Soạn phẩm liên đề : «Đạo Phật, Khoa học, Thiền Pháp, Sức khỏe» Bài 12

Bài XII

 Một số ƯU ĐIỂM đặc biệt của THIỀN :

———

*Hóa giải CĂNG THẲNG (āyāsa vilīyāpeti) .

<>«Căng thẳng» (āyāsa=stress) là phản ứng của thần kinh thân thể, khi phải thực hiện những việc khó khăn bất ngờ, trong một thời gian ngắn, -nhất là lúc thiếu hẳn điều kiện tối thiểu. Rằng khi một người sắp đương đầu với một số trở ngại (lắm lúc khá nguy hiểm) mà không thể tránh được, thì hệ thần kinh bị kích thích, và tuyến thượng thận tự động tiết ra lượng lớn «ót-môn» (cortisone) quá tải…làm cho người ấy càng lúc càng lúng túng (bế tắc), nhiều khi cực độ có thể «gây tổn thương tinh thần», trở thành rối loạn, không ngần ngại làm bậy.

-Nhưng người hành thiền thuần thục, đều đặn, thì thường có mức «ót-môn» (cortisone) ổn định (thấp) trong đầu nên bình tĩnh, chứng tỏ THIỀN PHÁP đã «điều chỉnh» tình trạng «ót-môn» quá độ, không gây tổn thương tâm lý. -Các nhà khoa học nhân thể đã kiểm chứng bằng cách theo dõi lượng «ót-môn» của thiền sinh, sau một thời ngồi thiền, rồi cẩn thận kết luận như thế !

*Gia tăng TÍNH dễ dãi (adhivāsanā).

<>Nhiều cuộc khảo cứu đã xác chứng rằng, THIỀN thường nâng cao “tính dễ dãi” đối với xung quanh, do khả năng nhận thấy «tật chấp nhất là một ác pháp». Thiền cũng giúp chúng ta dễ dàng nhận ra “sự khó tính” một cách khách quan và rõ ràng, giúp cho nội tâm trở thành VÔ TƯ, cảnh giác trước các tư tưởng thiên lệchcó thể hướng dẫn sai phong cách của chính mình. -Theo báo cáo năm 2015, của «Trung Tâm Thần Học», thuộc Viện Kỳ-Na Giáo «Jain, Walsh, Cahn» (Ấn-độ), người thuần thục thiền pháp có thể chắc chắn tránh được những rủi ro căng thẳng thần kinh và bệnh trầm cảm. -Chưa kể một số phương pháp hành thiền còn làm phát sinh nhiều vận hành tâm lý tích cực, cải thiện sức khỏe tinh thần thể xác !

*Giảm thiểu SỰ BỒNG BỘT. (bubbuluppādana opāteti)

<>Khi hành thiền MINH SÁT (vipassanā), tâm bạn phải hoàn toàn ở trong thực tại (-chỉ biết chuyện trước mắt !).-Sự ý thức và «tính vô tư» trước những gì đang xảy ra trong «giây phút ấy» là đề mục chính của bạn, -thành thử tật bồng bột do định kiến (thiên lệch), không có cơ hội phát sinh, -nhất là khi tinh thần đã hòa vào pháp thiền.

*Một «Báo Cáo Kết Quả Thiền» của tổ chức «Jha, Krompinger, Baine, 2007» tiết lộ rằng, sau 8 tuần lễ hành đạo, hầu hết «thiền sinh» có thể tập trung tinh thần dễ dàng, không bị ngoại cảnh chi phối, đặc biệt là trong tư tưởng không nổi lên những phản ứng chủ quan (=bồng bột, thiên lệch), chẳng hạn như «phản đối tiếng động» (ngẫu nhiên từ đâu đó vang lại), hay «yêu cầu xung quanh tuyệt đối im lặng». Ngay cả một số «thiền sinh» nhập môn không lâu, cũng có kết quả tương tự.

*Mất THÓI XẤU thường lệ (duṭṭha cāritta nirodha).

<>Giáo sư một trường Trung cấp có 400 học sinh từ 13 đến 20 tuổi ở Vương quốc Bỷ (Royaum de Belgique), đã áp dụng Thiền Học song song với chương trình giảng dạy, ông Filips Raes nói «các học sinh sau 6 tháng tham gia hành thiền tại lớp, đã trở nên vui tươi, thoải mái…ít tỏ ra dị ứng, khó khăn, căng thẳng như trước đó». -Nghĩa là dứt thói xấu phàn nàn cũ !

-Một kết quả khác…là «thống kê thứ II» về tư cách sinh viên, của Đại học California cũng nói rằng, «nhờ hành thiền mà đa số sinh viên đã giảm tật cau có, khiếu nại những chuyện không đáng, hết suy nghĩ lệch lạc, và nhất là tình trạng căng thẳng thần kinh trước đó không còn».

*Bớt LO SỢ (appatara sokappattā)

<>Tài liệu “American Journal of Psychiatry” (“Tờ báo về bệnh tâm thần”) đã công bố rằng, «Sau 3 tháng hành thiền và sinh hoạt thư giãn, 22 bệnh nhân được khám nghiệm kỹ, rồi nhận xét tổng quát…ghi rằng, tính sợ sệtrối loạn thần kinh đã giảm hẳn trong 20 người, và chỉ có 2 người không được cải thiện như mong đợi».

*Giảm NGỦ NHIỀU (thīna-middha opāteti)

<>Đại học Kentucky (Hoa Kỳ) đã làm một cuộc thí nghiệm nhắm vào những người ngủ nhiều mà chưa bao giờ hành thiền. Họ làm một bản «so sánh» giữa «thiền sinh bắt đầu» và «thiền sinh thuần thục». Kết quả nói lên rằng «ngay cả các thiền sinh mới nhập môn» (mang «bệnh ngủ nhiều») bỗng trở lại bình thường, nhờ hành thiền đúng cách. Nghĩa là thì giờ dành để ngủ trước đó, hiện tại biến thành thời gian hành thiền, khiến cho những bạn «thuần thục thiền công» phải ngạc nhiên ! -Nhờ đó, các bác sĩ liên hệ «bệnh ngủ» có thể nghiên cứu, phân tích, tìm ra «phương pháp ngược lại» để «trị bệnh mất ngủ».

*Giúp TIÊU HÓA tốt. (sundara jīraṇa)

<>Bộ máy tiêu hóa rất cần sự hoạt động nhịp nhàng của thân thể. Và THIỀN là phương pháp có thể hổ trợ hữu hiệu cho bộ máy tiêu hóa, nếu không muốn nói là «đồng minh». -THIỀN «cho phép» bộ máy tiêu hóa “làm việc thong thả (đều nhịp), kể từ lúc thức ăn được răng nghiền nát và trộn với «dịch vị» (salive=nước miếng) rồi đưa xuống bao tử, trở thành «dưỡng trấp». -Sau đó, bộ máy tiêu hóa phải trộn «dưỡng trấp» với «dịch chua và đắng», tiết ra từ gan mật để biến nó thành «nhũ trấp», trước khi tuần tự đưa vào ruột non, để thân thể được hấp thụ chất bổ, xuyên qua toàn bộ một «hệ thống mao quản dinh dưỡng» (=ống dẫn nhỏ như tóc).

*THIỀN (bhāvanā) giúp cho vận hành nầy không dồn dập, để sau cùng «phần phế thải» của thực phẩm ở ruột già sẽ không bị dồn ép, có thể trở thành đặc cứng (gây táo bón), cũng không đứt quãng vì bị chất nhờn trong đó đánh loãng (làm tháo dạ) ! -Tóm lại, Thiền là «phép nhuận trường đắc lực» cho bộ máy tiêu hóa. -Và khi bộ máy tiêu hóa làm việc tốt, thì tình trạng dư mỡ, dư đường trong máu sẽ không có. -Đây lại là một ưu điểm đặc biệt, đáng chú ý của HÀNH THIỀN !  

*Hóa giải bận rộn (bahu-kicca vilīyāpeti).

<>Kết quả nghiên cứu của viện Đại Học California, do bà Katherine Mac Lean cầm đầu đã chỉ ra rằng, trường hợp ngồi thiền tại sở làm, các “đương sự” vẫn có thể tập trung tinh thần, mặc dù cùng lúc ấy họ bị chi phối bởi nhiều công việc nghề nghiệp, khi giống nhau, khi khác hẳn, được giao phó một cách lập lại, -và ngay cả trong khung cảnh “độc điệu” cũng thế. -Bản báo cáo của bà Katherine Mac Lean ghi rõ, tuy bận rộn, nhưng mỗi “thiền sinh” vẫn dành 20 phút để thực hành thiền pháp mỗi ngày. -Và trong một số “trắc nghiệm” khác, ý thức của họ (=thiền sinh vừa nêu) vẫn tỏ ra nhạy bén, đến 10 lần tốt hơn, so với những người viện lẽ nầy lẽ nọ, không hành thiền. -Chưa kể dựa theo Time Magazine, trong các mục “nói chung về THIỀN”, thì nhiều bài viết đã kết luận, “thiền có thể cải thiện tình trạng mất khả năng tập trung tinh thần”, -theo John Clouden.

*Quyết định TỐT (sundara nicchaya).

<>Nữ chuyên gia về “vận hành trí óc” Eileen Luders, và các đồng nghiệp của cô, làm việc tại phòng thí nghiêm “Neuro Imaging UCLA” tiết lộ rằng, thần kinh của những người hành thiền nhiều năm, có khả năng “vận hành hội tâm” (=tụ về trung ương), tức là “màng thấm” xung quanh bộ óc thường xuyên ổn định, cho phép “thiền nhân” tiếp nhận tin tức nhanh hơn những người không hành thiền. -Và nhiều nhà khoa học cũng đảm bảo rằng, “vận hành tập trung” tăng cường khả năng của não bộ, trong việc qui nạp tin tức, rồi lấy quyết định, cũng như phát triển “hộp trí nhớ” và tập trung năng lượng vào mục đích.

*Ổn định THẦN KINH. (maṇo-upasama)

<>Nhiều người có khuynh hướng xem THIỀN là “giải pháp giảm đau” an toàn nhất, khi cuộc sống chứa đầy những yếu tố gây ra cuồng loạn và căng thẳng thần kinh, khiến cho con người phải đương đầu với quá nhiều các cảm nghĩ nặng nề, bi quan, bế tắc. -Nghĩa là THIỀN có hiệu quả rất tích cực trên hệ thống thần kinh. -Rằng khi một âu lo xảy ra thì nó biến thành nỗi kinh sợ, “tràn ngập” trong tư tưởng con người, khiến cho “phản ứng” của trung khu thần kinh bị nối liền với “tình trạng sợ hãi” (đau đớn) mỗi lúc một gia tăng.  

-Tuy nhiên, THIỀN PHÁP trong nhà Phật (ariya bhāvanā) vẫn có thể “phá vỡ” tình trạng xấu đó, -tức là CHÁNH NIỆM (sammā-sati) đủ khả năng “bình định” cảm giác lo âu, và không chừng có thể “triệt tiêu” luôn sự sợ hãi. -Ai muốn đạt quả lành nầy đến mức tối đa, thì phải lập đại nguyện (mahā adiṭṭhāna), hành thiền bền bỉ, với một sự kiên nhẫn vững chắc (khantī pāramī).

*Cải thiện TIM MẠCH (hadayāyatta saṃvattati).

<>Vào năm 2012, bắt đầu một cuộc “xét nghiệm tâm não” được thực hiên dài hạn, với 200 người có rủi ro cao, và “giải pháp” gồm thực hiện 2 sinh hoạt tích cực là :

1-Hướng dẫn sức khỏe bằng cách cải thiện cách ăn uống, đồng thời vận động thân thể lành mạnh, như đi bộ, thể dục, thể thao, đọc sách…

2-Tổ chức một số khóa thiền cơ bản, trong khung cảnh thanh tịnh.

*Và trong suốt 5 năm trường sau đó, nhiều toán nhân viên khoa học, đã phân công và âm thầm tổ chức các cuộc điều tra, đồng thời khách quan thu lượm tin tức một cách khéo léo, để kiểm chứng trước khi báo cáo rằng, có 48% “bệnh nhân” đã giảm hẳn các biến chứng tim mạch nguy hiểm, như “đột quỵ” hay “nhồi máu cơ tim” có thể dẫn đến cái chết bất thường.

*Bổ túc TRÍ NHỚ (satibalaṃ vaḍḍheti).

<>Hiệu quả “lý hóa” nổi bật nhất của THIỀN (bhāvanā) là định hướng “sóng não”, -tức là “hạ thấp” tật phóng tâm, để củng cố “năng lượng hướng thiện”. -Tình trạng ÍT PHÓNG TÂM sẽ giúp bộ óc “tiêu hóa” nhanh chóng một lượng lớn tin tức. Và đó là hiệu quả đóng góp đáng kể, vào việc cải thiện tư tưởng lẫn bổ túc trí nhớ.

*Tăng MIỄN NHIỄM (vimutti brūheti).

<>Các nghiên cứu khoa học nhân thể trong vài mươi năm gần đây, đã chứng minh rằng THIỀN (bhāvanā) làm gia tăng đáng kể “kháng tố” trong thân thể con người. -Mà “kháng tố” (anticorps) nòng cốt của “hệ thống miễn nhiễm”, gọi tên theo khoa học là “ót-môn chống độc” (hormone anti-infection) lại luôn luôn cần THIỀN như nguồn “dinh dưỡng”! -Nói cách khác, khi người bệnh có tinh thần ổn định, thì hiệu quả của “thuốc lý hóa” mới cao. -Ngược lại, tuy thuốc rất chuẩn, rất hay, nhưng nếu tinh thần bệnh nhân bất ổn, thì nó sẽ kém sức mạnh, “nhiều khi vô hiệu quả”.

-THIỀN trong NGHĨA RỘNG, ám chỉ sự bình tĩnh, hay tinh thần không bấn loạn. Và trong minh triết, THIỀN chính là phép “vệ sinh tinh thần”. -Tâm thức sạch sẽ, ít tham sân si…nhiều khi cũng có thể ngăn ngừa bệnh tật một cách thần diệu. -Người có tư tưởng trong sạch thường đương nhiên cũng có đời sống thể xác…rất hợp vệ sinh, lành mạnh, vi trùng hay vi khuẩn khó có điều kiện xâm nhập gây bệnh.

*Chậm LÃO HÓA (jiṇṇatta mandīkaroti).

<>LÃO HÓA là vận hành của xác thân, tự đào thải những “TẾ BÀO CŨ”, đã hết sinh lực. Nó tùy thuộc vào tình trạng BẢO TRÌ bởi chất bổ (thực phẩm) và bởi dưỡng khí (oxygène), song song với số lần hít vôthở ratrong sinh hoạt, của một người đang sống. Và chu kỳ sinh hoạt trên mặt đất là 24 giờ đồng hồ (ngày lẫn đêm), gồm 8 giờ lao động chân tay + 8 giờ tứ chi nghỉ ngơi + 8 giờ thân tâm cần an tịnh (gồm giấc ngủ). -Nhưng trong số “24 giờ sinh hoạt” nêu trên, đa số chúng ta, vốn bị tham sân si ảnh hưởng, nên không có hơi thở đồng đều, khi dài khi ngắn, -mà ít ai biết, nên lượng dưỡng khí “thu được” luôn luôn bất nhất, khó cung cấp bình thường cho mạch sống !

*Ổn định sự BẢO TRÌ thân tâm (nāmarūpa bharaṇa saṃhaṇati).

-Hầu hết người ta không biết rằng, “tâm thức phàm phu luôn luôn vọng động, phân tán, chạy theo ngoại (hay nội) cảnh, một cách lang thang, phung phí năng lượng vô ích”. -Đây là một “khuyết điểm quả báo” của kiếp làm người. -Tuy nhiên, giấc ngủ là thời gian để “thân nghiệp” tự điều chỉnh chiều dài hơi thở, tái tạo sự cân bằng trong việc cung cấp dưỡng khí cho mạch sống. -Nhưng tham-sân-si vẫn không để yên, nó cứ tiếp tục quấy nhiễu, ngay cả trong giấc ngủ, bằng những ác mộng, khiến cho hơi thở của người phàm nằm mơ cũng bị xáo trộn !

-Ngược lại, THIỀN là “kỹ thuật” làm cho tham sân si bị “cô lập”, khiến hơi thở trở nên thường đều. Thiền bổ sung hệ thống hô hấp cho tươi nhuận, cung cấp dưỡng khí đầy đủ TẬN mỗi tế bào, không thiếu không thừa, -nói theo y học là “tương đương với TÁC DỤNG của một giấc ngủ ngon VÔ ác mộng !” -Loài người quí nhất là có những giấc ngủ thật bình an !-Nói tóm lại, THIỀN làm cho toàn bộ tế bào còn sống được bảo trì tốt, do đó nhịp độ lão hóa tự động chậm lại, tuổi thọ được kéo dài.

*Gia tăng TÂM TỪ (mettā vaḍḍheti).

<>Trong thiền pháp, đặc biệt là khi “tịnh nhân” dùng “ĐỨC TỪ BI” (mettā-guṇa) để làm “đề mục” (kammaṭṭhāna), thì các “chùm rễ” (synapses) của tế bào thần kinh (neurones) sẽ “giao thoa rất tốt” với vùng não có chức năng “tạo cảm giác”. Từ đó, điều kiện để phát sinh tính tử tế rộng lượng cũng được hội đủ mạnh mẽ. -Kết quả là TÂM TỪ tự động biểu lộ, như một mạch điện có từ trường lành loan ra toàn thân. -Và “dòng điện từ bi ấy càng kéo đài…thì phẩm cách vì người khác càng sung mãn, củng cố. -Nhà Phật gọi hiện tượng nầy là “LÒNG TỪ BI” (mettā-karuṇā).

*Dập tắt LO LẮNG (vihesā nirodheti).

<>Khi TÂM TỪ gia tăng, thì sự lo lắng được hóa giảitự dập tắt, giống như sự “chung đụng” giữa nước máthơi nóng vậy ! –Phẩm tính nầy có 3 phương diện đặc sắc, là cho, nhận, và cùng nhau hoan hỷ. -Một cá nhân giàu lòng từ bi, thường giúp đỡ xung quanh là CHO. -Những người xung quanh cảm kích, rồi đáp lại bằng niềm tri ân là NHẬN. -Tất cả đồng sống trong hòa hài là CÙNG HOAN HỶ.

*Vượt qua CÁM DỖ (vimohana ativattati).

<>Người hành thiền thuần thục mỗi ngày (cāturiyena) có thể thoát khỏi rất nhiều cám dỗ, do thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm, và suy nghĩ trong cuộc đời. -THIỀN giúp chúng ta hiểu biết về mình rõ hơn, để có thể đánh tan các lo âu, vượt qua những trở ngại,tập trung năng lượng để đạt mục đích cao thượng. -Nhờ THIỀN, chúng ta sẽ KHÓ, hay KHÔNG rơi vào cám dỗ, –nguyên nhân hằng làm cho đau khổ mất mát trước đây, mà chúng ta đã không thoát nổi.

*Sự MAY MẮN (sobhagga).

<>ƯU ĐIỂM đặc biệt kỳ diệu sau cùng của THIỀN…là “người tu tịnh (tại gia hay xuất gia)khi “gặp chuyện bất ngờ, phải chọn 1 giải pháp”, thì họ sẽ ung dung “làm đúng”. -Lý do ?! -Vì “bản chất của TÂM THIỀN, là không mong lợi ích bất thiện”. Và THIỀN cũng luôn nằm trong vận hành NHÂN DUYÊN QUẢ, chưa kể phong cách của hành giả, luôn làm choxung quanh HÒA NHÃ, đồng thời toát ra niềm hoan hỷ (=tương ứng với dòng điện thân ái trong môi trường sống), khiến cho mọi người có hảo cảm ! -Và đó là “cận duyên” của sự may mắn !

-Nếu cắt nghĩa theo Vi Diệu Pháp (abhidhamma), thì “Ý CĂN” (maniṅdriya) hay giác quan thứ sáu” (chatthī-dvāra) trong một người tu thiền, -đã không nhiều thì ít trở thành thanh tịnh, -nên lúc cần một “chọn lựa bất chợt”, “giác quan thứ sáu” thường đóng vai LINH TÍNH để “thiên về” một “quyết định nào đó”, có khi gọi là “bản năng thuận”, Nghĩa là lúc ấy linh tínhgiành quyền”chọn lựa, mà không bị bản năng cản trở,-rồi sau đó là…đạt thành công. -Nói cách khác, “LINH TÍNH” ấy nhờ có nền tảng tu thiền (=thanh tịnh, soi sáng), nên “vô tư làm đúng”, -mà “đương sự” hoàn toàn không ngờ…nên gọi là ƯU ĐIỂM may mắn của TÂM TỊNH !

*Đây cũng là cái “lý do sâu xa”…mà chúng ta vẫn thấy trên mỗi tờ “Tử Vi Á Đông”, do bất cử tổ chức VN nào phát hành, -ở phần cuối đều có “câu qui nạp”…đại ý rằng, “ai hằng ngày tu nhân tích đức (giữ tâm hiền lành) thì HUNG sẽ hóa ra KIẾT” (=xấu thành tốt), -dù cho ngay trước đó LỊCH đã kê khai đầy đủ những “ngày lành tháng tốt, tương dung tương khắc, để tránh rủi ro, tìm ra may mắn…v…v…” đến trọn cả năm, như một “đáp án không thể sai” về “thiên cơ bất khả lậu?! -Nghĩa là, “soạn giả” tuy học xa thấy rộng, nhưng thầy bói vốn không tự tin lắm…cũng phải “cầu cứu” đến Phật giáo, để phòng ngừa các…“lời tiên tri bị hố” !

<>Phàm sống trên đời, ai cũng mong mỏi được sự MAY MẮN. Nếu chúng ta xem thiện tâm nguyên nhân của hành động mang lại sự may mắn thì Phật học vẫn “chỉ điểm” cho chúng ta biết rằng, “THIỀN là phương pháp” để tạo TÂM LÀNH hay “giác quan thứ sáu”, tức “linh tính thần diệu”, sẽ giúp bản năng chúng ta hành động đúng…mang lại may mắn !

-Vả lại, không tu thânđi tìm sự may mắn, bằng cách hỏi thầy bói là một dạng của LÒNG THAM kết hợp SI MÊ. -Vì thật ra, “khoa bói toán” chỉ là một “thống kê thời sự” ghi lại những vận hành đã qua, theo chu kỳ biến dịch, kéo dài hằng nhiều trăm năm. “Độ chính xác”” của sự lập lại ấy chỉ đúng theo tiêu chuẩn tổng quát chừng 50%, -và 50% còn lại là do mê tín ! -Nếu cái “giác quan thứ sáu” hay “linh tính” trong con người, không có THIỀN PHÁP hổ trợ, thì sự mê tín sẽ trở thành 100%. Đây chính là lý do làm cho tình trạng NGU DÂN trở thành trầm trọng, và âm mưu lừa gạt tâm linh…càng ngày càng gia tăng, như một tai họa nguy hiểm cho loài người !!!

-Đây phải chăng là ƯU ĐIỂM đáng chú ý nhất trong cõi phàm phu ?!

———-

Laisser un commentaire