnh trí tuệ (paññādhika bodhisatvā), nên Ngài biết rõ và luôn luôn xác nhận «ân đức vô lượng kiếp tô bồi bát-nhã ba-la-mật để tự cứu» là phương pháp bất di bất dịch ! -Phật không thể xử dụng năng lực toàn thiện của Ngài, để “tiếp độ” chúng sanh một cách vượt qua chánh pháp !

-Vì đó chính là điều về sau chắc chắn sẽ gây ra tà kiến (miccha diṭṭhi), lạm dụng danh nghĩa đạo hạnh, lừa gạt chúng sinh…bởi một số tăng sĩ tham sân si, «mượn danh» tôn giáo !

-Hơn nữa, việc một Thánh nhân đọc được tư tưởng đầy ái dục của phàm phu…rồi từ bi khuyến thiện, cũng chẳng giúp ích gì một cách căn bản cho đối tượng, nếu chính đương sự chưa vững vàng thức tỉnh, chẳng tình nguyện tu tập…-nhằm gạn lọc tâm tánh và giũa mòn tham sân si, nhằm hóa giải những kiết sử (hay lậu hoặc chồng chất từ nhiều kiếp). -Mục đích của giác ngộ là làm sạch cái TÂM không thật với chính nó và không thật trong cộng nghiệp chúng sanh !

2-Tu hành TƯƠNG TÁC.

<>TU HÀNH (sacchikaraṇa) theo Đạo Phật (Buddhadhammena kusalajīvitaṃ karoti), là hằng ngày thanh lọc thân tâm, tạo nghiệp lành, bằng thường xuyên thực hiện thiện pháp, bắt đầu từ năm giác quan (pañca dvārāni). -Phật giáo gọi 5 giác quan là ngũ căn (pañca-iṅdriyāni).Tu hành đúng theo đạo Phật, phải có hiệu lực giảm tối đa, rồi dứt hẳn nghiệp dữ do 5 giác quan ấy vận dụng. -Những hình thức, như lễ bái, nghe giáo lý, thuyết trình, thảo luận Phật pháp, đọc sách, tụng kinh, niệm Phật…v…v…sau khi qui y Tam Bảo, dù một người đã tham dự nhiều lần từ lâu, nhưng nếu chưa thể hiện bằng giới hạnh…thì ấy chỉ là «nghi lễ khởi đầu», hoàn toàn thuộc về hình thức (theo thị hiếu thế gian), không gọi là tu hành tương tác đúng nghĩa !

<>Một nhà phạm hạnh tương tác luôn luôn quan niệm rằng, “mọi sinh hoạt trong sự sống thế gian, đều trực tiếp hay gián tiếp (xa hoặc gần) có nghiệp quả liên hệ lẫn nhau”. -Không một ai có thể gọi là «sống biệt lập» thực sự trên mặt đất ! -Vì chẳng có môi trường (hay cảnh giới) nào chỉ có một sinh linh duy nhất tồn tại… -mà tất cả chúng sanh đều hiện hữu trong cộng nghiệp…ít nhất là từ 2 đơn vị trở lên. -Như trên thực tế, mỗi sinh linh (loài người/vạn vật) phải có nguồn gốc, tổ tiên, cha mẹ, quyến thuộc, đồng loại lẫn khác loại…đang «luân hồi» với nhau…. -Đây là một tiền lệ cố định trong cả tam giới !

-Và vì đã tạo NGHIỆP suốt vô số đời trước, nên kiếp nầy mỗi người chúng ta, phải mang một “thân thể lý hóa”. Và trong mỗi thân thể lý hóa, đã có sẵn 6 căn môn, tức là 6 cơ quan, hay 6 lưu thông thu phát trong ngoài (“nội và ngoại giới”), để tạo nghiệp (cả tốt lẫn xấu) thường xuyên làm «nhân-duyên-quả» cho đời sau. -Chúng không thể bị quyền năng nào xóa bỏ hay tự biến mất được !

*Người ta thường nói đến 2 chữ «TU TÂM», nhưng chính xác hơn phải nói là «TU SỬA 6 giác quan», hay tu tập với toàn bộ hành động sau khi đã nhận các cảm giác (ai, hỉ, nộ, ái, ố, lạc, dục = vắn tắt là vui, buồn, sợ, giận) xuyên qua 6 cửa ấy…trong kiếp sống !  -Đừng chạy trốn vô ích, bằng cách đặt câu hỏi lạc hướng «tại sao phải tu tâm ?» -Câu trả lời rất đơn giản là «tu tâm để cho chính mình bớt đau khổ» (được bình an), chứ không phải cho ai, hoặc vì lý do nào cả !

<>Pháp «thiền căn bản», gồm NIỆM THÂN (kāya anupassati) và NIỆM THỌ (vedanā aupassati) ám chỉ bước đầu, cách tu có liên quan chặt chẽ với mỗi sinh hoạt hằng ngày của con người -Vì xuyên qua thọ cảm 5 giác quan (hướng ngoại) và ở giác quan thứ 6 (bên trong), mà TÂMcó thể bị vô số trần cảnh làm cho ô nhiễm, hay với tình trạng ngược lại là được yên ổn, lành mạnh. -Nói cách khác, nếu hỗn hợp năm giác quan giác quan thứ sáu (Ý CĂN), mà bị các cảm giác xấu lẫn tốt làm cho loạn, thì tâm thức (citta-viññāna) thường xuyên bất định, bồng bềnh giữa KHỔ và VUI.

-Khi tâm thức lâm vào tình trạng như thế, thì sự sống hiện tại, tự nhiên rơi vào «cảnh xấu»…căng thẳng, mất sáng suốt, lạc hướng, hoang mang…như chiếc lá đang trôi theo hình tròn dần dần thu nhỏ…để cuối cùng rơi vào hố nước xoáy, phải chịu lôi kéo…trước sau gì cũng chìm sâu, vùi dập !

<>Năm căn theo Phật học, là 1/nhãn căn (thị giác, thần kinh mắt), 2/nhĩ căn (thính giác, thần kinh tai), 3/tỷ căn (khứu giác, thần kinh mũi), 4/thiệt căn (vị giác, thần kinh lưỡi), và 5/thân căn (xúc giác, thần kinh da). -Riêng ý căn chúng ta có thể tạm xem là trung khu thần kinh, hay căn quyền thứ 6. -Nơi ghi nhận, tồn trử toàn bộ cảm giác, kinh nghiệm…tốt/xấu…thiện/ác…!

*Tất cả 6 giác quan (hay «lục căn») nầy vốn luôn luôn tương tác với nhau. Chúng ta có thể ví «ngũ căn là 5 CỬAdẫn nước vào 1 cái ao nước lớn, hứng chịu bụi trần, -còn Ý CĂN là «động tử tắm gội trong cái ao lớn đó». -Nếu nước của 5 lối chảy vào được thanh lọc sạch sẽ, thì «SỨC KHỎE» của động tử tắm gội trong đó sẽ ít hay chẳng bị ô nhiễm, không tiếp tục biến dạng, để trở thành xấu hay tốt (thiện hay ác), và phức tạp…-nhất là biến ra «nửa xấu nửa tốt» (chứa thăng lẫn đọa)một cách liên tục !

-«THANH LỌC» ở đây ám chỉ 2 bộ phận văn hóa (tôn giáo) và giáo dục (học đường) của một quốc gia cần phải thông thoáng, trong sáng, khai trí, khoa học (-nói theo nhà Phật là đầy đủ CHÁNH KIẾN), để có hiệu lực tiến bộ nơi mỗi cá nhân, trẻ cũng như già trong 1 cộng đồng lớn lẫn nhỏ (địa phương và quốc gia) ổn định…hầu xây dựng văn minh thực sự, chứ không phải chỉ trên lý thuyết, tuyên truyền…như một số thế lực chính trị gian manh «tự phong danh nghĩa», khi đoạt quyền cai trị !

*Văn hóa (sabbhatā) và Giáo dục (sikkhāpana) phải như thế nào để cho MẮT (hay nhãn căn) của mỗi người dân không bị những hình ảnh suy đồi, dâm tục, làm cho nhơ đục trí khôn, phản chiếu sâu sắc thói xấu vào ý căn (TÂM).

*Văn hóa Giáo dục phải như thế nào, để cho TAI (hay nhĩ căn) của mỗi người dân không bị những âm thanh sa đọa, quyến rủ, làm cho nhơ dục trí khôn, phản chiếu thói xấu vào ý căn (TÂM).

*Văn hóa giáo dục phải như thế nào để cho MŨI (hay tỷ căn) của mỗi người dân không bị những mùi thơm tục lụy, làm cho nhơ đục trí khôn, phản chiếu thói xấu vào ý căn (TÂM).

*Văn hóa giáo dục phải như thế nào để cho LƯỠI (hay thiệt căn) của mỗi người dân không bị những vị say, làm cho nhơ dục trí khôn, phản chiếu thói xấu, như nghiện ngập, say sưa vào ý căn (TÂM).

*Văn hóa giáo dục phải như thế nào để cho làn da (hay thân căn) của mỗi người dân không bị những đụng chạm kích thích dục tính, làm cho nhơ dục trí khôn, phản chiếu thói xấu vào ý căn (TÂM).

*Văn hóa giáo dục phải như thế nào để cho Ý CĂN (hay THỨC TÁNH) của mỗi người dân không bị những tư tưởng tham lam, ích kỷ, chủ nghĩa cố chấp, gây hận thù…làm cho mờ đục sự sáng suốt, mất tính liên đới, phản chiếu trọn vẹn các thói xấu vào CHÍNH NÓ.

<>Nghĩa là, những người có trách nhiệm văn hóagiáo dục của một quốc gia, phải làm sao hướng dẫn, khuyến khích người dân tự cải thiện «bản năng bán khai, lạc hậu» (phàm tục, thú vật) thành «bản năng tiến hóa» (thanh cao). Vì trong BẢN NĂNG của mọi động vật (kể cả con người) vẫn có 2 mặt đối nghịch LÀNH và DỮ, thiện và ác.

*Lành là biết nhận ra đồng loại, sẵn sàng chan hòa tính khí để duy trì nòi giống, rồi che chở các mầm non của loài mình, an vui chung.

*Dữ là hung bạo, mù quáng, tham lam, chỉ biết sự sống cá nhân, trước mọi đối tượng cộng nghiệp, hằng gây nguy hiểm, hay lo sợ cho mình.

<>Trên thực tế, nhân loại ngày nay không còn nằm trong tình trạng man rợ như xưa. Đa số đã «biến hóa» rất nhiều. Trên thế giới đang có chẳng ít tôn giáo «xiểng dương đạo đức». -Tất cả đều đề cao khẩu hiệu «làm lành lánh dữ». Nhưng đáng tiếc, hạnh lành đang không là đa số trong xã hội, và tánh dữ đã không giảm xuống thiểu số. Tuy mặt vật chất của xã hội gọi là «văn minh» có vẻ mỗi ngày một “canh tân”, -nhưng ngược hẳn với mặt tinh thần, -đạo đức vẫn mỗi ngày một biểu lộ xuống cấp nghiêm trọng !

*Quan sát qua lĩnh vực «tôn giáo», không phân biệt cá thể, chúng ta thấy «đi tu ngày nay dường như là một nghề dễ phát đạt», không còn thuần túy là “thực hiện một nguyện vọng hướng thượng, sống thanh tịnh để giảm khổ cho mình, và làm gương thân giáo…cải thiện cho người”, nhằm xây dựng an vui xã hội chung.

Đoạn nầy người viết hoàn toàn không có ý «quơ đũa cả nắm», kính mong quá hiếm các nhà tu hành chân chánh tha thứ !

*Xem ra, ác tính trong con người giữa thời đại hưởng thụ vật chất, đã trở thành tinh vi. Sự cạnh tranh, giết chóc hàng loạt hay cướp đoạt của cải, tình cảm của những kẻ yếu thế, đã trở thành siêu đẳng, có «khoa học chính trị» yểm trợ. -Như trường hợp một số nước vừa kết thúc chiến tranh, xã hội từ dân chủ đa đảng trở thành chủ nghĩa độc tôn. Bộ máy cai quản người dân của phe thắng trận nắm trọn quyền sinh sát.  Người dân tại lãnh thổ thua trận phải «cung kính» dâng hết tài sản của mình cho «lãnh đạo thế lực mới, với lời lẽ «cám ơn giải phóng»…mà lòng còn lo sợ «bị từ chối». Vì «sự từ chối» tất nhiên tương đương với “bản án tử hình !”.

<>Quay lại 6 căn nói trên, Phật học gọi 6 căn bằng một cái tên khác là THÂN NGŨ UẨN (Pañcakhandha-kāya), gồm 1/sắc uẩn (=thân vật chất), 2/thọ uẩn (=thân cảm giác), 3/tưởng uẩn (=thân phân biệt, kết tập), 4/hành uẩn (=thân vận chuyển), 5/thức uẩn (=thân nhận biết đối tượng). –«Năm thân» nầy hợp với «ý thân» (=nơi tồn trữ việc mình làm), lập thành một «hỗn hợp tập khí danh sắc» gọi là con người.

*Và con người chỉ luôn luôn hành động, xuyên qua cái mà trong Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) thường gọi là «tâm vật», tức DANH SẮC (nāma-rūpa) hay tên gọi và thể xác. Nhà Phật còn nói rõ hơn…là «3 nghiệp sở» thân khẩu ý, -tương đương với 6 giác quan. (=thể xác và tinh thần). -Nói cách khác theo VI DIỆU PHÁP (abhidhamma), ấy là «TÂM VẬT» được giản dị hóa, gồm ý căn (maniṅdriya), cộng với ngũ căn (pañciṅndriyāni), -hay giác quan thứ 6 cộng với 5 giác quan kia, khi tuổi thọ con người chưa tận.

*Hơn nữa, người tu Phật tại gia có ý thức…vốn quyết tâm tình nguyện, chứ không phải chạy theo «cái mốt» của xung quanh, họ cũng không thể tuyên bố suông để giống «đồng đạo» cho vui…-mà cố ý gìn giữ 5 giới, là 1/không sát sinh, 2/không xan tham, 3/không tà dâm, 4/không nói dối, 5/không dùng chất say. -Nghĩa là tình nguyện giữ đúng 5 giới…-chỉ như thực hành bước đầu, trong việc thanh lọc năm giác quan (cụ thể) lẫn giác quan thứ sáu (trừu tượng).

Vì gìn giữ 5 giới nêu trên chính là thiết lập thọ cảm tốt với xung quanh, là khởi hành TƯƠNG TÁC lành mạnh, đồng thời nuôi dưỡng “thần giao hòa hợp” trong cuộc sống, giữa tâm thức mình với tâm thức người, hay giữa sinh lực một động tử, và sinh lực toàn thể chúng sanh, vạn vật,…vũ trụ.

*Mặt khác, giữ đúng 5 giới tức là không gây oan trái trong kiếp sống hiện tại. Tiếp theo người tu Phật mới áp dụng các thiện hạnh khác, như thiền pháp và bố thí, cũng như thường tạo duyên tế độ chúng sanh đúng cách. –Bước đầu giữ giới nầy nếu KHÔNG thực hiện đầy đủ, thì những bước tiến hóa sau đó…sẽ khó thành tựu, dù cho người giỏi lý thuyết có kỷ thuật biện luận «cao siêu» đến đâu !

-Kỷ luật “ngăn chận” những ác nghiệp nơi THÂN và MIỆNG, là bước đầu vững chắc của “công thức” GIỚI ĐỊNH TUỆ trong nhà Phật. Hầu hết chúng ta chắc ai cũng đã từng nghe câu châm ngôn bao hàm ý nghĩa TU HÀNH TƯƠNG TÁC, là «GIỚI năng sinh định. ĐỊNH năng sinh Tuệ». -Và nói thẳng ra, phương pháp duy trì sức khỏe thân tâm, cũng chính là GIỚI ĐỊNH TUỆ quí báu nầy !

<>Khi Thiền Pháp ĐỊNH TÂM (samatha bhāvanā) đã thực hành thuần thục, rồi biến thành minh sát (vipassati) chiếu qua những cảm giác bản thân, thì người tu Phật tự nhiên biết rõ rằng :

*Cái gì MẮT nhìn THẤY, ấy chỉ là 1 hình ảnh, như mọi hình ảnh.

*Cái gì TAI nghe THẤY, ấy chỉ là 1 âm thanh, như mọi âm thanh.

*Cái gì MŨI ngửi THẤY, ấy chỉ là 1 mùi, như mọi mùi khác.

*Cái gì LƯỠI nếm THẤY, ấy chỉ là 1 vị, như mọi vị khác.

*Cái gì DA chạm THẤY, ấy chỉ là 1 vật chất, như mọi vật chất.

*Cái gì Ý nghĩ THẤY, ấy chỉ là 1 ghi nhận, như mọi ghi nhận.

<> chữ «THẤY» trong 6 câu trên đều ám chỉ «cái thấy» của «mắt tâm» (không lẫn lộn), đồng thời «người tin Phật» cũng biết rằng, «các giá trị,phân biệt qua 6 cảm quan chỉ là nhất thời và luôn luôn có điều kiện !» –SỰ THẤY (citta dassana) ở đây là hiệu quả của ĐỊNH TÂM (bhāvanā citta). Còn VỌNG ĐỘNG (uddhacca) thì không thể minh bạch như thế. -Vì vọng tâm chỉ kết nối với những «dấu ấn» (vedanā), tốt xấu lẫn lộn, loạn lập !

<>Tưởng cũng nên nói thêm…là tiếng Việt chúng ta tuy không hoàn toàn, mà vẫn có chỗ “khá đặc sắc”, rằng con mắt vốn để nhìn, lỗ tai vốn để nghe, khối mũi vốn để ngửi, cái lưỡi vốn để nếm, làn da vốn để chạm, và ý tưởng vốn để nghĩ. -Nhưng «cảm giác lại được xem đồng nghĩa với THẤY» (dassana) là «khả năng ngầm» của tâm thức (citta viññāna), nên Phật học trong Việt ngữ…có các «động từ ghép» tuyệt vời…là «nhìn thấy», «nghe thấy», «ngửi thấy», «nếm thấy», «đụng thấy», và «nghĩ thấy».

-Tất cả những dấu ấn cảm giác do vọng tâm đã “thấy” và “ghi lại”, đều tự nhiên chồng chất, và tập nhiễm lên nhau (uẩn=khandha). «Cuốn sổ tâm thức» trong một phàm phu khi còn sống, không bao giờ có trang chót». Nó chẳng bao giờ «đầy», hay hết chỗ để viết, -như lòng tham mù mịt vô đáy vậy ! -Nói cách khác, khi một người không tu Phật…Ý CĂN không bao giờ ghi nhận một cách thông thoáng giản dị…thì đương nhiên tâm thức của kẻ ấy…sẽ bị tràn ngập bởi rất nhiều vọng tưởng, do các làn sóng cảm giác thuận nghịch xoay chiều gây ra.

-Những ấn tượng phàm tục do vọng tưởng kia, nếu THUẬN CHIỀU với THÂN TÂM, người ta bảo là hợp (=«dễ thương»=tốt=sundara), hay NGHỊCH CHIỀU với THÂN TÂM, người ta bảo là bất hợp (=«đáng ghét»=xấu=duṭṭha). -Rồi tâm thức phàm nhân (puthujjana-cittaviññāna) chắc chắn sẽ bị đè bẹp dưới những cặp cảm giác đối kháng, xung đột, lưỡng cực, xoay vần, kéo dài…như thế.

-Cả 2 chữ «TỐT» và «XẤU» ở cuối của 1 trong 2 nhóm chữ «người ta bảo là tốt» hay «người ta bảo là xấu», vốn ám chỉ cặp «TÂM QUẢ (vipākacitta) của tập khí THÂN KIẾN» (sakkāyadiṭṭhi-khandha), do vô số nghiệp quá khứ (atītakamma) tồn trử tạo ra. -Nói theo Vi Diệu Pháp (abhidhamma) !

<>Tồn trữ cũng có nghĩa là cô đọng, huân lập (hay hỗn hợp) và không ngừng THU GÓP, gia tăng thay đổi triền miên, không bao giờ ở tình trạng cũ. Đó là một tiềm lực tiếp nối (Patisandhi-bàla) giữa chập tâm đi trước và chập tâm theo sau…trong giòng tư tưởng phàm tục (puthujjana cittavithī), xuyên qua 6 căn, hay giữa «SINH hướng đến TỬ», đồng thời cũng giữa «TỬ (maraṇa) hướng đến SINH (jāti)» trong mỗi vòng luân hồi (saṃsāra). -Chúng thay phiên nhau làm sơ nhân khởi đầu, và nghiệp duyên chấm dứttạo ra vô số vòng quay cho bộ máy luân hồi (saṃsāra). -Và dĩ nhiên là luôn luôn trải qua 4 giai đoạn, sinh lão bệnh tử, hay thành trụ hoại không !

-Lại nữa, các ẤN TƯỢNG PHÀM TỤC (đã ghi nhận), vốn VÔ TỰ TÁNH, không có nguồn gốc nhất định. -Vì nó chẳng có nền tảng, và tăng giảm bất chừng (=VÔ THƯỜNG : aniccā), nên người tu Phật có chánh niệm, cần luôn luôn tỉnh giác…không để những «ấn tượng trong thân kiến giả lập» ấy chi phối, lung lạc, thúc đẩy họ phản ứng một cách mù quáng, phát ra những hành động phiêu lưu, thuận theo chiều hướng của “thức ham sống”, mầm gốc chính của “thân kiến» (sakkāyadiṭṭhi), «hoài nghi» (vicikicchā) và «giới cấm thủ» (sīlabbata-parāmāso), hằng đóng khung tâm trí một cách bế tắt !

-Theo nhà Phật, “TÂM QUẢ” (vipākacitta) của “THÂN KIẾN” (sakkāyadiṭṭhi) luôn luôn biểu lộ rằng, thuận với thân là lạc hay nghịch với thân là khổ. Và tình trạng ấy chỉ làm cho «kiếp ngũ uẩn» chịu đựng một cách bồng bềnh nhất thời, chứ không cố định. (-Càng không phải là số mệnh !). Những kẻ có TRI THỨC hướng thiện (kusala ñāna), khi đã chuyển được 3 nghiệp (thân khẩu ý) rồi, thì thân kiến ấy tự nhiên được hóa giải, hay chấm dứt !

*Nếu xuyên qua từng giây từng phút trong một kiếp người, ngũ căn (hay năm giác quan) luôn luôn tương tác với ý căn (maniṅdriya), đồng thời người ấy vẫn nhất tâm giữ giới, có chánh niệm, tỉnh thức, luôn ghi nhận thực tại trần cảnh một cách khách quan, cởi mở, thông thoáng, thanh tịnh…thì «CẢM GIÁC (thuận hay nghịch) cũng chỉ là một trong những cái «ĐẾN RỒI ĐI», –tâm thức của người ấy sẽ nhẹ nhàng, không bị «dằn vật» giữa khổlạc, hay giữa hỷ ưu nữa !

-Từ đó tâm người tu Phật tự nhiên giảm bớt tham lam (không chụp lấy cái nầy, không ruồng bỏ cái kia), và giảm nhiều sợ sệt, chẳng còn tật phiêu lưu, ôm đồm những gì mới lạ. -Vì vậy, TINH THẦN của họ được yên ổn, thư thái. -Rồi lúc thân xác già nua, suy sụp, tiều tụy…thì ý căn trong ngũ uẩn (hay tinh thần) của họ, cũng tự động trở thành yếu đi (atidubbala maniṅdriya), chỉ như “dư quả vô nhân” (ahetuka), không còn năng lực tạo nghiệp nữa. -Nhưng NÓ vốn vẫn là MẶT TRÁI của thức tham sống, (jīvitaviññāna). Do đó, khi tắt thở “tâm tái sinh” (patisandhicitta) của người ấy sẽ tương đối nhẹ nhàng hơn.

*Đó chính là một phần nhỏ, thuộc lý do mà Thánh nhân Tu-đà-hườn (Sotāpanna) trong nhà Phật, được gọi là bậc đã chặt đứt 3 sợi dây luân hồi đầu tiên, trong 10 sợi dây trói buộc, là :

1/Dứt THÂN KIẾN (sakkāyadiṭṭhi vimutti) hết cố chấp thể xác là tài sản của linh hồn vĩnh cửu, do «thượng đế tạo ra»,

2/Hết HOÀI NGHI (vicikiccā vimutti) ngưng đặt câu hỏi, thắc mắc về luật nhân duyên quả muôn đời của vũ trụ, và

3/Hóa giải GIỚI CẤM THỦ (sīlabbataparāmāso vimutti) dẹp mê tín, tiêu trừ tật tìm kiếm sự cứu rỗi nơi thần linh.

*Ngoài ra, “sự chặt đứt sợi dây ràng buộc thứ ba” (GIỚI CẤM THỦ), về mặt minh triết cũng ám chỉ tính miễn trừ “nọc độc” của chủ trương ngu dân, mà một số «nhà nước» gian lận…đặt tên là “văn hóa phi vật thể”, -hay «biểu tượng» của «lòng tin vào hiệu lực nghi lễ», hoặc vào «thần vật quyền năng» (=hình thức quỉ thần hay đối tượng cấm kỵ) của tà kiến hướng ngoại. -Nghĩa là người tin Phật không để mình bị ảnh hưởng bởi xảo thuật tuyên truyền hoang đường, đa dạng, tinh vi…ngầm lôi kéo tâm lý, đánh lạc hướng tuệ căn…của bất cứ thế lực nào, -nhờ tâm tỉnh thức quí báu nầy !  

*Nhưng trước khi đạt tới thánh quả căn bản (ariya phala), mệnh danh là Tu-đà-hườn hay “giải đọa” (sotāpanna), mục đích trước mắt của bậc phạm hạnh (brahmacariyo), hay THIỆN TRÍ THỨC sống theo đạo Phật (buddhasāsanena), phải là «tạo duyên lành 6 căn», để cho sự sống hiện tại, và trong những kiếp sau được tiếp tục tiến hóa.

-Xem ra bộ máy luân hồi cũng có thể được xử dụng một cách tích cực, như «phương tiện» để tô bồi công phu ba-la-mật (pāramī) nhằm được giải thoát, theo hiệu lực của BÁT-NHÃ (prajña). -Chứ không nhất thiết là “NÓ luôn luôn đưa đến sa đọa” !

-Nghĩa là :

<>TU HÀNH ám chỉkhông phải duy nhất là để thanh lọc chính mình, “TƯƠNG TÁC” còn để cải thiện hoàn cảnh, xuyên qua KHOA HỌC NHÂN DUYÊN, một cáchTRUNG ĐẠO !

*Niệm thânNiệm thọ (kāyasatipaṭṭhāna-vedanāsatipaṭṭhāna), là 2 phần pháp đầu tiên của TỨ NIỆM XỨ (catu sati paṭṭhàna), mà chúng ta đã cố gắng thực hành từ lâu, cũng như thường chia xẻ lẫn nhau, trong thanh tịnh, vô hậu ý. Sau khi đã nắm vững nội dung, chúng ta không thể không tinh tấn tiếp tục cho THUẦN THỤC, để đủ căn bản “bước vào” niệm tâmniệm pháp (cittasatipaṭṭhāna-dhammasatipaṭṭhāna) một cách sáng suốt, vững chắc, vì Niệm thânNiệm thọ là NỀN TẢNG của Tứ Niệm Xứ. -Ví như ngọn đèn là “nền tảng” của SỰ THẤY trong bóng tối vậy !

__________

-Tiếp theo là một “bài nói chuyện khác” của soạn giả.

-Đề tài do hội trường đề nghị :

-Sống để làm gì ?!

<>Nói đến “SỐNG” thì chẳng ai không nghĩ đến sự kết thúc của nó là “CHẾT”. -Thế có ai chất vấn “chết để làm gì chăng?”. -Nếu để nhắm đến một lý do «vinh danh» đầy nội dung xứng đáng nào đó…thì chắc cũng có người nêu lên câu hỏi ấy.  -Nhưng «chết cho lý tưởng cao đẹp…thì ngày nay dường như đang trở thành hiếm hoi…vô nghĩa» ! Bởi lý tưởng không bao giờ thật, và ai cũng quí sinh mạng…sợ chết ! -Càng lúng túng hơn nữa, là không thần thánh nào biết cách tránh «chuyện trước sau gì cũng chết !» -Tuy nhiên sống và chết luôn luôn đi đôi với nhau…và đó là một qui luật. -Chẳng một sinh vật nào trên thế gian mà sống mãi, không chết. -Vậy vấn đề “sống để làm gì”, với sinh hoạt hằng ngày (?) mới…cần thiết hơn, để chúng ta thảo luận !

*Câu hỏi này, bên trong chắc chắn có nhiều «ẩn ý», hay mục đích sâu xa…chưa được khám phá, nên tất cả nhân loại đều trăn trở 1 cách «muôn đời». -Theo suy nghĩ của cá nhân tôi, chúng ta nên “liên tưởng” đến 2 phương diện, thể xáctinh thần, -không chừng «một trong hai phương diện nầy có thể cho ta chút ánh sáng, để tìm ra giải đáp».

ICăn cứ trên vận hành lý hóa thuần túy thể xác :

Sống là để trải qua “biến dịch”, dưới dạng tế bào sinh rồi diệt !

*Một văn hào đã nói “sống là cuộc hành trình đi dần đến cái chết, người ta hơn nhau ở chỗ biết làm cho con đường ấy được đẹp đẽ, thanh cao, êm dịu trước khi chết”. -Nếu đó là kiếp sống, hay con đường với cảnh tượng độc đáo, cao thượng, đầy vẻ đẹp VỊ THA, thì sự kết thúc của nó sẽ có ý nghĩa «để lại một di sản», -vì người sau sẽ trân trọng…tu bổ nó, hết thế hệ nầy sang thế hệ khác, và xem như «gương lành không chết». Ngược lại nếu đó là kiếp sống, hay con đường có hại, thì sau khi nhắm mắt, người đời sẽ dẹp nó ngay, -nhiều khi còn phá hủy toàn bộ, xóa dần các dấu tích !

-Đối với sự đóng góp cho đời, những người đang hưởng thụ nét đẹp, tất nhiên hằng tích cực tô điểm cõi hiện hữu.cảnh đẹp sẽ đủ điều kiện tồn tại…hay để «phục sinh» ! –Và tuy cái chết có thể đến với mọi loài bất cứ lúc nào, nó chẳng chừa ai cả, đồng thời cũng không chờ đợi quyền năng nào cho phép nó vận hành…-Rồi một người muốn làm việc thiện, vốn không cần sự đồng ý từ tha lực !

*Mỗi người sinh ra đều khác biệt ở điều kiện, môi trường, thể chất và tâm lý, nhưng mục đích sống thì phần lớn giống nhau. «Nếu sống để xây dựng cuộc đời» (tiến hóa), thì chúng ta phải tự hỏi “sống cần làm những gì ?!”. -Và theo ¨Phật học…càng trải nghiệm bản thân, con người càng biết chắc rằng, “sống để tự đào tạo đời mình”, tránh hẳn sa đọa thân-khẩu-ý, -tối đa không phương hại đến xung quanh ! -Nhất là sau giai đoạn trưởng thành, hết còn tùy thuộc vào cộng nghiệp với cha mẹ…rồi tiếp theo là lập gia đình, “sống cộng đồng” trong xã hội, hằng đối diện vơi ý thức trách nhiệm, tức là định luật NGHIỆP QUẢ ! 

*Như đã nói, sống là đi dần đến cái chếtkhông loại trừ bất cứ sinh vật nào ! -Điều nầy ai cũng biết, nhưng “giá trị của sự sống chung” (dù là chỉ trên phương diện vật chất), vẫn không cho phép ai xem thường ! –Tục ngữ VN có câu “cọp chết để da, người ta chết để tiếng”, hay “bông hoa trước khi héo tàn, đã đem mùi hương và sắc đẹp tô điểm cuộc đời”. -Hãy xem những chú ong thợ nhỏ bé cũng sống vì đàn vì tổ, luôn luôn chăm chỉ làm việc, để có những giọt mật cung cấp cho đồng loại và loài người. -Vậy, sống cần làm gì để sau khi chết, mọi người vẫn cảm kích và thương nhớ, thì đó mới chính xác là mục đích (-dù cho với tâm vô lậu) ! -Đừng để trước và sau lúc được chôn vào lòng đất bị thiên hạ thốt lên các câu như “thứ đó, chết càng sớm càng tốt, để cho người ta nhờ”, hay “trời ơi, nó vẫn còn sống đấy à !”. -Phần còn lại của những lời bình phẩm xin “bỏ lửng”…mời mọi người cùng suy gẫm !

II-Trong mạch sống cả tinh thầnthể xác :

Sống là để trả NỢ riêngNỢ chung, quả của nghiệp xưa !

<>Là một tín đồ đạo Phật, với trí tuệ khiêm nhượng bẩm sinh, tôi quả thật không thể không tin LUẬT NHÂN QUẢ (kamma-vipāka niyama). -Mỗi người có mặt trong đời, là do «hiệu lực» của vận hành nghiệp lực quá khứ cùng “duyên phận” với cha mẹ, và với người thân hiện tại. -Ta đóng vai làm con là đang nợ công lao sinh thành, dưỡng dục của phụ mẫu. Và khi nên người, ta lại có duyên vợ chồng, rồi duyên nuôi nấng con cái, duyên cộng nghiệp với xã hội. -Ai đã làm ra hạt gạo cho ta ăn, ai sản xuất quần áo cho ta mặc, ai giáo dục, dạy dỗ ta học hành…v…v…! -Tất cả những “AI” đó nói lên sự «CỘNG NGHIỆP» lẫn «CỘNG NỢ» !

*Nghĩa là gia đình xã hội đã cho ta quá nhiều thứ. -Ta NỢ cuộc đời một cách khổng thể chối cãi. -Lẽ nào ta chỉ biết nhận mãi thôi sao ?! -Chúng ta may mắn được làm người là nhờ đã tiến hóa, có trí khôn hơn hẳn các loài vật khác trên mặt đất. Và tất nhiên chúng ta không muốn “quay lại” sống với bộ óc của thú vật ! -Rồi ai dám chắc rằng, mình đã không sai lầm, trong suốt thời gian dài, xuyên qua nhiều kiếp luân hồi ?! -Xem ra, «nếu ta đã sai lầm thì chính ta phải trả quả» ! -Ấy cũng là “dịp tốt” để mỗi chúng sanh «sòng phẳng» với nhau trong vận hành thăng đọa !!!

-Đó là một qui luật tự nhiên trong «sinh hoạt lý-hóa» rất khoa học, chứ không phải giáo lý riêng của nhà Phật ! -Chỉ có thú vật mới không có cái lô-gíc ấy ! Đừng bảo rằng “đó là lý thuyết đạo đức” ! -Viện cớ“nói dễ làm khó !” -Chúng ta là «NGƯỜI», một sinh vật tự hào đã tiến hóa cao hơn những động vật khác. -Đặc điểm của loài người là nhìn nhận sự hợp lýý thức biết ơn. -Không cần theo đạo Phật cũng tự biết «tiến hóa có nghĩa là trân trọng luật nhân quả !» !

NHÂN TÍNH» là một «giá trị». Tuy muôn loài trên mặt đất chưa bao giờ làm cuộc «biểu quyết» để ấn định “ƠN NGHĨA” «cao quí như thế nào», -nhưng tất cả vẫn mặc nhiên tôn trọng tán dương. -Từ đó, nếu xem QUẢ ĐẤT và BẦU KHÍ QUYỂN là «đồng tạo hóa», thì cả hai đã rất lâu, ban cho muôn loài chúng sinh quá nhiều những «ưu đãi», -chỉ cần nêu ra một số tượng trưng thôi, cũng không ai có thể phủ nhận. -Chẳng hạn đồng tạo hóa ấy, đã ban bố cho chúng ta dưỡng khí, ánh sáng, hơi nóng, độ lạnh, bốn mùa tám tiết, cây cối, thảo mộc, nước uống, chất đặc, chất lỏng, khoáng sản…v…v…để vạn vật (gồm chúng ta) có thể cùng tồn tại. -Con người nhờ đó mà có thể cày cấy chăn nuôi, làm ra thực phẩm…hay mọi thứ cần dùng. Còn thú vật hoang dã thì sống với những gì THIÊN NHIÊN cung cấp.

-Đặc biệt ĐỊA CẦU phải lăn quanh một đại tinh thể, gọi là «thái dương» để «nhận sức hút», giữ được những gì trên mình nó, và BẦU KHÍ QUYỂN, cũng «hứng chịu» mọi «nhiệt tính» của tất cả những «tia nóng cực độc» từ không gian, rồi «thuần hóa chúng» để rải vào mặt đất, giúp thế gian có ánh sáng và các quang phổ cần thiết cho sự sống. -Nói tóm lại, muôn loài (trong đó có con người) đã nhận rất nhiều ân huệ từ môi trường (=quả đất và khí quyển), thì bổn phận «đền đáp» trong muôn một, vốn là «lẽ đương nhiên», không có gì đáng phàn nàn là «phải trả nợ» cả !

-Chưa kể loài người còn tự hào là có «nhân tính» (tức TRÍ KHÔN, biết lý lẽ), -mà vì tham sân si phá hoại ĐỊA CẦU và KHÍ QUYỂN thì đó chính là phản nhân tính. -Quả báo ấy nếu con người không trả, thì luân hồi sẽ tự khổ, và làm sao tái lập tính cân bằng vũ trụ, nguồn gốc của bình an nhân loại trong tương lại ?!

<>Theo Phật học, phá hoại môi sinh cũng là phá hoại cuộc sống nhân loại, hay gián tiếp hủy diệt nơi nương nhờ duy nhất của chính mình. -Vì xưa nay chưa ai tìm ra quả đất thứ hai ! -Và những tai họa bất thường, trở thành càng ngày càng nguy hiểm, xung đột rắc rối, không sớm thì muộn sẽ xảy ra cho bản thân kẻ ác, và cho các thế hệ con cháu tương lai trên địa cầu, một cách chẳng ngoại lệ, hoàn toàn không thể tránh !

*Để cứu vãn tình thế đó, chỉ có «KHOA HỌC TÂM LINH» (maṇa-vijjā), gồm «thiền phápchánh kiến» hay ĐẠO GIÁC NGỘ (bodhimagga), thì may ra mới thức tỉnh nổi «tánh biết đang ngủ say» trong những con người vô minh, liên tục lặn hụp giữa «giòng nước tâm đầy sóng độc» (=dục vọng). -«Khoa học tâm linh» ở đây, ám chỉ KỶ LUẬT và CHÁNH THIỀN (sammā bhāvanā), có khả năng «gội rửa ý thức» bằng ly tham, ly sân, và ly si (lobha-vippayoga ca dosa-vippayoga ca moha-vippayoga ca), hướng dần đến GIÁC NGỘ (bodhi), sống trong sự biết ơn toàn thể môi trường !

-Thiền pháp «trổ ra hoa» ly tham, ly sân, ly si chính là «kỹ thuật duy nhất» (adutiya-paṭipadā), thành lập GIỚI ĐỊNH TUỆ (sīla-smādhi-paññā), đúng theo BÁT CHÁNH ĐẠO (atthaṅgika-magga), con đường trung trực cao thượng (ariya-majjhima-yana), tránh được 2 tình trạng thái quá (anta-paricaya), là lợi dưỡng (kāmasukhallikānuyogo) và khổ hạnh (attakilamathānuyogo) !

<>Và chỉ cần đa số con người bừng tỉnh, rồi chịu học hỏi một cách vô tư, giáo lý nhân duyên quả (kamma-vipāka-paccaya) trong đạo giác ngộ, để thường xuyên có «Ý THỨC CỘNG NGHIỆP» (sādhāraṇa-kamma viññāna), sống chung thuận hòa…là tình nguyện không phá hoại môi sinh hay chấm dứt hủy diệt cõi sống duy nhất của nhân loại. -Từ đó «kiếp sinh tử» có thể được tự nhiên cải thiện, làm cho mỗi vòng luân hồi là một chu kỳ tiến hóa ! -Quá trình tu tập và rèn luyện để TÍNH NGƯỜI được hoàn thiện. là một điều tối cần thiết !

*Muốn thế, nhân loại chúng ta phải sống sao cho có ý nghĩa và mang lại lợi ích chung trên cuộc đời, – tức là sống tốt, sống không hại ai, hay sống biết chia sẻ lợi ích đến mọi người, tức là sống cống hiến cho xã hội, tôn trọng hạnh phúc cộng đồng (không chỉ đối với nhân loại, mà bao gồm toàn thể chúng sanh). -Có như thế thì cuộc đời trong luân hồi mới giảm bớt đau khổ (vì xung đột và mâu thuẫn), và thân tâm mỗi sinh linh sẽ bình an…lúc mãn kiếp được thanh thản.

-Nhưng đáng tiếc thay, khi tật «hưởng thụ vật chất» chiếm ưu thế trong trí óc con người, đa số có khuynh hướng làm sao kiếm được thật nhiều tiền, công danh địa vị đạt đỉnh cao, để nắm quyền lực bất chánh, một mặt bảo bọc che chở người thân, một mặt không từ chối làm hết những gì phản đạo lý…thì dù đã đem tiền bỏ ngân hàng và mua nhà sang trọng ở ngoại quốc, quả báo vẫn theo sát, -như «bánh xe lăn sau chân con bò» như nói trong Pháp cú kinh !

*Không phải riêng tín đồ đạo Phật, mà tất cả mọi người đều biết rằng, «tiền tài, danh vọng nhiều đến đâu cũng VÔ DỤNG, không mang theo được khi chết», -mà thực tế trái lại, «nó làm cho chủ nhân nuối tiếc, tối tăm, sa đọa trong giây phút trút hơi thở cuối cùng».

-Xin kể câu chuyện về di chúc cuối cùng…của một vị hoàng đế đầy quyền lực nhưng anh minh, sau đây : Trước khi qua đời, nhà vua ra lệnh cho quần thần phải thực thi 3 điều trong đám quốc tang của Ngài, -thứ nhất là 2 bên quan tài phải khoét 2 lỗ…đủ cho 2 bàn tay buông xuôi của vua thọc ra ngoài, -thứ hai là tất cả ngự y nổi tiếng nhất nước, phải khiêng quan tài của vua đến nơi đại táng, -thứ ba là vàng bạc châu báu phải được rải cho dân chúng…trên suốt lộ trình tang lễ.

*Thâm ý của nhà vua, là để cho người đời thấy rằng khi chết, một người đầy uy quyền, giàu có như hoàng đế, cũng chỉ là hai bàn tay trắng. -Mặt khác, hình thức ấy còn gián tiếp xác nhận rằng, bao nhiêu bác sĩ tài giỏi cũng không làm sao ngăn cản tử thần. -Và sau cùng, của cải đã chẳng bao giờ mang theo được…thì còn cất giữ làm gì, mà không phân phát cho dân chúng !? 

<>Theo Phật giáo, SINH và TỬ không chấm dứt ở 1 đời, mà vẫn tiếp tục xuyên qua vô số kiếp luân hồi. -Nên bậc giác ngộ khuyên con người phải thường xuyên tạo thiện nghiệp, ơn ích…để làm «hành trang đường dài» cho mình. Vì tiền tài danh vọng trần gian, không thể nào đem theo được, nhưng PHÚC ĐỨC (puñña-guṇa) là «những bảo vật», chắc chắn sẽ cần đến trong «vô số vòng luân hồi», -nhờ đó «một sinh linh» có thể «giảm thiểu khổ cảnh» !

*Tất cả chúng ta trong thính đường hôm nay rồi cũng như thế, chẳng mang theo được gì, ngoài cái NGHIỆP (kammā) tạo ra trong đời này là THIỆN hay ÁC thôi. Theo luật nhân quả, có vay ắt có trả. -Nghiệp quả sẽ theo ta từ đời này qua đời khác, như BÓNG THEO HÌNH…cho đến khi GIÁC NGỘ, hết tham sân si. Khi không còn vướng nghiệp nữa thì nó mới chấm dứt. -Lúc ấy “tâm linh toàn xả” (paramattha-upekkhā citta) mới thoát khỏi bánh xe sinh tử (saṃsāra vimutti) ! -Và đạo Phật chính là giải pháp tốt nhất cho nhân loại, chúng sanh hiện tại cũng như tương lai vậy !

-Phát biểu của thính giả.

<>Sau khi đề tài SỐNG ĐỂ LÀM GÌ” hay “MỤC ĐÍCH SỐNG” được trình bày một cách khách quan. -Đồng thời xuyên qua buổi thuyết trình, cũng có không ít người…với nhiều «tư tưởng» khác nhau đã đồng ý rằng, «phải sống làm sao khi chết được thanh thản» hay “sống để trả quả báo” (=một thứ nợ cũ) nhưng không tránh khỏi tạo nghiệp tốt lẫn xấu (=nợ mới). Họ còn bổ túc : “trước khi chết là thời gian phải sống sao cho có ý nghĩa”… !

-Rồi…quá bán thời gian qui ước cho buổi sinh hoạt, hầu hết những người tham dự…bỗng «làm lệch đề tài» bằng cách nêu vài câu hỏi , “vậy -ai là chủ nợ ?, ai là con nợ ?, và “nợ ấy đã vay hồi nào ?”. -Cứ thế cuộc thảo luận sôi nổi kéo dài, mỗi lúc một loãng hơn, có vẻ đa chiều, lý luận phiêu lưu…-không khéo khó kết thúc đúng giờ…do ban tổ chức đã ấn định !

<>Kết luận…người ta lại «khám phá» ra rằng «nghiệp trong quá khứ là chủ nợ». -Thành thử “sống là để sòng phẳng với nghiệp cũ của chính mình, chứ không thể chạy trốn, đổ thừa cho ai cả”. -Và với thái độ tích cực, người ta qui nạp…“sống là để làm cho cuộc đời có GIÁ TRỊ». -Hay đó là mục đích tự nhiên của kiếp hiện hữu (luân hồi), do chính mình tạo ra !

-Chung qui, «vấn đề làm sao cho kiếp sống tiến hóa» vẫn ám chỉ sự tu tập thân tâm, -nói theo Phật học…là thực hiện giới định tuệ, «đừng làm ác, hãy làm thiện». -Nghĩa là các câu hỏi “SỐNG ĐỂ LÀM GÌ” và “MỤC ĐÍCH HIỆN HỮU” cũng lại xoay quanh phẩm cách «ĐẠO ĐỨC», mà loài người hằng đề cao, kể từ khi nhân loại nhận ra «cái gì tạo bình an cho sự sống là thuận (=hăng hoa), và «cái gì gây xung đột cho sự sống là nghịch (=sa đọa), trên cả hai phương diện chủ quan lẫn khách quan, «đối với ta» và «đối với người». -THUẬN thì gọi là THIỆN (kusala). -NGHỊCH thì gọi là ÁC (akusala), -song song với qui ước  NHÂN QUẢ, trong quan niệm thế gian muôn đời.

*Tuy nhiên, «TÍNH TƯƠNG ĐỐI» luôn luôn có mặt, nên «qui ước» và «quan niệm» phàm phu…nhiều khi lại bất đồng, lắm lúc mâu thuẫn, khi so sánh ở 1 địa phương nầy và ở 1 địa phương khác. -Thành ra, việc hỏi đáp xoay vòng, mà cố chấp…thì có thể rơi vào tranh luận bế tắc, lắm lúc mích lòng ! -Đặc biệt là khi cường điệu, nói «sống để chết vui», thì cũng có người chỉ ra là «sống để già», và «sống để bệnh», thì làm sao «có thể chết vui được ?!». -Hay một người đối diện với GIÀ và BỆNH thì chắc chắn không thể «vừa lòng» để «chết vui» được…dù cho “luật vô thường” và sự tương đối có thể «lý giải», thuyết phục phần nào tình trạng đó. -Tất nhiên, SINH-LÃO-BỆNH-TỬ vẫn là 4 giai đoạn phải có, khi mang thân người trong kiếp sống chứa đầy tham sân si nầy

-Nhưng đạo Phật vẫn nói rõ «muốn dứt sinh lão bệnh tử thì chỉ có phương pháp duy nhất là tu tập, cải thiện thân tâm…nhắm đến chấm dứt tham sân si». -Không dài dòng luận bàn…lý thuyết nào khác ! 

*Theo Phật học, câu hỏi «SỐNG ĐỂ LÀM GÌ ?» và «MỤC ĐÍCH SỐNG ?» được nêu ra, không phải để thảo luận, dựa trên qui luật tự nhiên, rằng «con người hoàn toàn THỤ ĐỘNG trước sinh-lão-bệnh-tử», mà là để «nói lên tính CHỦ ĐỘNG» (=tự lực), hay tích cực cải thiện mọi hoàn cảnh, để TIẾN HÓA !

-Đó là HIỆU LỰC của sự GIÁC NGỘ ! -Và đó cũng là động cơ con người áp dụng Phật ngôn, cố gắng thực hành giáo lý NHÂN DUYÊN QUẢ, và làm lành lánh dữ, tu thân để hóa giải những nguồn gốc của thực tại khổ vui trong cuộc sống. Nhất là để «XỨNG ĐÁNG» với «tính người», không bị chính mình và xã hội phê phán !

-Dĩ nhiên, dùng phật học để trả lời đầy đủ chi tiết về THỰC HÀNH cho các câu hỏi trên, không thể chỉ cần một thời gian ngắn mà làm đủ được. Những giòng chữ nầy chỉ là phần GỢI Ý mà thôi !

—————————————

*Tư tưởng Phật học đó đây :

(Góp nhặt giúp quí vị khỏi sưu tầm).

1-Nguồn gốc mọi đau khổ của con người chính là luyến ái.

2-Dứt bỏ nóng giận, diệt trừ tính kiêu căng, không luyến ái vật chất, không duy trì dục vọng, sẽ giải thoát được mọi ràng buộckhông bao giờ bị phiền não quấy nhiễu.

3-Trong sạchnhơ bẩn vốn tùy thuộc nơi mình. Không ai có thể làm cho thân tâm người khác trong sạch hay hết ô nhiễm.

4-Cuộc sống của chúng ta vốn được định hình bởi chính tâm trí của mình. Chúng ta sẽ trở thành những gì chúng ta nghĩ và hành động.

5-Người chinh phục được mình còn vĩ đại một nghìn lần hơn người chinh phục ngàn vạn kẻ thù trên chiến trường.

6-Nếu chẳng tìm thấy ai hỗ trợ, trên con đường tâm linh, thì hãy đi một mình, không nên đồng hành với người chưa trưởng thành, tà kiến.

7-Ai có tâm trí không bị ngập tràn bởi ham muốn, thì chẳng sợ hãi.

8-Khi có một điều gì đáng làm, hãy làm nó bằng tất cả tâm và trí.

9-Chính bạn phải đi đến cùng….gương Phật chỉ là con đường !

10-Người dẹp bỏ ganh tị, tâm hồn sẽ luôn luôn bình yên.

11-Không sự ô nhiễm nào nguy hiểm hơn học đường ngu dân.

12-Hạng phàm phu hằng đau buồn vì chết chóc và chia ly. Nhưng người trí thì tư tại, khi nhận ra ấy là bản chất của sự sống.

13-Một người không thể gọi là khôn ngoan nhờ nói điều hay, mà người ấy là kẻ kiên nhẫn và không bị ràng buộc bởi hận thù, sợ hãi.

14-Hàng ngàn ngọn nến có thể được thắp sáng bởi một ngọn lửa nhỏ, và nhờ đó ánh sáng của tất cả ngọn nến ấy sẽ còn mãi. Hạnh phúc không bao giờ giảm, khi ta biết chia sớt.

15-Kẻ phàm tục thường gây tai hại đến các sinh vật. Người cao quý không bao giờ làm tổn thương đến ai cả.

16-Như cây nến không thể cháy mà không có lửa, người không thể sống nếu không có thiện pháp tâm linh.

17-Nếu tìm thấy một nhà phê bình vô tư, chỉ ra những lỗi lầm của bạn, bạn hãy làm theo và sẽ được hướng dẫn…đến kho tàng của quí.

18-Bình yên đến từ bên trong, đừng tìm nó ở bên ngoài.

19-Nếu biết mình đang sống trong bóng tối, tại sao bạn không mau mau đi tìm nẻo sáng ?!

20-Bí quyết để có sức khỏe cho tinh thần và thể xác, không phải là trách móc quá khứ hay lo sợ tương lai, mà là sống trong thực tại một cách bình tĩnh và nghiêm túc.

21-Người có trí thì luôn luôn tẩy sạch các vết dơ trên mình, như 1 thợ rèn chuyên nghiệp đốt kỹ những cặn bã trong kim loại từng tí một.

22-Đừng xây dựng hạnh phúc trên sự bất hạnh của người khác, bạn chắc chăn sẽ rơi vào lưới hận thù.

23-Người thông minh luôn luôn giữ kỷ luật ở thân, khẩu, và ý. Họ cố gắng kiểm soát thật tốt 3 NƠI TẠO NGHIỆP đó.

24-Không ai có thể cứu chúng ta, ngoại trừ chính chúng ta. Vì vậy, mỗi người phải mạnh dạn đi trên con đường đã chọn của mình.

25-Cương quyết rèn luyện bản thân để tiến hóa. Thiền Pháp mang lại sự văn minh, và không hành thiền sẽ sống trong lạc hậu. Ánh sáng thiền sẽ soi rõ phía trước, tránh được trở ngại, và chọn đúng con đường dẫn đến thành công.

26-Hãy chia xẻ lợi ích với người khác, ngay cả khi bạn chỉ có ít.

27-Cần giữ tâm vững vàng, để không bị lung lay trước giông bão, người khôn ngoan chẳng bị ảnh hưởng bởi những lời khen chê.

28-Đừng vất thời gian, tất cả giây phút lãng phí sẽ làm bạn thụt lùi.

39-Nếu bạn quên giá trị cuộc sống, và bị kẹt trong các thú vui thế tục, thì bạn sẽ khó chịu trước những người đặt ưu tiên lên thiền pháp.

30-Người ta luôn luôn đau khổ, vì mãi đeo đuổi những sai lầm.

31-Nếu bạn muốn tránh phiền não, chính tâm bạn phải bình đẳng trước mọi cảm giác.

32-Để rèn luyện thân tâm, bạn nên cảm ơn người đem đến nghịch cảnh cho mình.

33-Cần khoan dung với xung quanh, cho dù họ xấu bao nhiêu, thậm chí họ đã làm tổn thương bạn. Vì rộng lượng là niềm vui bền vững.

34-Khi bạn cảm thấy sung sướng, nên nghĩ rằng nó có thể sẽ không lâu. Và sự bất hạnh cũng vậy, khi bạn đau khổ hãy tin rằng…nó vốn vẫn vô thường.

35-Sự cố chấp ngày hôm nay, sẽ là niềm hối hận cho ngày mai.

36-Chớ nên vướng mắc nhiều vào tình yêu, vì sự chia ly sẽ đến.

37-Đừng lãng phí kiếp sống làm người, -bạn sẽ ân hận đấy !

38-Sống thật bình đẳng trước cảm giác, bạn sẽ hết hay ít phiền não.

39-Mỗi lần đau khổ là một dịp trưởng thành.

40-Tật cuồng vọng có thể cải thiện, nhưng mặc cảm tự ti thì vô phương. Nhưng muốn tiến hóa phải biết rõ khả năng mình. Và chỉ khi nào ta làm được, ta mới có thể hướng dẫn kẻ khác.

41-Đừng bất mãn lâu vì người khác, bạn phải quay về kiểm điểm mình. Giận người khác nhiều chồng chất khổ lên chính bạn.

42-Một người tự đáy lòng không biết tha thứ, thì tâm thức sẽ không bao giờ được thanh thản.

43-Kẻ trong tâm chứa đầy chủ quan (ngã mạn) thì không bao giờ muốn nghe ý kiến người khác.

44-Hủy diệt người chỉ bằng một câu, nhưng xây dựng lại người, thì phải mất ngàn lời, -vậy bạn hãy “ăn nói lưu tình”.

45-Không cần nhớ đến kẻ làm tổn thương bạn. Rủi bạn bị chó điên cắn, chẳng lẽ bạn cũng phải «đáp trả» hay sao ?!

46-Chớ lãng phí thì giờ nghĩ đến ngườibạn không thích.

47-Hãy có thái độ ôn hòa khi bày tỏ những oan tình của mình, như vậy người khác mới dễ thông cảm hơn.

48-Cùng là một chiếc bình, tại sao bạn đựng chất độc ? Cùng một mảnh tâm, tại sao bạn lại chứa não phiền ?

59-Những thứ chưa đạt được, mà bạn vẫn tin «nó đẹp», là vì bạn biết nó quá ít, và do không từng trải nghiệm nó. Nhưng khi bạn đã sống với nó rồi, bạn sẽ phát hiện nó khác hẳn, không như bạn nghĩ.

50-Sống thực tại chừng nào, vui vẻ chừng ấy. Khi phàn nàn không giày để mang, bạn đã quên rằng, khá nhiều người không có cả chân.

51-Tốn nhiều tâm lực để chú ý người khác chi bằng dùng một phần năng lượng ấy, để phản tỉnh chính mình, thì có lợi hơn !

52-Hận thù là một chi phí lớn, vì chẳng bao giờ có thể thu hồi.

53-Khó khăn lắm mới được tái sinh làm người, nhưng không phải ai cũng nhớ điều đó. Người không biết cái giá ấy, thì «làm người» đối với họ là một sự trừng phạt.

54-Tật cố chấp nguyên nhân của khổ não, buông xả mọi cố chấp, bạn sẽ được tự tại.

55-Đừng cho rằng tư tưởng của ta là đúng nhất, vì nó có thể sai. Như vậy khi thất bại, ta sẽ đỡ hối hận hơn.

56-Hãy sống thành thật, thì sẽ ít bị xung quanh lừa gạt.

57-Sự cố ý che đậy lỗi lầm vốn là thủ đoạn làm hại người khác.  Đó là tình trạng sa đọa tồi tệ nhất !

58-Người âm thầm chúc lành xung quanh, là kẻ đang được ban phúc.

59-Đừng cố gắng suy đoán ý nghĩ người khác. Nếu bạn lầm, thì ấy sẽ rất có hại cho mình.

60-Muốn ấn định tấm lòng của một người, chỉ cần xét mục đích điểm xuất phát hành động của họ, xem có khớp không.

61-Chân lý nhân sinh vốn nằm trong cái bình thường giản dị.

62-Người không tắm rửa thì xức nước hoa cũng thấy hôi. Thanh danh phẩm giá luôn luôn đến từ tài đức. Nó không cần đánh bóng.

63-Thời gian giải pháp xóa mờ phiền não hay đau khổ của bạn.

63.Đừng thổi phồng những chuyện tầm thường thành quan trọng, như thế bạn sẽ ít gặp rắc rối !

65-Kẻ luôn nghi ngờ thiện ý từ người khác, thì không có sự giúp đỡ !

66-Dối trá cần nhiều chuyện láo bù vào, tại sao phải làm như vậy ?

67-Sống 1 ngày không giúp ích cho đời, thì chẳng khác kẻ ăn trộm.

68-Cái duyên tốt với xung quanh, là không làm tổn thương bất cứ ai.

69-Vui vẻ, im lặngcâu trả lời hữu hiệu nhất cho mọi sự phỉ báng.

70-Kính trọng xung quanhnét trang nghiêm cho chính mình.

71-Có thương yêu một cách vô tư thì sẽ có tất cả.

72-Đến ngẫu nhiên, đi chắc chắn. Cho nên bạn phải tùy duyên mà bất biến”, “bất biến mà hằng tùy duyên”.

73-Từ bi là vũ khí tốt nhất bảo vệ chính bạn.

74-Vui vẻ trước thực tại, bạn mới vượt qua được trở ngại.

75-Lương tâm tòa án công bằng nhất trong mỗi người. Bạn có thể dối người khác, nhưng không dối nổi lương tâm mình.

76-Người chẳng hổ thẹnkhông biết yêu thương mình, thì làm sao yêu thương người khác.

77-Ai cũng nói «tôi làm cái nầymục đích kia», nhưng đồng thời họ vẫn tự hỏi, «ta đang đeo đuổi cái chi ?» và «ta hành động gì ?».

78-Đừng vì một chút bất đồnglàm mất tình bạn, cũng đừng vì một chút hờn giậnquên đi thâm ân từ người khác.

79-Cảm ơn đời những gì tôi đang có trong bình an, và cũng cảm ơn đời những gì tôi chưa có, xin biến cố đừng đến trong cảnh bất an !

80-Khi đóng vai người vô tư để suy nghĩ… thì đó là từ bi.

81-Ai nói năng không châm chọc, không gây tổn thương, không khoe khoang, không bêu xấu người, thì tự nhiên sẽ có nhiều bạn.

82-Ai thành thật nhìn nhận lỗi lầm và khuyết điểm bản thân, là người biết làm cho mình mỗi ngày một xứng đáng !

83-Luật nhân quả không bao giờ đoạt của chúng ta cái gì cả, vậy tại sao đa số người cứ oán trách nó ?!

84-Hầu hết người trên thế gian, cả đời chỉ vướng trong ba việc, là dối mình, dối người, và bị người dối gạt.

85-Lòng ích kỷ trong bạn, tên lừa đảo lớn nhất, nó có thể gạt người khác một số lần thôi, nhưng nó lại gạt bạn suốt đời.

86-Có mặt rên thế gian là cộng nghiệp. Thấy xung quanh còn khổ, hãy xem như mình chưa bình an.

87-Bạn muốn nhiều thứ nắm chặt một vật, thì bạn chỉ có mỗi món ấy. Nhưng nếu bạn buông nó, thì bạn sẽ có cơ hội thu nhận nhiều đồ khác. Khi một người ôm cứng quan niệm của mình, không cởi mở, thì họ chỉ đạt đến trí thức cỡ ấy thôi.

88-Bạn đang sống khỏe, đó là phúc phần. Có những người bất hạnh, sống bệnh hoạn hôm nay mà không biết ngày mai ra sao, vì họ có thể trở thành tàn phế. Thăng trầm là chuyên không ai biết trước !

89-Mỗi người có một kiến thức. Hữu duyên thì giúp nhau được, vô duyên thì thôi. Liên hệ nhân sinh không bao giờ có giá trị nhất định.

90-Giá trị thật là «nắm bắt hiện tại», buông bỏ giá trị nầy là sai.

91-Ác khẩu là thứ luôn luôn làm cho ô-nhiễm miệng lưỡi. Người khác dù xấu ác bao nhiêu, bạn cũng đừng nguyền rủa họ, -vì càng nguyền rủa, thân tâm bạn càng ô-nhiễm, sa đọa.

92-Người ác thường hành động nghịch luật nghiệp quả, có thể gây tai hại đến xung quanh. Nhưng chúng ta không nên vì thế mà ghét họ. Vì chúng ta cần sống với tâm hoà bình, để tiến hóa.

93-Một người chưa trải qua đau khổ, thì rất khó cảm thông kẻ khác. Ai muốn có tinh thần cứu giúp, thì trước hết phải chịu đựng khổ nạn.

94-Sự sống chính là ta, muốn vất bỏ cũng không được. Cái cần dẹp đi là tật cố chấp. Ngoại cảnh hằng cung ứng cho ta nhiều thứ, nhưng ngoại cảnh không thuộc về ta, ta không có quyền phá hoại !

95-Vì chúng ta không thể thay đổi thế giới, nên chúng ta phải sửa đổi chính mình, để hòa hợp với thế giới.

96-Hiền lành thì thắng hung bạo. Bố thí thì thắng keo kiệt. Chân thật thì thắng giả dối. -GIỚI ĐỊNH TUỆ thì thắng tham sân si !

97-Lửa giận hờn khi đã bốc cháy, có thể thiêu rụi muôn ngàn núi rừng công đức.

98-Hận thù diệt hận thù điều không thể có. Từ bi diệt hận thù, là định luật ngàn thu.

99-Không có con đường dẫn đến «hạnh phúc», mà chỉ có những yếu tố lành mạnh..lập thành con đường có điểm đến hạnh phúc !

________________

Laisser un commentaire