Soạn phẩm liên đề : «Đạo Phật, Khoa học, Thiền Pháp, Sức khỏe» Bài 14

Bài XIV

THIỀN PHÁP trước NGHỊCH CẢNH nội và ngoại.

<>Đời sống “tân tiến” ngày nay đang bị kích động nhiều mặt, và trở thành sóng dữ, quay cuồng từ thấp đến cao, xung đột, săn đuổi quyền lợi, cạnh tranh thương mai, chụp giật tài nguyên, lôi kéo «đồng minh», xâm chiếm lãnh thổ…một cách vô độ, -đặc biệt là làm cho đa số nhân loại hoang mang, “phản ứng ngơ ngác” giữa cuộc đời…-nhất là trước sự TẤN CÔNG của một số bệnh lạ nguy hiểm,xảy ra đột ngột”…và được ác nhân ngấm ngầm «nuôi dưỡng» như một «võ khí» mặc cả với đối thủ…đe dọa địa cầu !

-Chẳng hạn như “Vi-khuẩn Covid biến thể” (một cách đáng nghi ngờ là do bàn tay «bí mật» tung ra, có thể tố cáo mà lại «bỏ qua»), đã giết chết khá nhiều người trên thế giới. -Chưa kể chiến tranh (giành giật thế lực), lăm le dùng võ khí nguyên tử, hăm dọa «tao chết mầy cũng chết, chẳng bên nào an toàn», kéo theo cả muôn loài vào cuộc…như một tình trạng phiêu lưu bấp bênh, tận thế ! -Rồi tư tưởng phản đạo đức «ÁC để sống sót hơn là THIỆN mà phải chết», được dịp thịnh hành, càng làm cho xã hội loài người vừa lo âu sợ sệt, vừa gia tăng bất an, nghi kỵ…đui mù cấu xé lẫn nhau !

<>Trước một tình trạng vô cùng đen tối (vốn phát nguồn từ tham sân si) như thế…VĂN MINH LÝ HÓA và TRIẾT HỌC NHÂN SINH có thể giải quyết được gì ?! -Hay hầu hết những «nhà thông thái» với nhiều «tư tưởng vĩ đại», lẫn «giáo hội» của các «tôn giáo lớn», lãnh đạo tinh thần trên thế giới…đã chỉ nêu ra một số «lý thuyết chủ nghĩa» hay «pháp thuật thần học», nằm hẳn trong câu «quên đi hiện tại, để xây dựng tương lai»hay «chịu đựng đau khổ, để hướng về thiên đàng, cực lạc» (-nói chung là bánh vẽ !), thuộc về đầu hàng quyền lực vật chất (hưởng thụ) hoặcoai linh tinh thần (thiêng liêng, ảo mộng), nhằm duy trì sự độc tài của những thế lực toàn trị !  

*Riêng Đạo Phật thì GIẢI PHÁP đã được cống hiến từ thời Đức Như-Lai còn tại thế, cách nay hơn 25 thế kỷ. -Hãy nhắc lại Phật ngôn vừa giản dị, vừa soi sáng, làm phương châm cải thiện đời sống, dành cho những người tin kính, thực hành theo Bậc Giác Ngộ. -Đó là “di huấn” số 25, trong Phẩm Trí Tuệ (pañña-vagga), gọi là Pháp Cú (dhammapada), thuộc Tiểu Bộ Tạng Kinh (khuddaka-nikāya, sutta-pitaka), xin được thoát dịch như sau :

“Chuyên cần thanh tịnh, không chểnh mng,

Thận trọng giải quyết hoàn cảnh, trong sáng suốt,

Đó là cách người trí xây dựng hòn đảo vững chắc, để nương nhờ,

Sóng nước đại dương dẫu cao mấy, cũng không là nguy hiểm !”.

-Cả 4 câu di huấn trên đây, tuy không có gì khó hiểu, nhưng câu thứ nhất vẫn là ĐIỀU THEN CHỐT, để nhấn mạnh rằngChuyên cần không chểnh mng”, quyết chí thanh tịnh thân tâm đến cùng, không lơ là bỏ cuộc, -đặc biệt là thực hiện PHẠM HẠNH chứ không phải lý thuyết, để đối phó với “3 độc tố” tham sân si thúc đẩy tạo nghip ác. -Và nội dung quan trọng câu thứ hai là phải “thanh tịnh, sáng suốt hành động”. -Vì THIỀN PHÁP trong đạo Phật (nguồn gốc của TRÍ TUỆ) luôn luôn cần 2 phẩm cách nầy, để khử trừ tam độc !

<>Liên quan đến “trí tuệ” (ñāna), chúng tôi muốn nhắc đến một đặc sắc của Thiền Minh Sát (vipassanā), -đó là SỰ TỈNH THỨC (mindfulness), -Nhiều người thực hành thiền pháp nầy, đã xác nhận rằng, HIỆU LỰC của TỈNH THỨC (sati-sampajañña) có thể –nâng cao trí nhớ trong mỗi công việc, –nâng cao khả năng tập trung tinh thần,phổ biến thành quả do trí nhớ, -và làm cho tâm tánh dễ dàng thích ứng. -Vì sao ?! -Vì SỰ TỈNH THỨC giảm thiểu tật nuông chiều những cảm giác bất mãn, cho phép chúng ta trực diện giải quyết nhiều thách đố, bằng phong thái ung dung, xứng đáng, tỉnh táo.

-Theo khoa học gia Jon Kabat-Zinn, SỰ TỈNH THỨC (saṭi-sampajañña hay appanāda), vốn đã là phẩm cách thanh tịnh của THIỀN TU VIỆN, kể từ thời Phật Thích-ca Mâu-ni (Sakya Muni Buddha) tại tiền, hơn 2500 năm trước. Nhưng trong nhiều thập niên gần đây, “thiền tỉnh thức” bỗng trở thành giải pháp bình an thân tâm cho “XÃ HỘI THẾ TỤC”, không nhất thiết là chỉ trong giới tăng sĩ (pabbajita). -Nó đã đi sâu vào nền văn hóa Tây Phương, nhất là Hiệp Chủng Quốc Mỹ (USA), kể từ khi ông Jon Kabat-Zinn thành lập “Mindfulness-Based Stress Reduction” (MBSR), tạm dịch là “Trung Tâm Tỉnh Thức Giảm Căng Thẳng Cân não”, tại trường Y khoa, viện Đại Học Massachusetts, Hoa Kỳ, năm 1979.

*Từ đó “Thiền Tỉnh Thức” (saṭi-sampajañña bhāvanā) đã phổ biến rộng rãi trên thế giới, đặc biệt là tại các «địa phương» Âu-Mỹ-Úc-Nhật. Và kết quả của nó là một món quà lớn cho nhân loại. Điều nầy chứng tỏ rằng “Thiền Tỉnh Thức” (mindfulness) đi đến đâu là giúp cho con người ít phiền não, nhiều sức khỏe, bình an, và hạnh phúc, dù cho với tình trạng CHƯA dồi dào vật chất, tại các nước dân chủ còn nghèo, nhưng không độc tài…chủ trương khai trí…vừa phát triển !

-Hơn nữa trong những năm gần đây, khoa học đã có những bước tiến nhảy vọt, làm cho Thiền Tỉnh Thức(Mindfulness meditation = Saṭi-sampajañña bhāvanā) càng được phổ biến rộng rãi, tại các nước tân tiến Âu-Mỹ-Úc-Nhật. -Đó là một sự “tương tác” kỳ diệu, giữa KHOA HỌC và PHẬT GIÁO. Nhờ vậy, nhiều người đã có dịp thực hiện “Thiền Tỉnh Thức”, để quan sát thấy rõ bản chất chính mình, và hiểu thấu chiều sâu cải thiện thân tâm của giáo lý Đức Phật, nhất là liên quan đến các đóng góp thiết thực cho sức khỏe, bình an hiện tại, -nói chung là hạnh phúc, mà nhân loại hằng tìm kiếm.

Đại cương THIỀN TỈNH THỨC (satipaṭṭhāna jhāna senānī)

Xin phân tích ra 2 phần :

I-“THIỀN” (jhāna-bhāvanā) là phẩm cách “VÔ TƯ ” (=như nhiên) hay “XẢ” (Upekkkā) củaCHÂN TÂM ”, (yathābhūta citta). -Và phẩm cách VÔ TƯ (hay XẢ) ấy, cũng là hiện thân của “chân tâm”, gọi là “ĐỨC VÔ LƯỢNG” (mahāvihāra). Phẩm của “ĐỨC VÔ LƯỢNG” là có thể vượt qua mọi khung cố chấp, phê phán chủ quan.

II-“TỈNH THỨC(Saṭi-sampajañña) một tâm sở thiện (kusala cetasika) có khả năng “giữ vững cái biết vô tư ấy, trước tất cả cảm dỗ thực tại, không cho bi lôi kéo, rồi tự giảm dần.

*Khi phối hợp “2 ĐỨC TÍNH” trên, chúng ta có : “THIỀN TỈNH THỨCtâm an trú một cách thuần thục,vượt thắng các phản ứng phê phán thiên lệch chủ quan của chính nó”, để “giữ vững cái BIẾT THANH TỊNH, VÔ TƯ, về cảm xúc trong giây phút hiện tại”.

-Sự “TỈNH THỨC” (mindfulness) ở đây, là một “đặc sắc” (ariya visiṭṭhatta)) của MINH SÁT (Vipassanā), nên tính sáng suốt chiếm ưu thế, trong giây phút “tâm nhận cảm giác”, mà không bị tật hài lòng  (mānāpa) hay bất mãn (amānāpa), do tham sân si chi phối.

-Trường hợp “thiền nhân” chưa đắc Thánh Quả (Ariya Puggala Vipāka ahoti), thì sự TỈNH THỨC (Saṭi-sampajañña) có nghĩa là TÍNH CẢNH GIÁC (jānanta = being aware of) để “ngăn chận” (nivāreti) tật ngã mạn, chủ quan (manṇasikatta khandha), và KHÔNG “lập tức đầu hàng tham sân si”, -do đó tâm biểu lộ DỮNG DƯNG (một dạng của XẢ) với sự dễ chịu (mānāpa), và cũng CHẲNG bức xúc trước sự khó chịu (amānāpa), vì cả 2 trạng thái nầy đều làm cho nó chật hẹp, vướng mắc, bạc nhược.  

*Đó chính là sự vận hành của “TÂM THỨC TRUNG LẬP” (apkkhagāhī, majjhihaṭṭha-cittaviññāna) vô cùng lành mạnh, một pháp môn rất tích cực, “bổ ích” cho hệ thống cân não !

-Ngoài ra, thiền TỈNH THỨC (Saṭi-sampajañña bhāvanā) cũng là phương pháp tuyệt diệu, giúp TÂM rất “linh động”, thích ứng (citta kammaññatā), nhưng không vọng tưởng, không phóng túng, không lang thang, không phung phí năng lượng cho ngoại (hay nội) cảnh một cách vô ích. -Nói cách khác, thiền TỈNH THỨC đóng vai trung hòa, làm cho “DƯ VỊ” (tốt hay xấu) của cảm giác trở nên vô hiệu,khi TÂM tiếp xúc với CẢNH (bên ngoài hoặc bên trong), xuyên qua 6 giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý) -và trong mục đích không để cho TÂM bị kích thích (anuttejita), bởi hài lòng (mānāpa) hay bất mãn (amānāpa).  

-“TÂM THỨC” (citta-viññāna) hay tinh thần (maṇa) trong trường hợp nầy, ví như « người điều khiển» con tàu giữa bão tố, bị sóng to gió lớn đẩy lên cao chót vót, rồi kéo xuống cực thấp tận vực sâu. –Cảm giác kinh hoàng trong «viên thuyền trưởng» (=TÂM), nếu không được kinh nghiệm nghề nghiệp (=TỈNH THỨC), “trung hòa hóa” hay “trấn áp”, thì “vai trò” ấy của ông có thể làm được gì, để đưa con tàu ra khỏi nguy hiểm (?). -Nghĩa là, nếu không có phẩm cách “kinh nghiệm và bình tĩnh” (=tỉnh thức quí báu) ấy, chắc chắn chẳng bao lâu con thuyền sẽ bị lật nhào, chìm sâu vào lòng đại dương !  

-Chúng tôi thiết nghĩ, -so sánh chuyện “CON THUYỀN” (yana) giữa biển cả sóng gió cao ngất của bão tố tàn khốc (samudda saṃsāra), với “CON TÂM” (citta) trong hoàn cảnh vùi dập ma mỵ (māra) của THAM SÂN SI, (lobha, dosa, moha)…quả thật không phải phóng đại, mà có thể xem “chưa tương xứng” là đàng khác ! -Nhưng nhân sinh (vốn dễ ngươi) nên ngu muội, luôn luôn có cảm nghĩ “tham sân si không nguy hiểm đến nỗi dễ sợ như thế”. -Quan điểm coi thường nầy, nên được bình tâm xét lại thật kỹ !

<>Thực ra, SỐNG mà THIẾU TỈNH THỨC thì năng lượng của thân tâm chắc chắn sẽ bị thường xuyên phân tán, TRI KIẾN không nhận ra THỰC TẠI xung quanh đang thay đổi liên tục, và tình trạng ấy dần dần củng cố tư tưởng khinh thường, tạo điều kiện cho lậu cột trói (cố chấp) siết chặt sợi dây phiền não phiêu lưu, giữa con người và “hình ảnh đã qua” (hay quá khứ) của vạn vật.

-Nhưng xin nhắc lại, “NIẾT BÀN” (nibbana), thì không hạn chế bởi “THỰC TẠI” (vô thường biến đổi) đó, -nên Phật học mới xác nhận “NIẾT BÀN nằm ngoài tam giới (tiloka) chúng sanh”. Vì ẤY là “nơi vô động cơ mắc dính”, không có nguồn gốc phát sinh nhị biên khổ đế (dukkha ariya sacca)!

-Nhờ TỈNH THỨC, và “chăm chú quan sát chính mình”, mà “người tu thiền” mới có thể khám phá ra rằng “tư tưởng phàm tục không ngừng lăn trôi trộn lẫn (hay đồng hóa) với tiếp xúc, với cảm giác, với đối tượng, với phản ứng, và với ý muốn…mờ ảo, lung linh…của một thứ hiện tại (đang diễn ra và thay đổi), thuộc quá khứ (không còn nữa)…rồi cũng tương tự thuộc tương lai (chưa đến)…một cách tham lam si mê, vọng tưởng…-mà nó hoàn toàn tách rời thực tại !”.  

*Đáng mừng là Tiến sĩ Jon Kabat-Zinn và các cộng sự viên của ông, đã tổ chức khá nhiều những khóa thiền TỈNH THỨC (mindfulness), và chứng minh hiệu quả tích cực của THIỀN trong sự ổn định thân tâm của một số người bị hỗn loạn thần kinh. -Đặc biệt là hiệp hội MBSR cũng phổ biến được “mẫu thực hành TỈNH THỨC” trong các trường học, nhà tù, bệnh viện, và những cơ cấu sinh hoạt khác.  

-Sau đây là mộtsố ĐÓNG GÓP thực tiễn :

a/Liên quan đến cá nhân và cộng đồng. Sự TỈNH THỨC hằng gia tăng khả năng hoạt động của bộ óc. Nó có thể kích thích và phát triển tính rộng lượng, để dễ dàng thông cảm nỗi đau khổ của những người xung quanh. -Còn về phương diện trị liệu, –CỤ THỂ là sự GIẢM CÂN, vì người tỉnh thức thì không ăn uống quá độ, nhất là họ chọn những bữa ăn nhẹ, dễ tiêu, rất thanh bạch cho sức khỏe.

b/Liên quan đến tình cảm gia đình. Sự TỈNH THỨC (mindfulness) cũng làm cho thái độ của cả vợ lẫn chồng trở nên “hiểu biết” và “mềm dẻo” hơn, rồi người nầy sẽ dễ dàng chấp nhận sự “gắt gỏng bất thường” của người kia, xảy ra do “một số chuyện bế tắc”, -nhất là khi một trong 2 người gặp trở ngại nghề nghiệp, sức khỏe, hay hoàn cảnh nhạy cảm..! -Nghĩa là họ có thể tránh cho con cái bị ảnh hưởng, bởi các “xung đột bất ngờ” giữa vợ chồng trong gia đình.

c/Liên quan đến học đường. Sự TỈNH THỨC (mindfulness) là một “đức tính” giúp học sinh cải thiện hạnh kiểm, biết tôn trọng kỷ luậtsinh hoạt hòa thuận với thầy cô, cũng như bạn bè, -nhất là giảm thiểu tật xấu ganh tỵ, chia rẽ, chủ quan.

d/Liên quan đến khung cảnh trị liệu. Thiền TỈNH THỨC giúp cho bệnh nhân trong bệnh viện hay “dưỡng-xá”, hợp tác tốt với các điều dưỡng viên, y-tá hoặc bác sĩ, trong công tác thường nhật của họ. Nghĩa là, sự “TỈNH THỨC trước thực tại” làm giảm cảm giác hoang mang, tiêu cực, gia tăng tinh thần ái hữu.

e/Liên quan đến nhà tù. Thiền TỈNH THỨC (mindfulness = saṭi-sampajañña) giúp cho tù nhân bình tĩnh…«tự xét lại», rồi nhận ra lỗi lầm của mìnhan tâm chịu kỷ luật trừng phạt (như một cách hướng thiện, chuộc tội), không bạo động hay hận đời, đồng thời cũng sẵn sàng hội nhập vào xã hội trong tương lai, khi mãn án.

f/Liên quan đến đời sống quân kỷ. Thiền TỈNH THỨC (mindfulness) giúp cho quân nhân tại ngũ luôn luôn tuân thủ kỷ luật, làm tròn bổn phận đối với cấp trên và đồng đội. -Nhất là «người chỉ huy» biết tìm hiểu, và cảm thông với cấp dưới. Còn những binh sĩ đã giải ngũ, thì giảm thiểu những tổn thương tâm lý, do ấn tượng «quân luật» nghiêm khắc, thường gây ra nhiều sỉ nhục, thiệt thòi, hay «vết hằn» chiến tranh lưu lại, đã gánh chịu trong thời gian còn cầm súng.

PHẨM CÁCH THÔNG THOÁNG.

<>Khác với các «pháp thiền khác», thiền TỈNH THỨC không bắt buộc phải theo đúng một tư thế nhất định ! -Chẳng hạn như  «4 oai nghi» là ngồi, đứng, đi, và nằm, thiền sinh được tự do chọn lựa (một cách quân bình, để đa dạng điều hòa), -miễn sao nó thoải mái, giải tỏa gò bó, không cực đoan ! -Thử nêu các tư thế xen kẽ, như thay đổi oai nghi, phối hợp AN TỌA và DI ĐỘNG. -Nhưng nói đến «ngồi thiền», thì người ta nghĩ ngay 2 kiểu ngồi thường thấy, là «bán già» (=hoa sen «bán cách»), hay «kiết già» (hoa sen «trọn đủ»).

-Nhưng thiền TỈNH THỨC không ràng buộc như vậy, -nghĩa là ngoài 2 cách vừa nêu, người hành thiền có thể ngồi trên tọa cụ, trên giường, hay ngay cả trên ghế, được thòng chân xuống đất, với xương sống thẳng một cách thuận tiện, và lưng bàn tay nầy thoải mái đặt lên lòng bàn tay kia, mắt mở bình thường…!

*Rồi ba «oai nghi» (aṅgavinyāsa) còn lại, là ĐỨNG (tiṭṭhati), ĐI (gacchati), và NẰM (upavisati) (trong thiền TỈNH THỨC) cũng không có tư thế nhất định. -Nghĩa là người thực hành THIỀN TỈNH THỨC (sati-sàmpajañña) = mindfulness) tự do chọn tư thế nào THOẢI MÁI nhất, để tránh thân thể bị gò bó, hay trở ngại…là được !

*Tuy không hạn chế «tư thế», nhưng Thiền TỈNH THỨC đặc biệt chú ý đến cái BIẾT (viññāna) do tiếp xúc với 5 ngoại cảnh (sắc, thinh, hương, vị, xúc) ở 5 giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân), và «phản ứng» (của tâm) qua «cảm thọ» như thế nào, ở Ý THỨC (maṇo-viññāna) hay giác quan tứ sáu. -Nếu đó là cảm giác dễ chịu (mānāpa) hay khó chịu (amānāpa) thì «thiền sinh» (yogi) hãy bình tĩnh DỮNG DƯNG (indifferent), tỉnh thức an trú trên đề mục, đừng để vướng mắc vào 1 trong 2 trạng thái THUẬN lẫn NGHỊCH, -tức là thoải mái  «đi» song hành với PHÁP XẢ (upekkhā dhammā) !

<>Mục đích chính của Thiền TỈNH THỨC(sati-sampajañña) là chỉ biết ấy là đối tượng gì, đồng thời giữ thái độ TRUNG TÍNH vững vàng trong giây phút hiện tại, -không thương, -không ghét, –không phê phán ! -Vì một trong hai «biên kiến» THƯƠNG/GHÉT ấy, «sẽ lôi kéo tinh thần vào dòng tư duy», làm cho tâm thức hoặc là VƯỚNG MẮC do THƯƠNG, hoặc là BỨC XÚC do GHÉTrồi bắt quàng qua nhiều chuyện khác, lang thang, rắc rối, lạc đường, tiêu hao năng lượng quí báu…một cách phóng tâm vô ích !

*Lại nữa, năm giác quan (pañca dvārāni) của con người, không phải chỉ có một đối tượng (ekālambana), mà có vô số đối tượng(asaṅkhyālambanāni) bên ngoài, -Phật học gọi là «ngoại trần cảnh» (bahiddha-kāma-ālambana) chen nhau liên tục ĐẬP VÀO năm cửa ấy, khiến cho TÂM THỨC (citta-viññāna), như tấm gương hứng bụi trần không ngừng. -Kết quả là «sức sáng ban đầu» của TẤM GƯƠNG (tâm thức) phải bị lu mờ, không còn phản chiếu chính xácnhư trước !-THIỀN ĐỊNH không để phóng tâm «lộng hành», tức là ngăn chận bụi ô nhiễm, giúp cho sức sáng «vốn có» của tấm gương được duy trì, và để cho THIỀN MINH SÁT (vipassanā) «lau chùi», tẩy sạch nếu có bụi…làm cho nó trong suốt trở lại.

Xin HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH.

<>Thiền TỈNH THỨC (Saṭi-sampajañña=mindfulness) nên áp dụng mỗi ngày, không nên hăng say vội vàng trong thời gian đầu, cũng không nên xem thường, dễ ngươi…làm lấy lệ, -mà hãy thoải mái…thực hành đều đặn (=TRUNG ĐẠO) ! -Tổng quát như sau :  

1-Hằng ngày, buổi sáng sau khi thức dậy, và buổi tối trước khi nằm ngủ, dành tối thiểu 10 phút (hay nhiều hơn tùy ý), để tập trung tư tưởng vào HƠI THỞ, –cần cảm giác «hơi thở như thế nào», hít vô hay thở ra, và những «giao động» thô kệch đến tinh vi của nó trong thân, như «phồng xẹp ở bụng», «nhô lên hạ xuống ở vai», hay «gió mát từ chót mũi»…một cách thoải mái…vô cầu lợi…im lặng.

2-Khi đã thuần thục với thói quen chú ý hơi thở, thì xử dụng «thói quen ấy», hội nhập vào bất cứ hành vi nào MÌNHĐANG LÀM, chẳng hạn đi, đứng, nằm, ngồi, ăn, uống, nghỉ ngơi…v…v…-mỗi động tác tất nhiên cho ta một CẢM GIÁC dễ chịu hay khó chịu, có khi thô kệch (dễ trực thấy), có khi vi tế (khó nhận biết), -và hãy vô tư xem «đó chỉ ĐƠN GIẢN là cảm giác tự nhiên nơi thân mà thôi». 

Coi chừng TRIỀN CÁI (Nivārana)tạo dịp cho phóng tâm !

<>Trở ngại lớn nhất…trong suốt thời gian HÀNH THIỀN, là 2 thọ cảm nêu trên (=khó chịuhay dễ chịu)diễn ra… rồi tự biến thành «đồng minh» của những ngoại cảnh ngẫu nhiên xung quanh hay nội cảnh trong tiềm thức, có dịp «hợp tác», lôi kéo, và nhiễu loạn…chẳng để yên cho tâm thức được yên. -Chúng dồn dập «đập vào» 6 giác quan, nhằm tạo ra một thứ cảm giác lạ, vừa mạnh vừa âm-u…và dây chuyềnChúngkhuấy động sự an ổn tâm thức, đồng thời lôi kéo tinh thần người hành thiền xa lìa thực tại, dễ dàng chạy theo những «ấn tượng bất định», có ác tính lấn lướt khả năng dè dặt, vốn cũng do THAM SÂN SI «chế biến» dựa theo lòng tham trần cảnh. -Thiền học gọi chung «ấy là triền cái» (nivārana).

Trở ngại» nầy rất «ma quái», nó «tập hợp» tất cả hình ảnh (thương ghét hay cả hai) từ 3 thời (quá khứ, hiện tại, vị lai) một cách huyền ảo, rồi làm cho thân tâm người hành thiềntrở thành nặng nề buồn ngủ (=hôn trầm thụy miên), đồng thời lôi kéo tâm thức con người lang thang trong sương mù…-không màn chú ý đến một giá trị nào hết. (*Đây là 3 trong 5 triền cái, hay trở ngại nhà thiền, kê khai là 3/hôn thụy, 4/phóng tâm, 5/ hoài nghi). -Riêng 2 triền còn lại là 1/KHAO KHÁT, chờ đợi kết quả (=mà mình thích = tham = rāga), và 2/NÓNG NẢY, nãn chí vì chưa đạt kết quả (=không thõa mãn  = sân hận = byāpāda). -Do đó, «thiền sinh» phải thường xuyên «cảnh giác», để tâm thức…không xa lìa đề mục quá lâu !

3-Quay lại khả năng TỈNH GIÁC, vượt qua được cả «5 triền cái», rằng…trong khi chúng ta đang đi, đang đứng, đang nằm, hay đang ngồi, chúng ta cũng phải «quan sát» đầy đủ cái CẢM THỌ ở giây phút hiện tại. -Tức là thiền sinh phải NHẬN DIỆN tất cả mọi hành vi, để biết rằng «toàn thân đang đi», «toàn thân đang đứng», «toàn thân đang nằm», hay toàn thân đang ngồi» ngay cả «biết luôn» «nếu có làn gió lướt nhẹ…chỗ nào đó trên làn da trên toàn thân» ! -Từ ngữ «TOÀN THÂN» ở đây…chính là «chìa khóa» để mở cửa thiền pháp TỨ NIỆM XỨ (catu satipaṭṭhāna bhāvanā), qua 2 công phu nền tảng niệm thân (kāya-anupassanā) và niệm thọ (vadanā-anupassanā) !

<>Người ta lầm cho rằng «HIỆN TẠI chỉ là khái niệm thời gian (=danh pháp, trừu tượng) trong TINH THẦN của chúng sinh có thân mạng (ponobbhavikā sattā). -Và nói chung, theo Phật giáo (buddhasāsana)thì «hiện tại» thuộc về tưởng uẩn», 1 trong 5 tập khí (khandhā) tạo ra thân tâm con người (manussa kāya-citta). -Nhưng nói riêng, theo Vi Diệu Pháp (abhidhamma), thì «HIỆN TẠI» không phải là «khái niệm thời gian», mà là nền tảng của pháp hành (hay hữu phần=bhavaṅga). Nó là «chiều dài duy nhất, hằng hữu» của cảm giácduyên theo từng sát-na (khaṇa),…trong tương tác của sắc uẩn (rūpa-khandha) và thọ uẩn (vedanā-khandha). Cảm giác chính là hiện tại

*Thiền học gọi ấy là niệm thân (kāya anupassanā) và niệm thọ (vedanā anupassanā) trong TỨ NIỆM XỨ (catu-anupassanā). -Nhờ hành uẩn (saṅkhārā khandha) phối hợp một cách tự nhiên với sắc uẩn (rūpa-khandha) và thọ uẩn (vedanā-khandha), không có ảnh hưởng cố chấp của tưởng uẩn, mà THỨC UẨN (viññāna khandha) mới biết được «chân hiện tại». Còn «khái niệm hiện tại» của tưởng uẩn, vốn là «kiến thủ quá khứ» (đã qua, không còn nữa), do dục vọng chế biến, nên luôn luôn KHÔNG THẬT (anatthasañhito) !

4-Thiền pháp TỈNH THỨC do đó…không đòi hỏi chúng ta phải suy xét cuộc đời dài hay ngắn, thế sự thăng hay trầm…cốt để cho «cái THẤY» của chúng ta chẳng bị «đóng khung» bởi «vô thường hình thức» (lý thuyết) -Vì cái thấy vô thường loại ấy, hạng phàm phu nào cũng «khám phá» được, -nghĩa là người không tu giới định tuệ cũng có thể đạt được !

<>Nới cách khác, «kiến thức chân hiện tại» giúp chúng ta «trực diện» với cái gì «đang diễn ra» trong THÂNTÂM của chúng ta, ngay trong dòng hộ kiếp (hữu phần=bhavaṅga). Đó phải là «trạng thái thật» (yathā bhūta) của 1 trong 2 CẢM GIÁC (vedanā) hài lòng (mānāpa) và không hài lòng (amānāpa), liên quan đến lão-bệnh-tử (jarā-byādhi-maraṇā) của từng tế bào (sukhumagoḷapuṇṇa) ! Và chúng ta chỉ cần dững dưng XẢ BỎ cả 2, không bám víu vào chuyện «thể xác nầy sẽ tồn tại bao lâu», lẫn không bất mãn khi thấy nó đang tiến dần đến sự chấm dứt» . -Nghĩa là «TỰ TẠI, TRUNG LẬP» trước hiện kiếp, vượt trên bi quan lẫn lạc quan ! -Như vậy, năng lượng thanh tịnh trong mạch sống của chúng ta, sẽ chẳng tiêu hao vô ích…để tâm thức tự tại, suốt thời gian DUY TRÌ sức khỏe…cho tinh thần lẫn thể xác một cách tự nhiên !

5-Nếu chúng ta cảm thấy không thể chấm dứt phóng tâm (uddhacca), và khó giữ cảm giác trung lập trong khi hành thiền TỈNH THỨC, thì chúng ta hãy quay lại chú ý đến hơi thở vôhơi thở ra, thiết lập lại thói quen thuần thục (-còn gọi là thoải mái NIỆM TỨC = ānāpānasati santati). -Nhất là đừng thất vọng…do «không ngăn được tình trạng tâm lang thang». Vì làm như vậy là tạo dịp cho một chướng ngại khác phát sinh. -Đó là «2 triền cái THAM quả thiềnSÂN» vì chưa đạt (rāga-bvāpāda) !

6-Khi có CẢNH (ālambaṇa) đập vào 6 giác quan, hãy giữ TÂM KHÔNG VƯỚNG MẮC (apakkhagāhī citta), để chỉ thấy, nghe, ngửi, nếm, chạm, nghĩ 6 trần cảnh một cách thật khách quan, –trung lập, chẳng thương hay ghét, –không phê phán. -Tức là nếu thấy (dassana) thì ấy chỉ là SẮC (rūpa), nếu nghe(savana) thì ấy chỉ là THINH (sadda), nếu ngửi (ghāna) thì ấy chỉ là HƯƠNG (gandha), nếu nếm(sāvana) ấy chỉ là VỊ (rasa), nếu chạm (phusana) thì ấy chỉ là XÚC (phoṭṭhabba), và nếu nghĩ (cinteta) thì ấy chỉ là PHÁP (dhamma), -tức là cách ly THỌ (vedanā) với TƯỞNG, để HÀNH (saṅkhārā), và THỨC (viññāna) tự nhiên tương tác…thì Ý căn (maṇiṅdriya), -hay giác quan thứ sáu mới TRUNG HÒA (majjhahaṭṭha, upekkhaka), không «nghiêng ngã», không ô nhiễm, không phản ứng tạo nghiệp vô ích, không tiêu hao năng lượng !

7-Thiền TỈNH THỨC có thể thực hành thường xuyên, trong sinh hoạt hằng ngày, –kể cả khi THƯ GIÃN…như đi bách bộ, điểm tâm, uống trà. Vì nó luôn luôn củng cố năng lượng, không để cho TÂM duyên theo sự thư giãn mà phóng túng,làm hao mòn sức sống.

ƯU THẾ của TỈNH THỨC.

<>Các phần mở đầu của nhiều «Tờ Báo Chuyên Về Tâm Lý», xuất bản vào đầu thập niên 1980 ghi lại rằng : «Sự Khảo Cứu» về cao trào thực hành thiền tỉnh thức ở Âu-Mỹ đã «nở rộ» một cách khoa học, theo Phương Pháp Tây Phương, -mặc dù nguồn gốc của THIỀN nhà Phật nói chung đến từ Đông Phương. -Từ đó đến nay đã trải qua nhiều thập niên với nhiều bước tiến nổi bật. -Sau đây là một số «điểm xuất sắc» đáng cho người học Phật chú ý :

*Khả năng làm việc của trí óc gia tăng.

-Năm 2010, có cuộc nghiên cứuso sánh về sự TẬP TRUNG tinh thần, được tổ chức cho những «quân nhân» gồm 2 nhóm. -Nhóm «1» thực hành thiền TỈNH THỨC, còn nhóm «2» thì không. -Kết quả cho thấy khả năng tập trung làm việccủa nhóm thứ nhất rất tốt. -Hai chuyên gia (tên Hodgin và Adair) trong cuộc khảo cứu, còn nhấn mạnh rằng, «giữa đời sống thế tục, thiền TỈNH THỨCgiúp nhiều trong thi hành nhiệm vụ (hầu hết mọi lãnh vực)…cho kết quả chú ý làm việc, TỐT HƠN là thiền ĐỊNH trong sinh hoạt tu viện.

MINH TÁNH bẩm Sinh !

<>Có một kết quả quí báu khác của THIỀN (bhāvanā) trong khảo cứu tâm thức (về trải nghiệm «CHUYỂN HÓA»)*, gọi là DƯ TRÍ TỰ NHIÊN (vipaññatti), đóng vai chính trong «vận hành» cuộc sống, để điều khiển tình cảm, thuộc tiến trình tư tưởng con người (vīthicitta), do khả năng bẩm sinh «phản quang tự chiếu» hay «quan sát chính mình», xuyên qua các hành động. -Mặc dù NÓ «ẩn» trong BẨM SINH (hay gọi là «dư minh» của tiền kiếp), -lắm khi chỉ là những vận hành ngắn ngủi. -Nhưng ĐẶC QUẢ nầy có khi cũng đủ hiệu lực không để cho tình cảm tư duy lôi kéo tâm thức ra ngoài thực tại (thời gian lẫn không gian). -Mục đích của sự nghiên cứu về «minh mẫn bẩm sinh» ở đây…là khám phá «dư mầm của trí tuệ» (lưu lại từ quá khứ), để nuôi dưỡng và phát triển căn tính lành (kusal’iṅdriya), hầu qui nạp rồi áp dụng…như một «giải pháp bổ túc», cho cách chữa trị «yếu thế tinh thần», hay tình trạng thúc đẩy «tâm lý đầu hàng …không để tái phát nhược điểm, tự rơi vào tham sân si (vô minh) trước một số hoàn cảnh !

<>Sau đó, Tổ chức «Mindfuless Based Stress Reduction» (=MBSR), tạm dịch là «Trị Bệnh Cân Não Bằng Tỉnh Thức» đã dùng nó như phương pháp chữa bệnh, tạm dịch là rối loạn thần kinh nghị lực.

Chuyển hóa* thế nào ?

<>Các nhà khảo cứu «Thực hành TỈNH THỨC» đã «thu thập và phân tích kỹ» những «DƯ VỊ» trong một số người (bất kỳ), sau khi họ đã va chạm (đối tượng), đã chịu đựng (cảm giác), đã nhìn nhận (sự việc),và đã lập thành (ý nghĩ : mặc cảm). -Nhóm khảo cứu qui nạp rằng, cá nhân nào thực hành THIỀN TỈNH THỨC, thì có thể «xử lý trần cảnh» (=sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp) một cách bình yên, -nghĩa là «thiền sinh» vẫn có thể tập trung tinh thần, -ngay cả khi trong họ phát sinh 1 cảm giác khó chịu, có thể ảnh hưởng đến sự tỉnh thức.

-Nói cách khác, THIỀN TỈNH THỨC (sati-sampajañña bhāvanā = état sage de pleine conscience = mindfulness state) tuy một sớm một chiều không thể hoàn toàn diệt trừ được phóng tâm (uddhacca=distracion, stress), nhưng nó đủ khả năng chiếm ưu thếgiữ thăng bằng tâm tư, ngăn cản ngoại cảnh tràn ngập (ogha) gây rối loạn tinh thần (maṅo vā cittaviññāna vā), gồm :

1-Giúp thăng bằng hoạt động não bộ.

2-Giảm căng thẳng và dẹp bỏ bận tâm, mặc cảm.

3-Ngủ tốt, ít hay không ác mộng

4-Ổn định và thăng hoa phẩm chất sống, đặc biệt là đối với những người mang bệnh tiểu đường, huyết áp cao, và đau nhức kinh niên.

<>Sự qui nạp nầy của các nhà nghiên cứu Tây phương thật vô cùng cởi mở, thông thoáng. Dù cho tại 1 số nước, dân chúng đa số theo Thiên chúa giáo, nhưng họ vẫn thực hành thiền TỈNH THỨC (sati sampajañña=mindfulness) một cách rất nhiệt lòng, vì lợi ích không biên giới của nó. Và đã có khoảng 50% người Hoa-kỳ bỏ thuốc lá, nhờ thực hành thiền TỈNH THỨC, rồi nó cũng giúp giảm bớt đau bệnh, nhằm có đời sống tốt hơn. -Nghĩa là chỉ có thiền TỈNH THỨC mới tạo ra được quyết định bỏ thuốc lá hay bỏ những thói nghiện ngập khác, nhờ nó thiết lập một tinh thần trong sáng suy nghĩ lành mạnh, trong kiếp sống nhiều lôi kéo…nặng về hưởng thụ vật chất.

*Bất kỳ là ngân sách dành cho y tế tăng hay giảm, thì nhịp độ tăng trưởng của một quốc gia…-trước tiên vẫn tùy thuộc sức khỏe thân tâm, cũng như an ninh toàn dân. Và như chúng tôi đã trình bày, thiền TỈNH THỨC (sati-sampajañña=mindfulness) có khả năng ngăn ngừa bệnh tật. Vì vậy nó có thể giúp cho «một nước khỏe mạnh» phát triển trên nhiều phương diện.

PHẬT HỌC gọi THIỀN là SỨC KHỎE.

*THIỀN (jhāna bhāvanā) mang lại sinh lực thân tâm, vậy «thiền cũng là sức khỏe», như  Phật ngôn  sau đây :

«Không nên sống phóng đãng,

Không nên chạy theo dục vọng,

Ai hằng tỉnh thức, và hành thiền,

Là người có thân thể vững chắc,

…sẽ tự tại an vui !».

<>Số người hành thiền tăng kỷ lục, nhất là trong «TƯƠNG TÁC với Y HỌC THẦN KINH», đã và đang cải thiện sự trị liệu rối loạn cân não, mang lại sức khỏe cho con người. -Thống kê cho biết rằng, trong 10 năm gần đây, người ta đã chứng kiến sự «chú ý vượt bậc», của giới «Y học Thần Kinh», dùng «Hình Ảnh Quang Tuyến» (đa chiều) do «Phản Âm Từ Trường» xuyên qua não bộ, lúc nó bị kích thích bi ngoại cảnh, so với khi não bộ yên tĩnh.Cách khám xét gọi là MRI  (Functional Magnetic Resonance Imaging). -Nhờ đó, các bác sĩ có thể xem xét tỷ mĩ và kỹ lưỡng, những «hình dạng khác nhau» trong bộ óc qua phim ảnh rõ ràng (dễ phân biệt), rồi tìm ta giải pháp.  

*THIỀN PHÁP cổ xưa của nhà Phật, đã trở thành đề tài khêu gợióc tò mò của những nhà khoa học thần kinh. Rất nhiều những cuộc khảo cứu, liên quan đến «nhất tâm bất loạn», và «khả năng tỉnh thức» trong THIỀN PHÁP, đã được thực hiện. Rồi gần đây cũng có hàng trăm tạp chí khoa học, công bố hiệu quả của THIỀN, mà số ấn bản tăng gấp đôi những lần trước. Nghĩa là, sự thực hành THIỀN ĐỊNH (=nhất tâm bất loạn) và MINH SÁT (=tỉnh thức để thấy đúng) đang tỏ ra «tươi trẻ» và «ưu thế», 1 cách phổ thông trong khoa học hiện đại.

*Vì sao các khoa học gia thần kinh lại tò mò trước THIỀN PHÁP ?!

<>Vì từ lâu người ta tin tưởng rằng «vận hành của bộ óc luôn luôn cố định», -và «nó vẫn như thế, xuyên qua thời gian», -hay «không có cách nào để có thể cải thiện các nhược điểm». Nhưng đã hơn một thế kỷ qua, các khoa học gia lại khám phá ra rằng, «bộ óc được thành lập và vận hành một cách TÙY THEO những gì con người thấy, nghe, ngửi, nếm, đụng chạm, và suy nghĩ.

*Hơn nữa, trong suốt hơn 5, 6 thập niên qua, còn có nhiều cuộc «khảo cứu liên tục» đáng chú ý, -khởi đầu, có Giáo sư Sinh Hóa của Đại học Massachusetts Hoa Kỳ, ông Jon KABAT-Sinn (năm 1970) đã phát triển phương pháp «Mindfuness-based stress reduction» (viết tắc MBSR), tạm mệnh danh là «Tỉnh Thức Giảm Căng Thẳng», nhờ dùng «hình ảnh quang tuyến» (đa chiều) do «Phản Âm Từ Trường» xuyên qua não bộ, như đã nói trên đây («Functional Magnetic Resonance Imaging» (viết tắc MRI), để tìm cách chữa trị các bệnh loạn thần kinh, tuyệt vọng (một loại trầm cảm), và đau khổ do ác tâm gây ra. Kết quả, phương pháp nầy hiện đang được giảng dạy tại 30 đại học y khoa, và áp dụng ở 250 bệnh viện nổi tiếng trên thế giới !

-Tiếp theo, một bước tiến đáng kể nữa của Y Khoa Thần Kinh, là dùng «Hình Ảnh Quang Tuyến phối hợp với Dấu Hiệu Đo Lường Huyết Áp (sức hút và đẩy của máu), để chẩn bệnh (diagsnostic), gọi là phương pháp «PET-Scan, f-MRI», nhắm vào «các vùng nhỏ», khoảng 1mm của bộ óc. Và song song với phương pháp nầy, các bác sĩ thần kinh học còn đồng thời khám pháquyết định cách đối phó, nhờ kỹ thuật «dò điện não đồ» (chẳng hạn như EP, EEG) để «quy nạp» về các «vòng loang» của «sóng não» trong từng giây, hầu biết thêm chi tiết. Nhờ những kỹ thuật tiền phong ấy, mà bộ óc con người không còn là «1 HỘP ĐEN» bí hiểm nữa, -nghĩa là chấm dứt quan niệm «nó chỉ có thể được hiểu xuyên qua suy đoán, chứ chẳng có «cách cụ thể, đo đạt vận hành một cách chính xác» !

*Nhờ 2 phát minh nêu trên, mà tổ chức «Giảm Căng Thẳng Bằng Thiền TỈNH THỨC» (Mindfuness-based stress reduction = (MBSR) đã tổng hợp và phát triển được «ngành sinh hóa» não bộ, và thúc đẩy các nhà khoa học thần kinh, nghiên cứu sâu xa hơn về ĐỊNH TÂM (samādhi=thiền chỉ) và TỈNH THỨC (vipassanā=thiền quán).

ƯU ĐIỂM CHÍNH của THIỀN.

<>«Nhất tâm bất loạn» hay ĐỊNH (ekaggatā=one pointedness) trong Thiền Chỉ, giúp chúng ta tập trung tâm thức (citta-viññāna vidahati) trên MỘT đề mục (kammaṭṭhāna=object), theo đó người hành thiền có thể «hướng dẫn tinh thần» (magga maṇo-dasseti) «hội tụ» (vemajjhaṃ pāpeti) tại một «tiêu điểm lành mạnh» (sobhaṇa kasiṇa), chẳng hạn như hơi thở (ānāpāna), hay « trong «40 ĐỐI TƯỢNG» (kammaṭṭhāna) của THIỀN PHÁP, gồm :

            I/«10 thể sạch» (dasa subha kasiṇā),

            II/«10 thể trược» (dasa asubha kasiṇa),

            III/«10 niệm tưởng» (dasa anussati), và

            IV/«10 phẩm vô lượng» (dasa brāhmavihāra).

*Trong «10 phẩm vô lượng» (dasa brāhmavihāra) ấy, có TỪ vô lượng (mettā-karuṇā mahāvihāra), là tâm lành hằng tỏa rộng mênh mông trong các chiều…cả GẦN lẫn XA, bao dung tất cả chúng sanh, hữu tình cũng như vô tình…-Nhất là «tâm trường thiện» nầy, chứa đầy ý nghĩa cần thiết loang ra trong các cõi cộng nghiệp !

-Chữ Pāḷī «SAMᾹDHI», thường dịch là «thiền định» (hay «thiền chỉ») trong kinh điển Phật Giáo Nam Truyền (Theravāda) còn có một dạng khác với y nghĩa tương đương, là «SAMATHA».

-Riêng “thiền quán” (Vipassanā), hay hạnh tỉnh thức (sati-sampajañña cāga = midfulness) là «mặt hữu dụng tuyệt vời» của THIỀN CHỈ. -Nếu «thiền chỉ» luôn cần đến «sự tập trung tinh thần nhất điểm», thì «thiền quán có hơi khác» ! -Trong bước đầu, người thực hành «thiền quán» phải chú ý một cách tự nhiên (=không căng thẳng, cũng không «lấy lệ»), mới có thể «thấy rõ» các «HIỆN TƯỚNG» của hơi thở ra vào (ānāpānassa-lakkhaṇa) trong giây phút hiện tại,bằng cảm giác (vedanā)…-Chẳng hạn như «phần bụng nhô lên và hạ xuống», hay «có luồng gió chui vào rồi thoát ra ở khí quản» (bắt đầu từ lỗ mũi…v…v…).

*Nhưng nền tảng chính vẫn là «sự thoải mái nắm bắt được» VẬN HÀNH của hơi thở trong TOÀN THÂN (sabbakāyassa ānāpāna-saṅkhārā anupassasati).

*Chúng tôi nhắc lại nhiều lần, vì đây chỉ là MỘT trong NHỮNG «bước đầu căn bản» để dẹp bỏ phóng tâm (uddhacca natthi), «tiết kiệm năng lượng» trong cả 2 phương pháp (CHỈ và QUÁN) ! -Còn các «bước khởi hành» của những PHÁP THIỀN khác…-nằm rải rác trong nhiều kinh điển nhà Phật, -nhất là kinh TỨ NIỆM XỨ (Catu-saṭipaṭṭhāna sutta), gồm NIỆM THÂN (kāya saṭipaṭṭhāna), NIỆM THỌ (Vedanā saṭipaṭṭhāna), NIỆM TÂM Citta saipaṭṭthāna), và NIỆM PHÁP (Dhamma sṭipaṭṭhāna), mà quí vị chắc đã từng nghe qua, thì cách thức hướng dẫn thực tập…cũng rõ ràng không kém, -tùy theo vị thầy «chuyên trách» của mỗi trường thiền !

-Và trước khi bước qua bài sau … (bài chót), chúng tôi xin nhắc lại một lần nữa rằng, chớ nên COI THƯỜNG PHÓNG TÂM, dễ ngươi nghĩ vơ vẩn đến những chuyện không liên quan gì đến mình. Đó là phung phi năng lượng quí báu vô ích. -Ngoài ra, ngay cả trong việc HÀNH THIỀN, lắm khi thiền sinh cũng rơi vào sự cực đoan, mệnh danhlà “tinh tấn” (hay cố gắng cho mau có kết quả = tham), mà bị tiêu hao năng lượng một cách không cần thiết ! -TINH TẤN chính là thực hành thường đều, chứ không phải thúc ép !

-Đừng quên phóng tâm (uddhacca) là trở ngại đầu tiên phải luôn luôn “giải tán” trong THIỀN PHÁP !!!

Laisser un commentaire