Soạn phẩm liên đề : «Đạo Phật, Khoa học, Thiền Pháp, Sức khỏe» Bài 19

Bài XIX

ĐI TÌM HẠNH PHÚC

(Một bài thuyết trình của soạn giả)

<>Trước tiên, chúng tôi yêu cầu quí vị hãy giữ tâm tự nhiên, thật khách quan, đừng đặt mình trong tư thế HY VỌNG, «hay» THẤT VỌNG trước bất cứ điều gì ! Sinh hoạt văn hóa có tính cách «trao đổi ý kiến» nầy, nhằm tạo thói quen làm cho tinh thần thản nhiên, lành mạnh, giúp chúng ta tìm hiểu hai chữ «HẠNH PHÚC» (maṅgala).

-Bây giờ tôi xin bắt đầu :

*Nói đến «hạnh phúc» (maṅgala) thì sự suy nghĩ không thể«không liên quan» đến «đau khổ» (dukkha). -ĐI TÌM HẠNH PHÚClà «tìm cách đối trị đau khổ». Đó là hai mặt của một hành động. -Chữ «hay» (với gạch dưới) trong đoạn mở đầu, có thể được dùng nhiều lần tiếp theo, chỉ là một «liên từ» được đặt giữa 2 từ ngữ, chẳng hạn như «hạnh phúc» hay «đau khổ», luôn luôn đại diện cho hai mặt của các vấn đề nhị biên.

-Đó là vấn đề SỐNG TRONG TÌNH TRẠNG nào. «Liên từ» ấy chỉ giúp cho giòng tư tưởng chúng ta có «đối duyên» để xoáy khả năng suy nghĩ vào sự quán xét, chứ không phải để bị lạc đề !

*Hạnh phúc hay đau khổ tổng hợp của những cảm giác xuyên qua 5 (hay 6) giác quan, trước các thực tại sống,thuộc về hưởng thụ tiện nghi, danh lợiquyền lực, hay chịu đựng những điều không thích hợp (nghịch cảnh tinh thần lẫn thể xác), như va chạm trong gia đình, ngoài xã hội, và với thiên nhiên.Hạnh phúc hay đau khổ» hằng mặc nhiên lưu lại nhiều dấu ấn sâu đậm trong trí nhớ, còn gọi là «tiềm thức», hay «giác quan thứ sáu» của con người, -gọi theo nhà Phật là TƯỞNG UẨN !

*Là người học Phật, tôi phải hầu chuyện với quí vị, dựa trên tinh thần đạo Phật. Nhưng như vậy, không có nghĩa là buổi thuyết trình ngày hôm nay chỉ hướng về những tín hữu đạo Phật, mà là rộng hơn, -chia xẻ đến mọi người, không phân biệt tôn giáo. -Theo Phật học, hạnh phúc hay đau khổ là hiệu lực thuộc về «thọ uẩn», 1 trong 5 tập hợp tạo ra con người (Sắc uẩn, Thọ uẩn, Tưởng Uẩn, Hành uẩn, và Thức uẩn). -Và khi bình tâm suy xét thì «hạnh phúc có 2 loại, là hạnh phúc tưởng tượng và hạnh phúc thực tại».

*HẠNH PHÚC tưởng tượng thì dễ hiểu, vì nó là ảo giác, không thật. Nhưng «hạnh phúc thực tại» thì hoàn toàn khác. Nếu chúng ta sống  đúng theo lời Phật dạy, hiện tại đầy chánh niệm, biết mình dang làm gì, đang có cảm giác gì, cảm giác ấy dễ chịu hay khó chịu, nó «thật» hay «không thật», thì chúng ta có thể thấy toàn bộ cảm giác đó chẳng những không phải tưởng tượng mà là «người bạn đồng hành».

-Một phàm nhân mà sống vô cảm giác thì chẳng lành mạnh tí nào, và thiếu phẩm làm người, nếu không muốn nói là phản tự nhiên. Và một Thánh Nhân (ariya puggalo) vốn không phải là người sống vô cảm, mà là bậc đã thuần thục trong sự hóa giải mọi cảm giác, nhất là vẹt tan màng vô minh (avijjā). -Theo Phật giáo, Thánh Nhân hằng sống với cảm giác hỷ xả, và toàn thiện.

*Người tâm trí lành mạnh (nirāmaya), tỉnh thức (sati sampajañña), minh sát (vipassanā), và luôn luôn dựa trên trực nghiệm thực tại, để nhận diện cảm giác là «hạnh phúc» (sukha), hay «đau khổ» (dukkha)…là người thanh tịnh (visuddhiyā). -Khi phàm nhân quan sát một bậc phạm hạnh, rồi chủ quan khen ngợi, phân tích…vốn là «khen ngợi, phân tích theo triết học», chủ quan, -chưa chắc chính xác !

-Tất nhiên, những kẻ dựa vào tình trạng “tạm thời” hay “phù du” của một hiện tượng, rồi vội vàng phủ nhận hạnh phúc một cách toàn diện, là những kẻ vô ý trở thành cực đoan. Vì rằng một thực tại cảm giác nào đó, ở với ta lâu hay mau, rồi thay đổi biến mất…vì nó vô thường, chứ CHẲNG PHẢIbởi nó không thật.

VÔ THƯỜNG và KHÔNG THẬT la hai «hiện tượng» khác nhau !

Vô thường» ám chỉ một cái THỰC TẠI nhưng thực tại đó phải hằng thay đổi, không kéo dài mãi. *Còn «không thật» ám chỉ «một cái» chẳng bao giờ «CÓ THỰC TẠI» !

-Một số người nhân danh đạo Phật mà chưa phân biệt điều quan trọng nầy, đã diễn tả Phật học một cách phiến diện, làm cho người nghe hiểu lầm đạo Phật bi quan, nhìn cuộc đời chỉ là một chuỗi dài «ảo mộng, từ đó chịu đựng đau khổ…», thì thật đáng tiếc !

<>Chân lý thứ nhất trong TỨ DIỆU ĐẾ, tuy được dịch là «KHỔ ĐẾ» (dukkha ariya sacca), nhưng nó vốn chuyên chở cái ý nghĩa «chịu đựng» tất cả vui buồn luôn luôn hóan vị, nhiều hơn là ám chỉ «duy nhất sự đau khổ». Vì nội dung của «CHỊU ĐỰNG» bao gồm cả 2 cái thuận và nghịch, hài lòng và bất mãn. -Chúng ta không nên quên rằng, «một nửa sự thật không phải là sự thật !».

-Ví dụ, khi đói khát, ta uống một ly sinh tố tinh khiết, và cảm thấy dễ chịu, là một cảm giác hiện tại thật. Người nào nghĩ rằng cảm giác ấy là «ảo tưởng», do nước sinh tốvị giác tạo ralà kẻ sống ngoài thực tại, nếu không muốn nói là bị hoang tưởng, bệnh hoạn ! -Lý luận rằng «cảm giác ấy do duyên hợp mà thành. Nó chỉ có với điều kiện nào đó, là…không thật», thì khá lầm lạc và rất nghiêm trọng, vì ấy là diễn giải méo mó pháp duyên khởi trong nhà Phật !

<>Trong chiều sâu Phật học, «duyên hợp mà thành» chính là NGŨ UẨN (pañcakkhandhā),-mà ngũ uẩn là «tập hợp những yếu tố nhị biên song đối», do THAM LAM (lobha, rāga)…rồi chịu đựng cả hai tình trạng đối nghịch, là vuikhổ, tiếng Pāḷī gọi là «dukkha ariya sacca », -một trong 4 sự thật muôn đời. -Đó là Tứ Diệu Đế (catu ariya sacca) trong đạo Phật !

*Kinh Phật ngụ ý «con người đau khổ, vìchính con người sống trong tập khí ích kỷ, ôm cứng hiện tượng, chứ không phải vì hiện tượng vô thường». -Một hiện tượng «trải qua trong sự sống» là thật hay giả vốn do lòng THAM, chứ không phải do nó vô thường (aniccā), diễn ra và tồn tại một thời gian, lâu hay mau, rồi biến mất ! -Nếu con người thanh tịnh, sáng suốt đối diện với thực tại (=hiện tượng), trước cả 2 loại cảm giác dễ chịu (mānāpa) và khó chịu (amānāpa), thì con người sẽ liễu ngộ, ít đau khổ hơn, hay giảm được rất nhiều dằn vặt !

<>Hơn nữa, vô thường vốn là «đặc tính» (lakkhaṇa) của cái gì kết hợp ĐỂ THÀNH và HIỆN HỮU trong thực tại. Vì nó CÓ và đang trình diện, nên nó mới thay đổi. chứ nếu nó KHÔNG CÓ, thì lấy gì thay đổi ?!-Chưa kể VÔ THƯỜNG (thay đổi) còn có thể coi là một «giải pháp không thể thiếu» trên cõi đời ngũ uẩn, hay danh sắc biến hành nầy. -Do đó, phải xem vô thường «nội dung cần thiết» để vạn vật vận hành. -Thử tưởng tượng một đứa bé sơ sinh nếu nó không thay đổi, không phát triển, không lớn lên, cứ ở mãi tình trạng thường (cũ), thì cuộc đời sẽ ra sao, -tốt hay xấu ?!

-Như vậy,«THƯỜNG» (hay trường sinh bất lão)là một pháp «phản tiến hóa», nghịch khoa học !

-Ngược lại, VÔ THƯỜNG (liên tục đổi thay) là thực tại TIẾN HÓA !

*Hôm nay chúng tôi không hoàn toàn đóng vai thuyết trình viên trước quý vị, mà chúng tôi còn xin phép được đóng vai «người gợi ý», để cho đề tài ĐI TÌM HẠNH PHÚC này “thông thoáng” ! -Chúng tôi sẽ không nêu ra một phương pháp đóng khung (=cố chấp), làm «tiêu chuẩn», để bảo đảm «tìm được hạnh phúc». Nhưng chúng tôi sẽ cống hiến đến quí vị, một số nghiên cứu Phật Học và triết học, để tất cả cùng nhau khai phương, tìm ra «giải đáp» một cách khoa học.

*Khi dựa vào Phật học mà đồng thuận, thì quý vị sẽ TỰ CÓ một số «nguyên tắc căn bản», liên quan rất tích cực đến đề tài «ĐI TÌM HẠNH PHÚC», giảm bớt đau khổ ! -Nhưng trước khi bàn sâu vào chủ đề, chúng tôi xin mạn phép giới thiệu đến quí vị một số «thuật ngữ» Phật học, giúp cho việc diễn tả thuận tiện hơn, chẳng hạng như “các nhóm từ” ít nghe nói sau đây :

1-Bất lybất đoạn. 2-Tính vật lý tương tác. 3-Các pháp song đối. 4-Nhânduyênquả liên quan. 5-Ba nghiệp chỉ một thời.

-“Bất ly” ám chỉ “sự không rời của 2 thành tố, nhưng khi người ta nhìn thấy cái nầy thì có thể không nhìn thấy cái kia”. -Như bề mặt và bề trái một tờ giấy. -Còn “Bất đoạn” cũng ám chỉ“sự không rời của 2 thành phần, nhưng khi người ta thấy cái nầy, thì người ta cũng thấy cái kia. -Hai cái “bất đoạn” được giới hạn bởi một ranh giới thôi. Chẳng hạn như lục địa «bất đoạn» với đại dương, do bờ biển. -Hay dãy núi «bất đoạn» với đồng bằng nhờ chân núi.

-Trong một buổi giảng tại «Câu lạc bộ Y DƯỢC HỌC DÂN TỘC VN» trước đây (tại Sài-gòn), chúng tôi đã được nghe nói đến «phương pháp trị liệu» của 1 nhóm bác sĩ chủ trương là «Công Thức 4T», gồm Tôn giáo, Thể dục, Thực phẩm, và Thuốc men. –Còn nói về TÂM ĐỨC, thì «Câu lạc bộ YDHDT.VN» phát huy 4 hạnh kiểm, Tôn trọng, Tương trợ, Tha thứ,Thân thương…v…v… -Chúng tôi nhận thấy trong đó, có một «phẩm cách» đáng làm rõ là «tôn giáo».

-Nếu «tôn giáo» trị bệnh bằng bùa phép, thì đó là mê tín dị đoan, ngu dân, rất nguy hiểm.  Và nếu «tôn giáo» trị bệnh bằng niềm tin, thì có thể là một sáng kiến hay, nhưng với điều kiện niềm tin phải lành mạnh, khai trí. Sau cùng, nếu «tôn giáo» trị bệnh bằng thiền pháp (=thanh tịnh), thì ấy chính là một «khoa học tâm linh» mang lại nhiều hy vọng, -nhất là trong chánh kiến và dùng CHÁNH THIỀN !

Trình bày «Phương pháp 4T» theo thiện ý của 1 người tin Phật :

*Chữ T thứ nhất ám chỉtự mình có niềm tin tôn giáo, dựa trên PHÁP TIẾN HÓA (kusala dhammā), tư duy tích cực (=hay “năng giữ vệ sinh tinh thần”), và giảm thiểu căng thẳng (stress), do tham sân si (lobha, dosa, moha) cố hữu gây ra.

*Chữ T thứ hai ám chỉ thực phẩm lành mạnh, tự nhiên, sạch sẽ, hợp lẽ đạo, không cầu kỳ gia vị (=chẳng nhiều kích thích tố), không bị ảnh hưởng bởi hóa chất bảo trì vượt mức chỉ định, nhất là hóa chất chỉ để làm đẹp bề ngoài, và giữ lâu hơn luật lệ cho phép.

*Chữ T thứ ba ám chỉ thể dục, hay nói chung là vận động hằng ngày, -trong mọi hoàn cảnh, chứ không phải chỉ khi ra công viên thực hiện, thao diễn cho mọi người thấy (!?), mà về nhà lúc muốn uống một ly nước, cũng lập tức bảo người làm phục vụ tận tay, -vô tình hay cố ý đánh mất một hành vi nhân thể, tựnhiên và độc lập.

-Chữ T thứ tư ám chỉ thuốc men, theo Đông y hay Tây Y, cần phải hợp với khoa học, dùng đúng liều lượng và thời gian, do bác sĩ trách nhiệm có y đức ấn định, nhất là không dùng «thuốc trị bệnh» theo tin đồn hay quảng cáo không thể kiểm nhận, vô căn cứ !  

*Nghĩa là ÁP DỤNG «công thức 4T» có nội dung chính đáng như vừa được chúng tôi trình bày ngắn gọn trên đây, cũng có thể xem là một cách «giải quyết bệnh hoạn»…hợp lý và sáng tạo…mưu cầu sức khỏe lành mạnh…được kéo dài !

<>Nhưng nếu chúng ta muốn đi vào PHẬT HỌC, để xây dựng sức khỏe tinh thần, lẫn sức khỏe mạnh thể xác, một cách khoa học, thì ngoài Công thức 4T ra, chúng ta còn tìm thấy nhiều Phật ngôn soi sáng lãnh vực nầy một cách minh bạch hơn.

*Hãy bắt đầu bằng «TÔN GIÁO», hay liệu pháp thứ nhất (của câu lạc bộ YDHDT). Đối với đạo Phật,«tôn giáo là biểu lộ của sức mạnh tinh thần», đó là một thực tại nòng cốt trong sự sống. Và «tính thông minh bẩm sinh» trong mỗi con người nói riêng, trong từng loại chúng sanh nói chung, tự nó vẫn làm cho «mỗi động tử», có «một khuynh hướng tâm linh đặc thù theo biệt nghiệp». Nhưng tham sân si (=vô minh) trong các kiếp luân hồi, đã làm cho «động tử» ấy, không nhận rõ «khuynh hướng tâm linh chân thật», nên lòng tham của con người trong cõi nhân sinh (cộng nghiệp) đã «chế tác» ra đủ thứ «huyền năng», rồi thành lập nhiều tín ngưỡng luôn luôn trái chiều với GIÁC NGỘ, xa rời SỰ THẬT (sacca).

<>Đạo Phật tuy cũng được nhân loại xem là «tôn giáo», nhưng «Bản Chất của Đạo Phật» không phải là «tôn giáo» thuộc về «thần linh thưởng phạt», dù cho Đức Phật đã có siêu lực vượt hẳn bất cứ «đối tượng toàn năng» nào trong các tín ngưỡng thần quyền đang hưng thịnh. -Nhưng trước cảnh tượng xã hội Ấn-độ tràn ngập «ngu dân huyền bí», chủ trương phân chia giai cấp một cách si mê. -Sự BÌNH ĐẲNG và BAO DUNG đối với đạo Phật chính là PHÁP GIẢI ĐỘC ! -Vì thế, Đức Phật đã không thể không giải thoát con người, bằng một cuộc đại lành mạnh hóa xã hội, «san bằng» tất cả các giai cấp do «thần linh» áp đặt, xuyên qua lớp người cuồng tín độc tôn, gọi là giáo sĩ bà-la-môn đương thời.

-Từ đó, NIỀM TIN (saddhā) của người noi gương Phật, phải dựa trên chánh kiến sammā diṭṭhi), với trí tuệ bẩm sinh sâu hay cạn, và sống với thái độ bình tĩnh, chấp nhận mọi thăng trầm như một thực tại nhân quả, trong 3 cõi…-để tự lực tu thân,tiến hóa một cách hợp lý(=khoa học). -Sẵn sàng cải thiện cả nhân lẫn quả, không xem thăng trầm «định mệnh» !    

-Tiếp theo, liệu pháp thứ hai là «THỂ DỤC» hay đúng hơn là «năng động cơ thể», được Phật học xem như biểu lộ của HÀNH UẨN, 1 trong 5 tập khí tạo ra con người. -Và đó là thói quen TỐT (sundara pakaṭi), siêng năng, không lười biếng (viriya), đối nghịch hẳn với thụ động(nirīha) hay ác tính (akusala cetasika), nói lên «sự thuần thục trong pháp hành». Đó cũng là một «quả lành sâu sắc» mà giáo lý tiến hóa của đạo Phật, luôn luôn khuyến khích. -Nhưng ít ai chú ý đến thiện pháp nầy trong hành uẩn, khi bàn về «ngũ uẩn».

Liệu pháp thứ ba, THỰC PHẨM, hay nói chính xác hơn là ẩm thực lành mạnh. Đây chính là «y liệu cần thiết» cho việc tăng cường sức khỏe, chống lại bệnh suy dinh dưỡng, mà Phật học gọi là «bồi bổ sắc pháp đúng theo đòi hỏi của nghiệp quả trong mỗi cá nhân». Nhưng nếu ẨM THỰC thiếu yếu tố tốt ấy, thì con người sẽ không tránh khỏi 1 trong 2 kết quả xấu, là phì mậpgầy ốm, nguyên nhân của nhiều thứ bệnh khó chữa khác (vì thiếu hay chất bổ), đồng thời đáng sợ hơn nữa…là «nạn nhân» không thể duy trì được nhịp sống thăng bằng, khiến cho thân tâm chịu đựng nhiều thống khổ !

-Sau cùng, liệu pháp thứ tư để khôi phục sức khỏe, thông thường ai cũng biết…là THUỐC MEN. Theo Phật giáo, thói quen «thường xuyên uống thuốc không phải là điều tốt», nên Phật giáo hằng khuyên nhân loại tránh trở thành «nô lệ dược phẩm». -Vì khoa học chứng minh rằng, thuốc kích thích và hổ trợ “thân thể giải trừ chất độc”, chứ thuốc hầu hếtkhông diệt độc, vì trong chiều sâu thuốc cũng là «một thứ độc», -thuốc vào thân nhiều sẽ di hại về sau !

-Do đó, khi bắt buộc dùng thuốc, theo toa bác sĩ (được Thẩm Quyền «Bác sĩ Đoàn» nhìn nhận), thì phải tránh lạm dụng, và nhất là không được dùng bừa bãi, theo tin đồn hay quảng cáo vô căn cớ ! -Hãy luôn luôn thận trọng trước «nghịch lý trong xã hội văn minh ngày nay», rằng «thuốc giả xuất hiện rất thường trên thị trường», và nạn «thầy thuốc lang băm» lừa gạt»…xảy ra không ít…vượt kiểm soát của thanh tra nhà cầm quyền !

<>Nói tóm lại, mỗi cá nhân khi không may bị nhiễm độc (thân hay tâm), thì phải tự mình đóng vai chính trong việc «áp dụng cách chữa trị» ! CÔNG THỨC 4T chỉ là «đề nghị» của một nhóm y sỹ có thiện tâm, chứ không phải «các chiếc đũa thần», có khả năng «cứu nhân độ thế một cách máy móc trong mọi trường hợp».

*Tất nhiên Phật học cũng không bao giờ xem mình là «phép lạ» (=ngoại năng), vì Phật học vốn nhắc nhỡ tất cả mọi người phải TỰ LỰC, thường xuyên nương nhờ nơi sự bình tĩnh của chính mình, và cố gắng học hỏi CHÂN LÝ một cách chánh kiến, để phát triển trí tuệ. -Chỉ có TỰ LỰC cùng TRÍ TUỆ mới có thể phòng chống và tránh được nghiệp khổ (thân bệnh cũng như tâm bệnh) của từng cá nhân, xuyên qua 2 phương diện, là tìm ra NGUỒN GỐC ĐÚNG rồi dùng PHƯƠNG PHÁP ĐÚNG, để giải trừ bất hạnh !

*Theo đạo Phật, trong phương tiện dùng trị liệu, có 50% là những yếu tố tâm lý (dựa theo khoa học thần kinh), còn 50% là những hướng dẫn đạo đức (dựa theo tôn giáo nói chung), và nhà Phật nói riêng, để “giảm bớt phiền não” gồm những lo, buồn, sợ, giận…vốn cố hữu trong mỗi cá nhân. -Lý do chúng tôi nêu ra tỷ lệ như thế, vì lo, buồn, sợ giận khi thái quá có thể trở thành “4 tà khí” nguy hiểm trong thân thể con người. «Bộ tứ» lo-buồn-sợ-giận luôn luôn là nguyên nhân phát sinh những mầm bệnh kỳ lạ và bất trị !

-Tuy nhiên, như chúng ta đã biết, trên thế gian không có gì tuyết đối, nếu lo-buồn-sợ-giậnmặt tiêu cực là gây ra bệnh hoạn, thì mặt «tích cực» của chúng vẫn đáng chú ý, như các «hiện tượng» sau đây :

LO là cũng có thể là “nguyên nhân” của tinh thần trách nhiệm,

BUỒN cũng có thể là «hậu quả» của lòng xót xa thương người,

SỢ cũng có thểlà «thái độ tự nhiên» của sự dè dặt, và

GIẬN cũng có thể là «phản ứng bất bình» trước mọi bất công. (-Bất công đối với mình, hay bất công đối với những người thấp cổ bé miệng, cùng hoàn cảnh yếu thế như mình, trong xã hội nhiều tham sân si và độc tài toàn trị, ỷ mạnh hiếp yếu !

*Nhưng xét về mặt tiêu cực, nếu lo buồn sợ giận biến thành «ác khí» thì tai hại hơn rất nhiều. -Do đó, chúng ta phải thường xuyên dùng THIỀN PHÁP trong đạo Phật để chuyển hóa chúng. -Nếu không, chúng sẽ phát triển và dày vò thân tâm, làm cho con người mù quáng.

<>Hơn nữa, khi đau ốm chúng ta quá chú ý đến bệnh hoạn (đến độ biểu lộ ra 4 dạng lo, buồn, sợ, giận), thì kháng tố (antitoxin) trong thân thể chúng ta sẽ suy yếu, không đủ khả năng bình thường, chống lại sự tấn công của độc khí. -Hay khi chúng ta đối diện với nghịch cảnh ở đời, mà chúng ta quá “lo buồn sợ giận” thì đầu óc chúng ta sẽ kém sáng suốt, để giải quyết vấn đề một cách đúng đắn, nếu không muốn nói là chẳng vượt qua được, hay liều lĩnh làm càng…hoặc phiêu lưu làm liều…vượt qua bằng một giá rất đắc. Và xem ra, quảng đời còn lại của chúng ta quả ngắn, nếu chúng ta cứ để cho lo buồn sợ giận phá hoại năng lượng tinh thần, thì CẢNH KHỔ ĐÓ do chính chúng ta vô tình nuôi dưỡng.

-Cần biết thêm rằng “bất lực và thụ động…dẫn đến buông tay, vì dựa trên một số lý lẽ tiêu cực nào đó”, chắc chắn không phải là phương pháp “đối phó tốt” hay «khắc phục nghịch cảnh», một cách đúng nghĩa…có thể sẽ hối hận về sau !

-Vậy “đối phó tốt” với lo-buồn-sợ-giận như thế nào ?

<>Câu chuyện “Tái ông mất ngựa” trong “Túi khôn loài ngườiđã đành rất hay, nhưng chưa đủ. Có bao nhiêu người đã đọc qua câu chuyện, rồi nghiền ngẫm, mà trong sâu thẳm thân tâm, họ vẫn chưa tiêu trừ được lo buồn sợ giận !? -Hay phải chăng khi cảm thấy bất lực, không còn cách khác ngoài đầu hàng, rồi “bình tĩnh buông taychịu thua, tự hủy hoại sinh mạng…cũng là một giải pháp ?! -Và ngay cả tự tử bằng thuốc ngủ “tương đối êm dịu”, của một số người vô tôn giáo, đầu hàng nghịch cảnh, cũng không phải là «thượng sách» !

*Theo Đạo Phật, hễ có thân ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) do mình đã tạo nghiệp trong vô lượng quá khứ, thì phải có NGHIỆP SỐNG chứa lo buồn sợ giận. Nhưng nhờ tu hành (nhất là nhờ THIỀN PHÁP), chúng ta có thể loại trừ 4 THỨ ẤY. Và khi THỨC UẨN vượt thắng được các uẩn còn lại, thì tiềm lực soi sáng của TUỆ CĂN sẽ phát sinh, làm cho tinh thần trở nên dũng cảm, trong đạo hạnh tự lực giải thoát. -Vì vậy mỗi phàm nhân muốn giảm thiểu các chịu đựng «khổ vui» phải tinh tấn và nhẫn nại tu thiền (bhāvanā yoga), không nên nói cho xong chuyện, kiểu phát ngôn một câu rất «phật học», là “tùy «duyên» thôi (?!)…tu được chừng nào hay chừng ấy”.

*Cần biết rằng “viên dung thánh tâm là kết quả của vô số mảnh công phu, thanh lọc thói quen xấu trong thực tại”. -Ví như những trận «đại hồng thủy» (=lũ lụt lớn), có sức mạnh vô địch…quét sạch mặt đất, không phải do một cái vòi khổng lồ, đổ nước từ trên trời cao xuống, mà là do những hạt mưa lớn nhỏ hợp lại !

-Trên thực tế, tất cả chúng ta ai cũng mong cầu 3 thứ hạnh phúc, là được sống lâu, sức khỏe,giàu sang, -vì 3 thứ ấy rất cần cho sự duy trì ngũ uẩn tốt trong một kiếp người. Nói cách khác, là chúng ta vẫn còn chưa buông bỏ nổi sự HAM MUỐN dành cho kiếp sống ! Và «hiện thực của sự tham sống» là THÂN TÂM nầy. -Người có chánh kiến thì cương quyết dùng thân tâm (như phương tiện) để HÀNH THIỆN, tiến hóa…nên sự vượt thắng THÂN TÂMkhông có nghĩa là bi quan, bê tha, bỏ cuộc, mà là dũng cảm tu sửa cả 2 một cách đúng pháp (có khoa học), và nhất là không nô lệ nó (sáng suốt, giác ngộ, tự lực). -Sự “Vượt thắng” ấy chính là cái NHÂN (hetu), còn HẾT lo buồn sợ giận chỉ là cái QUẢ (vipāka) !!!

<>Kinh Phật vẫn nhắc “thanh lọc thành công TÂM TÁNH, thì hiệu lực lành mạnh toàn thể NGŨ UẨN tự nhiên sẽ đến”. -Bậc Giác Ngộ luôn luôn chuyển hóa cái NHÂN (hetu), chứ không phàn nàn…bận tâm né tránh cái QUẢ (vipāka). -Hay Bồ-tát không bao giờ đầu hàng nghịch cảnh thực tại, mà sẵn sàng đối diện, và vui vẻ “hóa giải nó”, một cách can đảm !

*Đức Phật và chư Thánh, trước khi xả bỏ xác thân lần cuối, các Ngài đều trải qua bệnh hoạn. Nhưng “giác tánh” của các Ngài đã không còn bị cầm tù trong ngũ uẩn. “NÓ” không thể bị đồng hóa với tập khí xấu, hay “thức uẩn mờ đục” nữa, thì các Ngài làm gì có “lo buồn sợ giận”, để phải không ngừng tìm kiếm hạnh phúc như chúng ta ?!

-Dù chúng ta chưa tiến hóa ngang hàng với Bồ-tát hay Thánh nhân, nhưng khi “thiếu tin tưởng” vào khả năng tâm linh của mình là một điều đáng tiếc ! -Chúng tôi chỉ xin đặc biệt nhấn mạnh rằng, sự thực hành thiện pháp đầy đủ (theo Bát Chánh Đạo), hay viên tròn Ba-la-mật (trong Giới, Định,Tuệ), vẫn là giải pháp duy nhất, đoạn trừ được lo buồn sợ giận, tìm ra “hạnh phúc” hằng ngày !

<>Tiện đây, do hoan hỷ trước “công thức 4T” của «Câu Lạc Bộ YDHDT.VN», chúng tôi xin cống hiến đến quí vị một “sáng kiến lành mạnh” khác, cũng được viết bằng ký hiệu, nhưng là “ký hiệu bằng  tiếng Anh-cát lợi”, gọi là “6W”, tạm dịch ra Việt ngữ là “công thức 6 tích cực”. -“Công thức 6W” nầy tránh tối đa cái tiêu chuẩn đóng khung đối nghịch, dẹp bỏ “KHÔNG LÀ”, hay “PHẢI LÀ” (“To be or not to be”).

*Công thức đó khi viết đầy đủ, thì gồm các chữ Anh : Who (=ai), What (=cái gì), Why (=tại sao), When (=khi), Where (=ở đâu), và Which (=cái nào), liên quan đến đề tài “Đi Tìm Hạnh Phúc”, như sau :

WHO (ai) : Ai đi tìm hạnh phúc ? Bạn biết rõ mình chưa ?

WHAT (gì) : Hạnh phúc là gì ? -Bạn làm sao nhận ra nó ?

WHY (tại sao) : Lý do tìm hạnh phúc ? -Đó là động cơ tiến hóa ?

WHEN (khi) : Lúc nào đúng nhất ? Có thời gian hợp lý không ?

WHERE (ở đâu) : Nơi đích thật có thể tìm ra hạnh phúc ?

WHICH (cái nào) : Nhận diện nó ra sao, để không lầm lẫn ?

***

<>Và trước khi khiêm nhượng diễn giải “công thức 6 tích cực”, chúng tôi đề nghị khảo sát thêm một số Pháp Phật và các nguyên tắc tương đốitrongkhoa học tâm linh lẫnkhoa học lý hóa, phối hợp với triết học nhân gian đã từng biết, để chuẩn bị như nền tảng cho sự nghiên cứu đề tài “ĐI TÌM HẠNH PHÚC”

Xin trình bày theo thứ tự A, B, C

A-Về Phật học. Xin nhắc lại :

Các pháp bất ly (theo Vi Diệu Tạng)

     –Các pháp nhị biên, song đối, tương khởi (Triết học)

   –Các pháp liên quan giữa NHÂN, DUYÊN, và QUẢ (Kinh tạng)

   -Các pháp nói về BA nghiệp, nhưng chỉ có MỘT thời (Khoa học)

B-Về khoa học và triết học. Thử nghĩ đến

Tính vật lý tương tác

Sự cần thiết của luật song đối

Thời gian không phải là 1 đường thẳng.

Chu kỳ thời gian là “gạch nối” giữa khổ và vui.

(Gạch nối ấy cũng là ranh giới giữa “THƯỜNG” và “BIẾN DỊCH”).

Đừng quên khoa học vật lý vẫn chứng minh rằng :

Tận cùng cái nầy chính là bắt đầu cái kia.

-Tốc lực tối đa xóa cả thời gian lẫn không gian.

C-Khai triển ký hiệu Anh ngữ 6W, liên quan đến đề tài.

-AI (Who), cá nhân nào đi tìm hạnh phúc. “AI” ở đây, ngoài cái nghĩa là người đã “tương đối có chánh niệm”, còn dựa trên pháp bất ly, “không tách rời những AI khác”. Tức là nhân vật “AI” đó cũng biết rằng, tất cả vui buồn của một cá nhân, không tách rời vui khổ của các cá nhân khác (cộng nghiệp). Vì vậy, KHÔNG NHẤT THIẾT “ta” phải là AI. Từ đó người học Phật sẽ có thái độ giải biên, khoan dung, can đảm hơn. -Cả trong nghịch cảnh, hay khi bị bệnh hoạn dày vò.

-CÁI GÌ (What) là biểu tượng của hạnh phúc. Tuy hạnh phúc chỉ là một cảm giác (tâm sở THỌ lạc hay THỌ hỷ, nói theo nhà Phật). Nhưng trong đời sống phàm tục hằng ngày, hạnh phúc ấy vốn liên hệ, và đến từ một đối tượng khách quan, tức hoàn cảnh gồm một hay nhiều người. -Cái vui của người nầy RẤT có thể là tốt hay là xấu đối với người khác, chứ KHÔNG NHẤT THIẾT cố định. -Từ đó người học Phật sẽ có một thái độ sáng suốt, chính đáng, và sẵn sàng mở rộng hơn, -không cần phải như thế nầy hay như thế khác mới “hạnh phúc”. -Tức thoát ra khỏi cái khung điều kiện “phải là” (“to be or not to be”) !

-TẠI SAO (Why), hay động cơ đi tìm hạnh phúc. -Động cơ ở đây phải nhằm có hiệu lực cải thiện, tiến hóa. Nếu động cơ chỉ là vui thích ích kỷ, cá nhân, thì nó vốn ngấm ngầm nghịch chiều với tiến hóa hay hướng thiện, và chắc chắn dẫn đến cái buồn (khách quan lẫn chủ quan). -Cho nên, “tại sao” hay “sự thúc đẩy đi tìm hạnh phúc” của người học Phật không bị “triết lý hóa” một cách vị ngã, hay “thoát tục hóa” một cách lý thuyết, như những “nhà thần học…đại hùng biện” có óc thông minh sắc bén, xưa nay thường nêu ra và cổ võ !

-KHI (When), hay lúc nào. Thông thường thì người ta “đi tìm hạnh phúc” khi có cảm giác đau khổ (thời gian). -Nhưng theo nhà Phật, bên trong thời gian đã chứa sẵn 3 cảm giác vui lẫn khổ, hay trung tính… khỏi phải đi tìm ! Ví như chu kỳ 24 giờ vẫn chứa cả ngày lẫn đêm, hay lờ mờ (ánh sáng hòa với bóng tối). Và đó là một SỰ CẦN THIẾT. Ba trạng thái vui (sáng), khổ (tối), và lờ mờ (cảm giác thụ động) ấy tuy vô thường, nhưng đều THẬT. -Người thanh tịnh không vì tính không bền vững của chúng, mà cho là chúng GIẢ, rồi bắt mình “quên đi”. -Mà thực tế thì không thể làm được !

*Và hiệu lực của THIỀN PHÁP trong nhà Phật cũng không phải để quên cảm giác, mà là để chẳng vướng vào cảm giác nào hết, rồi hướng về sự lành mạnh, để được tự do (không bị nô lệ), và hóa giải mọi cảm giác lo buồn sợ giận ! Vì vậy, hành thiền cần thường xuyên (như hít thở để sống vậy!), chứ KHÔNG NHẤT THIẾT phải là vào THỜI GIAN đóng khung nào !

-Ở ĐÂU (Where), không gian. Đây là một từ ngữ ám chỉ “giới tố vật chất”, vốn bất định ở tất cả các chiều. Không gian có thể là một địa điểm rất hạn chế, và không gian cũng có thể là vô biên. “Ở đâu” nói đây, chỉ là một từ ngữ chế định, tạm qui ước để định hướng thực tại. Và nơi nào cũng là không gian cả ! -Về phương diện “tâm lý triết học”, thử nêu thí dụ, -một “tù nhân” khi thức tỉnh, chân thành hướng thiện, hay đã giác ngộ, thì cho rằng “mình ngồi tù là hợp lý”, cũng có thể có “cảm giác thảnh thơi” ngay tại chỗ bị giam giữ chật hẹp, cho đến khi mãn án.

-Như vậy, cảm giác tự do tùy thuộc ở khả năng chấp nhận thực tại và tính vượt thắng chính mình một cách thanh tịnh, (khi đối diện một nghịch cảnh). Hạnh phúc tự do KHÔNG NHẤT THIẾT ở không gian nào, hay phải là đâu ! -Sống tại gia mà chẳng vướng mắc, thì cũng có thể tự tại, thảnh thơi…như đã xuất gia !

-CÁI NÀO (Which). Ở đây từ ngữ “cái nào” ám chỉ “đối tượng” của sự chọn lựa do vô tham, vô sân, vô si, rất tương tác với thiền pháp. Người tỉnh thức, thường xuyên tu tập thân tâm, sẽ không chọn lầm đối tượng, để không có cảm giác hối tiếc (kukkucca, anutappati), -tức là tự tại hạnh phúc. Vì vậy, không có dụng ý trước theo quan niệm chung “phải là cái ấy”. -Đây là trường hợp, mà Phật học gọi là “trạch pháp” (dhamma vicaya sambojjhaṅga) !  

(Ngoài ra, nội dung “6W” (hay “6 tích cực”) cũng có thể được áp dụng trong nhiều lãnh vực khác, thảnh thơi suốt đời sống hằng ngày, chứ không nhất thiết là gò bó theo thiền học, triết học hay Phật học).

Chung kết :

<>“Chung kết” ở đây xin được hiểu, là phần qui nạp những điểm chính, vào một “đoạn văn ngắn”, chuyên chở hầu hết các ý nghĩa trọng tâm của  đề tài, sau một thời gian hân hạnh trình bày. -Chúng tôi mạo muội “cô đọng” rằng, “KHẢ NĂNG TÌM ĐƯỢC HẠNH PHÚC (dù chỉ tương đối), của một người, tùy thuộc hẳn vào trình độ hiểu biết thực tại (nội tâm lẫn ngoại cảnh), và thái độ chấp nhận duyên nghiệp (hay quả đã tạo ra trong quá khứ) của chính người ấy.

-Ngoài ra, TỰ LỰC cũng là một Pháp Phật hàng đầu, để mỗi cá nhân có thể thành thật tự hỏi, “ta đã hiểu biết đầy đủ, ta hiện như thế nào chưa ?”, hay “ta tự hiểu biết vui khổ trong ta là ra sao đây ?”, và “khả năng hóa giải nghịch cảnh của ta có thể hữu hiệu tới đâu, để ta truy tìm hạnh phúc ?”.

*Khi đã hiểu biết rồi, thì một người (dù chưa gặp bất hạnh hay đang đối diện với bất hạnh) sẽ thấy rõ đối tượng gây cảm giác hạnh phúc nơi họ phát nguồn như thế nào. Và họ cũng biết rằng “đối tượng cho họ cảm giác dễ chịu trước thực tại, gọi là hạnh phúc” ấy, không nhất thiết phải giống như người khác” (bởi căn cơ bất đồng). -Do đó, ta không cần phải có cái “tốt” giống như người khác, thì ta mới vui !

-Họ cũng cần thành thật phân biệt một cách sâu sắc rằng, “Hiểu và nhớ thuộc lòng các tưtưởng cao siêu không phải là đương nhiên được thoát tục”. -Các câu kinh Bác-Nhã như “sắc tức thị không, không tức thị sắc…” chỉ có giá trị tuyệt vời, khi người nghĩ về nó là…một Thánh nhân, hay đối với một người phàm hướng thiện, thì ấy phải là một sự chứng đắc (trải nghiệm). -Nhưng nó không là gì cả, khi chỉ là một số kinh văn học thuộc lòng !

-Vì “chư Thánh Nhân hằng sống với hạnh thoát tục, chứ các Ngài không sống với tư duy thoát tục”. -Nếu quả thật hễ ai có quan niệm “thương người là tư tưởng tốt”rồi kẻ ấy luôn luôn hành động vì người, thì thế gian nầy đã bớt đi rất nhiều đau khổ !

<>Đa số phàm nhân (nhất là trong hàng ngũ gọi là trí thức), thường thích sưu tập, chép thành cả cuốn sách, chứa đầy những lời lẽ vô cùng cao thượng, siêu việt, thoát tục, diễn tả đức hạnh của Thánh nhân. Và họ tất nhiên thường nêu ra để “nhắc nhở” mọi người, đồng thời họ cũng rất hài lòng với việc “ghi nhớ trong đầu tất cả những thuyết lý và tư duy thoát tục” ấy, nhưng đêm nằm…lắm khi họ vẫn luôn luôn cảm thấy mình còn dẫy đầy khổ não, phiền muộn…không thoát tục !

<>Vả lại, trong buổi sinh hoạt hôm nay, chúng tôi nêu ra và thảo luận đề tài “đi tìm HẠNH PHÚC”, với ý muốn xem đó như một phương pháp điều chỉnh tư duy, để áp dụng và “ngăn ngừa phiền não”. (?!) Phiền não nói chung ở đây là ai, hỉ, nộ, ái, ố, lạc, dục (thất tình), hay 4 “tập khí” lo, buồn, sợ, giận trong mỗi con người phàm phu. Chúng không phải chỉ làm khổ tinh thần, mà chúng còn làm khổ cả thể xác.

-Theo khoa học, khi thể xác đau, bệnh nhân phải uống thuốc bằng thân (bỏ dược phẩm vào miệng nuốt) lẫn bằng tâm(tin tưởng vào vị bác sĩ có y đức), thì khi tinh thần đau, bệnh nhân cũng phải làm tương tự. -Nghĩa là “bệnh tinh thần” phải được điều chỉnh tư duy bằng thực hành thiền pháp, định tỉnh được thân và tâm, tức là trong tinh thần…phải phát sinh tín lựcchánh kiến, thì sư TRỊ LIỆU mới có hiệu quả, chứ không phải chỉ bằng tư duy suông, hay suy nghĩ lý thuyết cao siêu, thoát tục…là đủ !

<>Ngoài ra, đức tính sáng suốt sự nhìn nhận tác dụng của khoa học thực nghiệm cũng cần phải được tôn trọng trong mọi tư duy, kể cả khái niệm “đi tìm hạnh phúc”. –Vô tư trong thực nghiệm chính là một thái độ then chốt, của mọi tiến trình văn hóa, khoa học. -Và đối với một cá nhân gặp bất hạnh, việc trước mắt là phải bình tĩnh, sẵn sàng trải qua các thử thách, với quan niệm “đó là quả báo”…trổ ra từ nghiệp xưa của mình !

-Liên quan đến các “hiện tượng độc đáo” thuộc về tôn giáo nói chung, về Đạo Phật nói riêng, mô tả rõ ràng trong kinh sách, các thực tế thăng đọa…dù sâu sắc, hiển nhiên đến đâu, tuy vẫn là những tài liệu tham khảo tốt, nhưng đó không phải là “nền tảng” nhất định, để chúng ta dựa vào đó, mà kết luận những gì sắp xảy ra trong thực tại, là một “qui nạp phải có” (cố định, cứng ngắc) ! -Vì sao ?! -Vì trên bình diện lý thuyết, các vấn đề có thể giống nhau, nhưng trong chiều sâu thì khác hẳn ! -Nếu nghĩ rằng “những kiến thức Phật học ấy sẽ giúp ta vượt qua bất hạnh”, rồi “ta tự nhiên được an vui, với sức mạnh tinh thần”(?), không cần bắt tay tu tập, thì đó là một lầm lạc rất lớn !

*Những “kiến thức uyên bác” về tôn giáo, hay lý thuyết thần học càng KHÔNG phải là “thiền lực”, để có thể cho ta những khả năng kỳ diệu. Vì thiền lực chỉ đạt được sau khi hành giả đã trải qua 1 quá trình tu tập, thực hành thiện pháp thuần thục, với đầy đủ chánh kiến (sammādiṭṭhi) và đã “chuyển tánh” (gotrabhū), thành công. -Nó hoàn toàn nghịch chiều với lý thuyết triết học và tư duy vụ lợi. Càng không nên nghĩ rằng “sự thành tâm cầu xin tha lực tuyệt đối tin tưởng 1 đấng thiêng liêng nào đó, thì vượt qua mọi đau khổ tinh thần lẫn thể xác”, rồi “tìm ra hạnh phúc”. -Trên thực tế, sự tin tưởngthành tâm cầu nguyệnvụ lợi không có 1 giá trị cứu độ nào cả !

Ai cũng “nghĩ” rằng “thần thánh rất thiêng” hằng biết rõ tâm tư của con người. -Vậy khi cầu xin…kẻ nào dám không thành tâm, hay chẳng tin tưởng ?! -Do đó, hai yếu tố “thành tâm” và “tin tưởng” (đầy vụ lợi) không phải là “yếu tố” để kết luận “tâm thành” ấy “quyết định” sự hộ trì, hay ban phúc của thần linh ! -Người tin vào sự “may mắn tuyệt đối đến từ tha lực” (=ngoại năng), thì không bao giờ có hạnh phúc nội tại. -Vì tính tương tác mà trong khoa học, người ta xác nhận rằng “không có tự lực thì chẳng có tha lực”!

*Hơn nữa, tinh thần và thể xác luôn luôn liên quan chặt chẽ với nhau. Trên thực tế, thể xác ảnh hưởng đến tinh thần rất dễ dàng, bất cứ lúc nào và điều kiện. Hễ thể xác bệnh hoạn thì tinh thần lập tức trở thành bạc nhược. -Ngược lại, khi tinh thần hướng thiện, muốn “khinh an” thể xác, thì nó tuyệt đối đòi hỏi một điều kiện. Đó là điều kiện tinh thần phải an trú, chánh niệm, và thuần thục trong ĐỊNH TÂM ! An trú, chánh niệm, thuần thục trong định tâm, tuy là một kết quả không phải bất khả đạt, nhưng NÓ vốn là một kết quả không dễ đạt. -Nhất là không thể đạt do lý thuyết suông và chỉ tin tưởng tha lực, hay tư duy cao siêu thoát tục !

<>Chưa kể khi sự cầu xin không kết quả, thì đương sự sẽ giận hờn thần thánh, hay khi “lý tưởng trong đầu” không được chứng minh. -Ví như trường hợp đương sự nhớ mãi các “tư duy thoát tục”, và “quán chiếu” một cách tôn vinh, mà phiền não vẫn “không vơi”, thì đương sự dễ quay sang nghi ngờ “tính cao siêu” ấy, rồi tuyệt vọng, chối bỏ giá trị giáo lý, nhiều khi còn hằng học phỉ báng là đằng khác !

*Xin quí vị đừng hiểu lầm chúng tôi cố ý phủ nhận “SỰ KỲ DIỆU” của tôn giáo, hay “niềm tin”. Vì ngay cả trong lãnh vực vật lý (đầy tính cụ thể) lẫn khoa học tâm linh (đầy tính tương tác), chúng ta cũng từng trải nghiệm rằng “có cái nầy thì mới có cái kia”. Sức mạnh tương tác trong thiện đạo chỉ tạo nên “phép lạ”, khi bắt nguồn từ công phu “nội thiện”(=thân xác lành mạnh phối hợp với tinh thần thanh tịnh), vẫn luôn luôn phát khởi từ trong ra ngoài.

-Ngoài ra, Với ý nghĩa TỰ LỰC, chúng ta hãy tự hỏi, chúng ta đã thực sự “tự mình đi tìm hạnh phúc”qua phẩm cách tương tác chưa (?), hay chúng ta chỉ thường xuyên hướng về tha lực (hoang đường !), ỷ lại vào “đức tin vụ lợi” (=một dạng lòng tham) trong tâm ? 

-Chúng tôi đã từng nói trong một buổi pháp thoại trước đây rằng, giả sử SỰ KỲ DIỆU của tôn giáo (không phân biệt đạo nào) được cụ thể hóa, và tượng trưng bằng hiệu lực của tiếng chuông, thì cái chuông đơn phương không thể “ban cho” chúng ta những âm thanh đầy linh cảm, siêu thoát được, mà chính do con người thanh tịnh đã cầm dùi khoan thai gõ vào cái chuông ấy (không quá mạnh, không quá nhẹ, trung đạo). -Tất nhiên, nếu không có cái chuông thì chẳng bao giờ có tiếng ngân vang, có khả năng cảnh tỉnh lòng người trên cõi đời lắm xung đột nầy. -Nhưng cả 3 yếu tố là người đánh chuông, cái chuông, và người nghe chuông…đều phải phải có nội lực an tĩnh, dự phần vào sự TƯƠNG TÁC ấy ! -Từ đó, chúng ta mới đi đến kết luận, rằng “có tôn giáo thì có sự huyền diệu !?”.

Văn thơ nhà thiền ngày xưa đã có câu :

 “Bán dạ chung thanh đáo khách thuyền” (!)

(“Nửa đêm tiếng chuông đến thuyền khách” làm thanh thoát tâm hồn).

<>Nghĩa là, nếu nhân duyên điều kiện không đủ để làm phát ra tiếng chuông (đúng “tầng số kinh cảm” của hệ thống thần kinh thăng bằng), thì con người làm sao nghe và cảm nhận được “âm thanh siêu thoát ngân vang”, một cách làm dịu tâm hồn !? Cũng như “nếu không có đức hạnh tự lực biểu lộ, thì làm sao có tha lực đáp ứng một cách linh thiêng”, để con người tiếp cận với sự kỳ diệu ?!

*Theo Phật giáo “sức mạnh tự lực” do PHÁP HÀNH TRUNG ĐẠOkhả năng hữu hiệu nhất, trong việc vượt qua những khó khăn tinh thần lẫn thể xác, gọi là tạo vui, giải khổ, hướng đến hạnh phúc. Nghĩa là, khi một phàm nhân có chánh kiến, với lòng tin sắc đá vào đức hạnh, luôn luôn giữ đúng 5 giới trong đời sống hằng ngày. Lúc gặp trở ngại hay bệnh hoạn, người ấy “có thể” cũng tập trung tinh thần và cầu nguyện, để “bớt đi phần nào” các lo-buồn-sợ-giận (như một phản ứng tự nhiên, bình thường), và họ thật sự cảm thấy “linh ứng”. -Vì sao ? -Vì nếu bình tâm suy xét, thì sự kỳ diệu ấy không phải “hoàn toàn” do tha lực, mà là do tự lực giới hạnh. -Đúng như 2 câu “Giới năng sinh định. Định năng sinh Tuệ”. -Tự lực (định) ở đây cũng là tha lực, và ngược lại. Người ta đã chẳng nói “Thần thánh hằng hộ trì kẻ giới đức” đó sao ?! -Còn ngôn ngữ dân gian Việt nam, cũng có 2 câu “Đạo cao long hổ phục. Đức trọng quỉ thần kinh”. (Hạnh tu cao thì rồng cọp tôn kính. Ân đức lớn thì quỉ thần cũng sợ).

<>Nói cách khác, một người sống phạm hạnh, cụ thể là không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, và không dùng chất say, thì chủng tử lo buồn sơ giậntrong tâm người ấy tự nhiên  rất yếu. -Cho dù người ấy chưa hành thiền, nhưng giới hạnh đầy đủ vẫn làm cho thần lực của họ sung mãn, và vượt qua thực tại (phiền não) dễ dàng. -Đây hiển nhiên là một điều rất chính đáng. Người có giới hạnh thì hạnh phúc. -Huống chi người ấy hằng ngày còn “thanh lọc tinh thần” bằng THIỀN PHÁP (visuddhiyā bhāvanā), thì “THẦN LỰC tinh anh, cô đọng” của họ còn biểu lộ “linh diệu” như thế nào ?!

<>Hạnh phúc thế gian thật ra không gì khác hơn là những tập hợp của các CẢM GIÁC DỄ CHỊU (mānāpa vedanā), xuyên qua 5 hay 6 CĂN QUYỀN, hay hệ thống thần kinh giác quan (Iṅdriyāni). -Khi lành mạnh (không đau ốm), thì những cảm giác dễ chịu ấy rất “cần thiết” đối với phàm nhân, do khả năng “làm dịu phần nào” nỗi khổ trong đời, duy trì sự bình thường cho một con người. -Tất nhiên những cảm giác dễ chịu ấy vẫn vô thường, phù du, nhưng chúng ta chớ nên sự phù du mà “chối bỏ” cái “hạnh phúc hợp lý và tạm thời” ấy, một cách quá “thoát tục” và “duy lý tưởng”. -Nhất là chối bỏ 1 cách khổ hạnh, để “tự hào” chứng minh mình có “công phu đạo đức cao”.

Tự hào trong trường hợp nầy chính là 1 bộ mặt khác của ngã mạn, đề cao phẩm giá của cái “tôi” ! -Và cường điệu hơn nữa, là thái độ tỏ ra ghê tởm các cảm giác vui (hạnh phúc nhất thời), xem chúng như nguồn gốc của đau khổ…thì đó lại là một phản ứng tinh vi của bạo động và ngã mạn, một bộ mặt khác của tập khí si mê phẩm cách !

-Nói một cách khoa học, sự sống chính là cảm giác, còn sống tức là còn cảm giác, chối bỏ cảm giác là tự sát ! Người học Phật luôn luôn tỉnh thức để ôn hòa định hướng, và lành mạnh hóa cảm giác, để cải thiện chính mình, chứ không bạo động với cảm giác !

Đạo sĩ Cồ-Đàm (Gotama) trước khi đắc “Chánh đẳng Chánh Giác” đã lầm lạc xa lìa hẳn cảm giác dễ chịu, thực hành khổ hạnh tận cùng suốt 6 năm trường, và Ngài đã chẳng thành tựu, nếu không muốn nói là bế tắc, vô ngõ cụt, thất bại (!). Nhưng sau đó Ngài đã tỉnh ngộ, quay về TRUNG ĐẠO (=khai thông, tránh xa 2 thái cực, là lợi dưỡng (kāmesu kāmasukhallikānu yogo) và ép xác (atta-kilamathā). -Kết quả,Ngài đã thanh tịnh cải thiện tận cùng thân và tâm, “biến thành” Bậc Toàn Giác (Sammā Sambuddha), giải thoát phiền não…chấm dứt sinh tử luân hồi (saṃsāra vimutti).

*Noi gương ấy, chúng ta chẳng những không nên cực đoan, không nên chối bỏ mọi cảm giác bình thường lẫn “bất bình thường”, mà phải hướng thiện “thực tại hóamọi cảm giác dễ chịu lẫn khó chịu, để vui vẻ sống hòa bình với THỌ UẨN. -Mà muốn sống hoà bình với cảm giác, chúng ta cần phải áp dụngthiền pháp đối diện trực tiếp với cảm giác, hay “NIỆM THÂN” (Kàya anupassati paṭṭhàna), và “NIỆM THỌ” (Vedanā anupassati paṭṭhàna), dùng cảm giác trong chính ta, như phương tiện để nhận diện thân tâm mình.

-Và khả năng “hướng dẫn” được chính mình, tùy thuộc vào sự nhận diện tinh vi, thanh tịnh đó. Xem ra ngoài thân tâm nầy, không có cảm giác ở nơi khác ! -Thân tâm của chính mình là “bể khổ”. Muốn vượt qua “bể khổ ấy” chỉ có một cách duy nhất, là phải trực tiếp nhận diện “sóng gió” (tham sân si) trong “biển thân” đó !

(Sau nầy nếu đủ nhân duyên, chúng tôi và quí vị sẽ thử “thực tập pháp môn tiếp cận” (NIỆM THÂN và NIỆM THỌ) nầy với nhau).

<>Cần nhấn mạnh thêm rằng, cảm giác gọi là “vui”(sukha vedanā) ở đây, phải là cảm giác vô hại đối với kẻ khác. Vì bên trong bất cứ cảm giác vui nào nếu tổn hại đến chúng sanh khác, đều cũng tinh vi chứa đựngsự biết quả báo (do cái vui bất thiện ấy gây ra), mà mỗi người tự có trong sâu thẳm tâm thức, rất khó nhận diện. -Nên “cảm giác vui” ích kỷ không thể là cảm giác hạnh phúc được !

-Ngoài ra, về phương diện “minh triết”, sự đau khổ cũng gián tiếp “đóng góp” rất nhiều cho “hạnh phúc”. Ba tướng VÔ THƯỜNG (thay đổi liên tục),KHỔ(chịu đựng hài lòng lẫn bất mãn), và VÔ NGÃ (hợp tan, hoàn không), xưa nay vẫn bị xem là “đáng ghét”. Nhưng hiệu lực của “ba hiện tượng” ấy, vốn là ba duyên tố cần thiết, để duy trì mọi vận hành biến hóa cho TÂMvà VẬT trong mọi kiếp luân hồi.

*Nhờ định hướng đúng rồi sống, với thực tại thay đổi (vô thường), với thực tại thuận nghịch (khổ não), và với thực tại sẽ hoàn không (vô ngã), mà người theo Phật, mới có thể thăng hoa tâm linh, tiến hóa vật chất, để đạt đến chân-thiện-mỹ, hay siêu thoát, không còn đau khổ hòa lẫn trong hạnh phúc giả tạm nữa. -Khi đã tiến bước trên TỊNH ĐẠO một cách thuần thục rồi, thì luôn luôn AN VUI TỰ TẠI (santi), -thì sự đi tìm hạnh phúc sẽ không còn được đặt ra nữa !

<>Nhắc lại nhược điểm trong tâm tánh “hướng thiện phàm tình”, là tất cả thái độ đóng khung hay cực đoan đều rất tai hại. Nhưng lầm lạc nhất, là “quơ đũa cả nắm”, xem hạnh phúc tạm thời (dù hợp lý), vẫn là giả dối, là lừa gạt, là cạm bẩy, và phải tuyệt đối tránh xa. Đó là phản ứng của VÔ MINH, chắc chắn sẽ dẫn đến nhiều vòng vướng mắc.

*Trên thực tế, người ngoài miệng càng ca ngợi sự chối bỏ hạnh phúc vật chất, là người trong thâm tâm càng ham thích, vướng vào vật chất (mà vẫn chưa toại nguyện), nhất là muốn tỏ ra mình thâm hiểu “giáo lý Phật-đà”, nên mới “tích cực” phát ngôn như vậy. -Ấy là người đang mắc dính ngũ dục. -Theo MAHA NIDDESA, phần nói về “ác dục”, vào thời Đức Phật, đã có những “tu sĩ” phàm tình, thường chủ tâm từ chối lợi ích vật chất vài ba lần đầu, để về sau nhận được nhiều hơn”

-Còn người có tâm thanh tịnh, chánh niệm, thì cảnh giác trước mọi lôi kéo của cảm giác hạnh phúc (vật chất lẫn tinh thần). Họ luôn luôn sáng suốt hóa giải, để sống chung với tất cả cảm giác (dễ chịu lẫn khó chịu)do vật chất hay tinh thần gây ra, nhưng họ không nói gì hết. Họ lặng lẽ giữ giới cùng hành thiền, để thanh lọc tự tâm, một cách thực thà, vui vẻ. Vì đó cũng là một áp dụng của Trung Đạo. Vấn đề còn lại là làm sao không bị lạc khỏi Trung Đạo, duy trì được chánh niệm, và chuyên cần tu tập, làm cho tinh thần tiến hóa đều đặn, mà tránh được tinh tấncực đoan!

*Xin nhắc lại một lần nữa, là chớ tin một cách tuyệt đối rằng, “Ta có nhiều tư tưởng cao siêu, thoát tục trong đầu. Khi gặp nghịch cảnh (như thất bại giữa trường đời, hay đau ốm trầm trọng chẳng hạng), thì ta cứ nhớ lại và “quán chiếu” những “câu nói chỉ nam” (cao thượng) ấy, để ta được “giải thoát phiền não”, là một tư duy “lừa gạt”! -Nghĩa là “văn chương diễn tả đức hạnh của Thánh Nhân”, người phàm dù thuộc nằm lòng mà chưa bao giờ hành động noi gương (thần thục), thì cũng chẳng linh ứng hay có “giá trị” gì cả ! -Vì khả năng “tư duy hướng thiện, rồi được an ủi” (do tự kỷ ám chị), nếu có trong muôn một, vẫn không phải là giải pháp đích thật của PHẨM GIÁC NGỘ ! -Trong giây phút chết, tâm thức sẽ không còn đủ “sáng suốt”, để “quán chiếu” như thế !

<>Hiện tượng “nhập tâm tư tưởng cao thượng” biến thành tự kỷ ám thị” rất hiếm khi nghiệm đúng, đối với một người ôm ấp nó, để thõa mãn “tư duy bản ngã”. Nó không có “hiệu lực tương đương” với những lời “khuyến thiện soi sáng đúng lúc cho một tâm hồn bế tắc, trong việc tìm kiếm lối thoát”, và hiện tượng “tốt ấy” nếu có, cũng vốn rất tạm thời. -Coi chừng, nó hằng “lừa gạt” một cách tinh vi, những ai “ngây thơ” tình nguyện làm nạn nhân (mọt sách) cho nó ! -Ví như một diễn viên rành nghề trên sân khấu, có thể đóng vai một tổng thống rất giống, nhiều khi còn “phong độ” hơn một tổng thống thật, nhưng thực tế anh vẫn là diễn viên, chứ không phải vị nguyên thủ quốc gia !

<>Đức Phật và Chư Thánh, trong giờ phút lâm chung, các Ngài vượt qua được đau đớn thân tâm dễ dàng, nhờ các Ngài đã viên tròn ba-la-mật chánh niệmchánh định (sammāsati ca sammāsamādhi ca paramattha pāramī). (-Tạm dịch là “vô thượng công phu chánh niệmchánh định). -Chưa kể các Ngài còn có “thiền pháp siêu việt” tên là “diệt thọ tưởng định” (vedanā-saññā-nirodha samāpatti).

-“Tâm Thức” các Ngài lúc ấy nằm hẳn trong Phẩm Cách Toàn Tịnh (sammā visuddhiyā), chứ Các Ngài không phải đang bị đau khổ dày vò, rồi cầu cứu “pháp quán chiếu” với những “tư tưởng thoát tục”, mà phàm phu cho là “bùa phép cứu độ” !

-Vả lại, trong ngôn ngữ nhà Phật, nếu có nhóm từ “phát triển tuệ giác”, thì cực đoan (cố chấp) và “tự kỷ ám thị” do “lòng tham” và “tin tưởng vào tha lực của tư duy thoát tục”, là 2 trở ngại lớn nhất cho sự phát triển tuệ giác ! -Xin nhấn mạnh lại một lần nữa, rằng “tuệ giác không thể phát sinh ở một tinh thần cực đoan, căng thẳng cố chấp, -nhất là cực đoan tin vào tha lực, hay cực đoan tin vào lý thuyết của tư duy siêu thoát, mà thiếu hẳn pháp hành để chẳng hiểu biết đúng về mình, cũng như về con người thực tại.

<>Và muốn hiểu biết rõ về mình, thì phải làm đúng Phật ngôn, ít lý thuyết nhiều thực hành, áp dụng đầy đủ những gì đã biết từ giáo lý, cũng như từ khoa học, bao gồm các kinh nghiệm sống lành mạnh (như tứ niệm xứ, dưỡng sinh, yoga, thể dục) !

*Khi đã hiểu biết sâu sắc về mình, thì một người mới có thể đi tìm hạnh phúc cho mình hữu hiệu được ! -Nghĩa là hạnh phúc ấy phải là pháp giải thoát đưa mình thoát khỏi mọi thứ đau khổ. -Vì rằng “nếu mặt trái của hạnh phúc” mà còn chứa “nghịch cảm” thì đó không phải là “chân hạnh phúc”, -nói theo Phật học !

*Sau cùng, xin cống hiến đến quí vị 1 câu văn vần hướng thiện gián tiếp nói về tinh thần tự lực tìm kiếm hạnh phúc :

Hạnh phúc -ai bán mà mua, -ai cho mà lấy, -ai thừa mà xin !

———–

Laisser un commentaire