Soạn phẩm liên đề : « Đạo Phật, Khoa học, Thiền pháp, Sức khỏe » Bài 10

Soạn phẩm liên đề : « Đạo Phật, Khoa học, Thiền pháp, Sức khỏe » Bài mười

——–

Bài X

Phân tích 3 độc tố THAM SÂN SI

(Lobha-dosa-mohaṃ vibhajati)

<>THAM là gì ?! –Tham THÍCH THU VÔ những gì đã có hay chưa có (-mà thấy người khác sở hữu). Theo Pāḷī, tiếng nói thời Phật Thích-ca (Sakya Buddha) còn sống, chữ “LOBHA” đến từ ngữ căn «LUBH», hàm chứa ý nghĩa «vọng tầm» (taṅhā) hay «thèm khát» (cāga), -tức là «trạng thái tâm lý» không ngừng mong muốn những cái đã biết hay chưa biết. -Tình trạng tâm tư như thế, gọi là “LOBHA”, -tương đương với chữ “XAN THAM” trong hán việt. -Vì không ngừng mong muốn, nên sách Phật mới có câu «lòng tham không đáy» để nhắc nhở người đời. (-Phát biểu dựa theo «kinh văn nguyên thủy» (Theravāda sutta), là câu «lubbhanti tena, sayaṃ vā lubbhanti, lubbhana-mattaṃ eva vā taṃ»).

*Nói một cách minh triết, xan tham (lobha) là sự vướng mắc thường xuyên vào những gì cung phụng cho THÂN TÂM phàm tục nầy, -tạm gọi là túi thèm khát vô biên trong mỗi động vật, rõ rệt nhất là loài người. -Sách «Thanh Tịnh Đạo» (visuddhi-magga botthaka) diễn tả một cách ngụ ngôn hình ảnh  «XAN THAM ví như nhựa cây», dùng làm bẩy keo để bắt chim. -Đặc tính của nó là “kết dính” vật nầy với vật khác, -hay như «miếng thịt bám chặt vào nền chảo nóng», -hoặc như «sáp khói thấm sâu vào mặt vách», hay «màu đen dán chặt lên màu trắng trên tường». -Từ đó suy ra 6 sự vướng mắc tại 6 nơi :

1/Ở đôi mắt, “thích thú trong cái thấynguyên nhân mắc dính mọi vật được thấy !”.

2/Ở lỗ tai, “thích thú trong cái nghenguyên nhân mắc dính vào mọi âm thanh được nghe !”.

3/Ở lỗ mũi, “thích thú trong cái ngửinguyên nhân mắc dính vào mọi vật có mùi thơm được ngửi !”.

4/Ở cái lưỡi, “thích thú trong cái nếmnguyên nhân mắc dính vào mọi vật có vị ngon được nếm !”.

 5/Ở làn da,“thích thú trong cái sờ (hay đụng chạm) là nguyên nhân mắc dính mọi vật được sờ !”. 

 6/Ở ý thức, “thích thú trong cái nghĩ là nguyên nhân mắc dính vào mọi chuyện được tưởng nhớ !”. 

<>Phật học xem XAN THAM (lobha) là ma lực, luôn luôn đẩy tâm thức con người, vào cảnh nổi trôi khổ não phức tạp, nguy hiểm… chẳng khác nào vận hành của con sông, hằng kéo mọi vật trong dòng nước quăng ra biển cả, đầy gió dập sóng vùi, khó mong thoát khỏi !

*Chữ Pāḷī “LOBHA” (xan tham) trong kinh Phật, thỉnh thoảng còn được dịch ra Việt ngữ, là “KHÁT VỌNG” (tương dương với chữ RᾹGA), bởi nó chứa nhiều mức độ, hay nhiều biến dạng khác nhau, có thể phân ra 3 trạng thái, là thô lậu (olārika), vừa phải (mattāyutta), và tinh vi (sukhuma). -Đa số chúng ta thường nhận diện xan tham, chỉ khi nào nó biểu lộ một cách thô lậu trước thị giác, hay trong tâm cảm. Nhưng sẽ rất khó xác định xan tham, lúc nó vận hành một cách “tinh vi, tế nhị” (ngụy trang thấp hèn=hīna-kūṭopāya) !

<>Có bao nhiêu lần chúng ta vì “ngon miệng” (=khoái khẩu) mà “tự hành hạ” cái dạ dày của chúng ta, bằng cách ăn không kịp nhai, uống không kịp nuốt… -Khi ấy, chúng ta vẫn KHÔNG biết là “mình đang chịu sự “sai khiến” của TẬT THAM ĂN, HÁU UỐNG ?!”. -Vì dạ dày còn trẻ và khỏe, không có phản ứng gì rõ rệt, nên chúng ta coi thường «cho qua» ! -Cái «nô lệ» ấy khác với khi chúng ta mất người thân (=chết), hay bị cắt đứt tình yêu, chúng ta chịu đựng ra sao, chúng ta mới biết là “thương yêu sinh ra đau khổ”, -một dạng trong nhiều áp lực (tự biểu lộ) dưới quyền lực ma quái của XAN THAM (=không muốn mất người thân) !

-Theo Vi Diệu Pháp (Abhidhammena), “TÂM THAM” (lobha-citta) «xuất hiện» và «lánh mặt» một cách “rất ma quái” trong đời sống hằng ngày (tưởng như nó «không hiện hữu»). Con người khó nhận thức được “hành tung” hay «dấu tích» của . -Tâm tham chẳng khác nào “cái bóng”, thoắt xuyên qua “6 giác quan” (mắt, tai, mũi, lưỡi, da, ý) rồi «mất tích» một cách «chớp nhoáng» (!). –Nhất là khi “độ gieo độc tinh vi” (xan tham) không “quá mạnh”, để «nó» tạo ra bộ mặt “chẳng khao khát”, hay xảo trá hơn nữa là tỏ ra “ít thèm muốn” !

-Nghĩa là trong “một số trường hợp”, TÂM THAM có vẻ chỉ là sự hài lòng thoáng qua (hay hợp ý sơ sơ thôi) trong cái thấy, trong cái nghe, trong cái ngửi, trong cái nếm, và trong hoàn cảnh va chạm…với một đối tượng nào đó bên ngoài, rồi “phản chiếu nhẹ nhàng” vào tri thức bên trong…như một luồng gió thoảng, mà người «trúng gió tham» không hề hay biết. -Có khi họ còn tưởng rằng «mình đã chế ngự được» lòng tham !(?) -Bởi thế mới có câu «vàng phải ở trong lửa cao độ mới biết thật hay giả», cũng như «con người phải đối diện với 2 cửa sống hay chết, mới biết được tinh thần vị tha» (=quên mình vì người khác), từ bi vô lượng !

*Và tâm sở THAM (lobha-cetasika) chỉ hiện ra trọn vẹn, khi 3 điều kiện, là 1/trần cảnh (vật được muốn), 2/giác quan (thấy biết chắc, không nhầm lẫn), và 3/khả năng thâu tóm (ngoại duyên và quyết ý) đã hội đủ. -Riêng sự phát sinh của LÒNG THAM, bình thường con người dường như chẳng bao giờ ý thức được. -Vì sao ?! -Vì nó cũng là «bản năng bẩm sinh» của NGHIỆP mang thân tâm nầy ! -Đứa bé lúc ra đời, hít hơi thở đầu tiên…là do động lực của thức ham sống !

*Trong nhiều bản kinh, Đức Phật đã nói về những nguy hiểm (upaddavā) của tâm tham (lobha-sahagata-citta), và các phương pháp để vượt thắng. -Một số kinh còn chỉ rõ 5 đối tượng làm hài lòng, được cảm nhận xuyên qua 5 giác quan, là 1/tiền bạc, 2/danh vị, 3/giấc ngủ, 4/thực phẩm, và5/sắc đẹp. -Nhà Phật gọi ấy là 5 trần cảnh hấp dẫn (pañca-ālambanāni-pamohaka), mà 5 giác quan (pañca-dvāra-viññānāni) trong một con người luôn luôn thèm khát, tìm kiếm. -Trên thực tế, 5 thứ ấy vốn làm cho người ta khổ nhiềuvui ít !

ÁC TẬT» của tâm tham trong thời đại tân tiến, gồm :

1-Không thể tri túc (asantuṭṭhitā=chẳng biết đủ) : -Trong thời đại tân tiến, vì thèm khát hưởng thụ, mà người ta luôn luôn cần đến tiền bạc (càng nhiều càng tốt), và phải làm việc bất kể hoàn cảnh, đồng thời không dám tiêu xài. -Do đó, thân tâm thường bị «bạc đãi» một cách mù quáng, lắm khi dùng cả những phương tiện nguy hiểm, bất hợp pháp, vô nhân tính, phản đạo đức…để đạt mục tiêu giàu có…nhưng thấp hèn. -Rồi kết quả là không tránh khỏi bị xã hội phê phán, có thể rơi vào tù tội, hay ngược lại nếu qua mắt được nhân gian, thì trở thành trọc phú…và KHÔNG CÓ BÌNH AN thân tâm (santi citta natthi) !

-Như thế, làm chủ thật nhiều của cải mà chi, khi người ta chẳng thể mua được sự tự tại, không hưởng được phẩm cách nhân đức, -dù cho đã khôn khéo vung tiền “làm nhiều từ thiện” một cách khoe khoang, che đậy điểm xấu từ nội tâm, và nhất là không có sức khỏe tinh thần tốt vào tuổi già, để cuối cùng nhắm mắt trong âm thầm ân hận, hối tiếc những việc ác đã phạm ! (=KHỔ). -Chưa kể tài sản bất chánh để lại cho con cháu sau nầy, có thể trở thành tai họa ! -Vì chúng sẽ tranh giành, hãm hại nhau…-do không có gương lành của cha mẹ hướng dẫn chúng sống theo thiện pháp ! -VÔ PHÚC ĐỨC !

2-Vướng danh vị ảo (soṇḍatta, lolatta) : -“Danh vị” ở đây ám chỉ cái cảm giác có “tên tuổi”, có «địa vị», hay có “quyền lực”, mà «trên thực tế thì không chắc là hạng ấy !», -đồng thời chẳng ít thì nhiều bị xung quanh ngấm ngầm ganh tị, nhưng với bề ngoài xu nịnh ! -Theo Phật học, tất cả vốn là những hiện tượng tạm thời (aniccā) trong THỌ UẨN (vedanā khandha). -Ngay cả những kẻ có thực danh, thực vị, thực quyền… dù cho vững chắc, cũng dư biết rằng “mình đang đối diện với rất nhiều đối thủ, muốn tiêu diệt mình, để đoạt cái mình có !”. -Rồi họ cũng tự biết rằng, «lúc chết sẽ chẳng mang theo gì, và chỉ trở thành cái xác tồi tàn, hôi thúi, bất lực, ngay cả một con kiến cũng không sợ !». -Như vậy, “danh vị và quyền lực thế gian” hằng không xứng đáng với nỗi khổ nội tâm ấy,nó chẳng ban thưởng hạnh phúc lâu dài gì cho ai trong kiếp sống nầy, hay các kiếp sau !!!

3-Giấc ngủ bất an (duṭṭha niddā) : -“Giấc ngủ” là «phần thưởng quí báu nhất»đối với sinh vật nói chung, và con người nói riêng (trong cõi TẠO NGHIỆP). -Nó là đền bù tự nhiên của “VẬN HÀNH TỨ ĐẠI” (catu mahādhātu), thuận theo NGHIỆP QUẢ (kamma vipāka), lập thành thân tâm hay «ngũ uẩn» (pañcakhandha) nầy, xuyên qua 2 nguyên tắc ÂM (nisedhatthavācaka) và DƯƠNG (ekanta), hay ĐỘNG (viparivattana) và TĨNH (acala) xoay vần (vattati). -Khi GIẤC NGỦ BẤT AN thì thân thể suy nhược.

-Và do quả báo của nghiệp, mà giấc ngũ (=TĨNH) trong một thời gian cần thiết nào đó, đóng vai trò “tạo ra sự phục hồi”, để tiếp tục “năng lực sinh hoạt” (=ĐỘNG) đến mãn kiếp. -Mỗi phàm nhân còn tham sân si, thì trong giấc ngủ thường có nhiều yếu tố chuyên chở những ác mộng, thay vì trải qua một sự nghỉ ngơi an ổn. -Phật học tiết lộ, chỉ có Thánh nhân (ariya puggala), mới có giấc ngủ an lành (santuṭṭhī niddā). Vì các Ngài luôn luôn sống trong THIỀN (jhāna), thân tâm hằng thanh tịnh, SINH LỰC thường xuyên được quân bình !

-Chưa kể phàm nhân bình nhật…vừa mê ngủ vừa đi đôi”với tật ham ăn háu uống…càng khiến cho thân tâm gia tăng thói quen lười biếng ! Các nhà khoa học nhân thể đã công bố rằng “ngủ nhiều có thể trở thành mập phì”, rồi tăng cường tật ù-lì thụ động. -Còn đàn bà mang thai thì “ngủ nhiều có thể làm cho cả mẹ lẫn con tăng cân”, sau đó sinh nở khó khăn, lắm khi nguy hiểm đến tính mạng…cả hai !

4-Thích dùng sản phẩm làm sẵn (abhinipphādana sukarakata) : -Thức ăn hằng ngày (āhāra sabbadā) là nguồn dinh dưỡng nòng cốt cho sự sống. Nhưng lòng tham (lobha) cấu kết với tật lười biếng (kosajja), thường có khuynh hướng thích tiêu thụ những thực phẩm tạo sẵn (bán trên thị trường), bản thân không cần làm. -Đặc biệt là với mánh lới thương mại ngày nay, giới sản xuất đang tranh nhau làm cho đồ ăn thức uống “rất bắt mắt” và “hợp khẩu vị”, -do đó giới tiêu thụ không tránh khỏi tình trạng “hình thức thì tươi đẹp”, nhưng “phẩm chất thì đáng ngờ”, có thể “chứa độc” và làm nghiện” con người !?

-Tuy sự tiêu thụ vừa phải, thì không có gì đáng nói, nhưng TẬT say mê ăn uống (āhāra lolatta), hay mù quáng bổ dưỡng, vốn làm mất thăng bằng năng lượng, sinh ra các “bệnh lạ”, là một “tai họa sát thân” ! -Nếu người thợ săn thường dùng mồi ngon để lôi kéo con vật chui vào cạm bẩy, hay khiến chúng mê ăn, thiếu cảnh giác, để dễ dàng bị mất mạng…thì thương trường ẩm thực cũng có thể làm cho con người hư đốn thường xuyên bị đầu độc. -Lố bịch nhất là người ham ăn uống đồ ngon (khi ngồi chung cỗ), thường sợ kẻ khác dùng hết, vẫn vội vã nhai nuốt không kịp thở…còn có thể bị bệnh trúng thực, khi bao tử làm việc quá sức. -Sách y học cổ truyền Việt Nam không phải vô cớ, mà nêu ra câu nói “bệnh tùng khẩu nhập” !

<>Theo “khoa học lý hóa”, sinh tố (vitamine) trong thức ăn cộng với “dịch vị” (nước miếng = salive) trong miệng, mới có “khả năng dinh dưỡng tốt” cho cả thân tâm. -Người ăn uống nhanh quá thì việc “phối hợp vi biến” ấy không thể xảy ra đúng phép. -Kết quả chỉ có bao tử đơn phương làm việc, nên THÂN XÁC chưa chắc được gọi là “bồi bổ”, mà TÂM THỨC thì mất thăng bằng !

-Sách thiền trong nhà Phật dạy : “Người không ăn uống trong chánh niệm, thì lòng tham có thể biến thức ăn thành chất độc”. -Câu nầy liên quan đến sức khỏe cả thân lẫn tâm, và rất đáng ghi nhớ !

5-Mê sắc đẹp (rūpapema) : –Sắc đẹpđối tượng (ālambana) của tinh thần, (maṇo) thuộc về TÂM (citta), hay đúng hơn, sắc đepđối tượng của nhãn thức (cakkhu viññāna), tức là cái biết mỹ cảnh phát sinh ở con mắt, thuộc về THÂN (rūpakāya), nên chúng ta có thể qui nạp “sắc đẹp là đối tượng của cả THÂN lẫn TÂM”. -Với “óc mỹ thuật” (do hệ thần kinh nhân thể), con người có thể thưởng thức sắc đẹp bằng đôi mắt,hay bằng làn da (qua cảm xúc). -SẮC ĐẸP tự nó không thiện không ác, nhưng vì tham vọng (lobha) và si mê (moha) mà con người xem NÓ là “tốt” hay “xấu”. -Chẳng hạn như sắc đẹp thời thanh niên (nam hay nữ), thường được người đời trân trọng, như những đóa hoa. -Nhưng theo luật nghiệp quả (kamma vipāka niyama) trong nhà Phật, thì người có sắc đẹp là nhờ kiếp trước khéo tu, -kiếp nầy nên tiếp tục sống thiện, để kiếp sau xinh tươi nữa ! -Còn trong tư tưởng hưởng thụ đầy dục vọng vô minh, lại cho rằng, người có sắc đẹp chỉ là may mắn lý hóa (ngẫu nhiên), kiếp nầy nên «tận hưởng khoái lạckẻo lãng phí», -và nó sẽ đưa đến hậu quả sa đọa !

*Nhưng khi đi sâu vào thiền học chúng ta cũng thấy, một thân thể bất kỳ nào (xấu hay đẹp) vẫn là chỗ chứa của những THÀNH PHẦN hợp tan lý hóa (vô thường), mà nhà Phật gọi là “32 thể trược”, gồm 1/tóc, 2/lông, 3/móng, 4/răng, 5/da, 6/thịt, 7/gân, 8/xương, 9/tủy, 10/thận, 11/tim, 12/gan, 13/lá lách, 14/màng nhún, 15/phổi, 16/óc, 17/ruột già, 18/ruột non, 19/dạ dày, 20/phân, 21/mật, 22/đàm, 23/mủ, 24/máu, 25/mồ hôi, 26/mỡ, 27/nước mắt, 28/sụn, 29/nước miếng, 30/nhớt, 31/chất dính, 32/nước tiểu.

<>Thói thường phàm tình, khi một sợi tóc của người khác bay vào tô canh, thì ta chẳng những ghét nó (dơ, xấu), mà còn gớm giếc luôn cả tô canh, muốn lập tức đem đổ. Nhưng nếu sợi tóc ấy là của ta, thì ta vớt nó ra và dùng tô canh một cách tự nhiên. -Nêu thí dụ sợi tóc trong một tô canh cho nó “hiền đi” đôi chút, mà cảnh tượng còn như thế. Huống chi nếu đó là một chiếc răng giả từ miệng ai đó…rơi vào đĩa đồ ăn, thì “phản ứng bức xúc” của con người sẽ rất nghịch cảm, mạnh hơn như thế nào ?! Nghĩa là ta chỉ “dị ứng” (hay ghét) vật gì từ thân thể người khác, cho dù họ có đời sống văn minh, vệ sinh cao hơn ta, và “biện hộ” cho cái tương tự…tách ra từ thân ta, dù cho ta biết ta không có điều kiện sạch sẽ bằng họ.

-Rồi “phong tục chung” vẫn ấn định rằng, «tóc trên đầu là sắc đẹp, răng trong miệng là nét tươi»…nên ai cũng thích thú, chải chuốc, làm cho tóc càng “đen”, răng càng “trắng”…và tin là TỐT. -Tuy ngôn ngữ “thẩm mỹ” lịch sự gọi “mái tóc là góc con người”, -gọi “hàm răng là những hạt ngà trang trí cửa miệng”, để khuyến khích nếp sống «nghèo cho sạch, rách cho thơm». -Nhưng với lòng tham, khi các thứ ấy rời xa thân thể, thì liền bị con người phân biệt, đánh giá, và hất hủi…trở thành “nạn vật” của “ghét” lẫn “thương” ! 

*Trước sự “đối xử đa chiều” với mái tóc lẫn hàm răng như thế, khoa học và Phật giáo có 2 “kiến giải” khác nhau. -Khoa học đại khái cho rằng “sợi tócdính trên thân thì không độc vì CÒN SỐNG. Còn “sợi tóclìa thân thì độc vì ĐÃ CHẾT” (=tư duy theo quan niệm VẬT CHẤT). -Và dựa trên “phép vệ sinh” (phổ thông), thì Phật giáo hoàn toàn đồng ý điều nầy, nhưng phẩm cách giác ngộ của đạo Phật còn hướng dẫn sâu xa hơn, rằng “vạn vật xuyên qua 4 giai đoạn sinh-trụ-dị-diệt, vốn vẫn là trung tính (vô thưởng, vô phạt), nhưng do tham sân si trong phàm nhân, mà nó trở thành tốt hay xấu (“đáng yêu” hay “đáng ghét”), ảnh hưởng tiêu cực hoặc tích cực đến cả thân lẫn tâm (=liên quan đến THỂ XÁC và TINH THẦN).   

<>Theo đạo Phật, rất khó cho một phàm nhân thấy rõ được vật gì, đúng mặt thật của nó. -Ở đây, con mắt thuộc về THÂN, và cũng là chỗ nương tựa của nhãn thức (thuộc về TÂM). Trong một phàm nhân, cả 2 phương diện thântâm (=con mắt và nhãn thức), đều bị tràn ngập bởi tình cảm thương ghét (do tham sân si trong ý thức gây ra), tại 3 địa điểm ngẫu nhiên nhưng vì vô thường…mà lập thành “các phê phán” khác nhau : –một là sợi tóc trên đầu (=đẹp, tốt), –hai là sợi tóc dưới đất (=dửng dưng, trung tính), và –ba là sợi tóc nằm trong tô canh (=xấu, dơ). (-Tất nhiên, ở đây chỉ mô tả sự lầm lạc tâm lý, chứ không có mục đích vượt qua vi trùng lẫn vi khuẩn học !). 

*Vì VÔ MINH (=avijjā, si mê=moha) mà con người có thái độ phàm tục, tư duy chủ quan, nhận thức méo mó, quan niệm thiên lệch…“dành cho” mái tóc trên đầu…và dành cho hàm tăng trong miệng…như thế nào…thì đối với các thành phần khác…cũng một cách tương tự…! -Rồi móng tay, rồi làn da, rồi nước miếng, rồi máu mủ, rồi thịt xương…v…v…!

-Tất cả có thể trở thành «vật liệu» để tham sân si chế biến, làm cho ý thức vẩn đục, tạo ra cảm giác phàm tình, và cố chấp…qui cho tính tiêu cực, phản sự thật…nên Phật giáo tạm gọi ấy là 32 thành phần ô-trược trong mỗi “thân tâm còn chứa tham sân si. -Nhưng đối với một Bậc Giác Ngộ, thì 32 thứ ấy vẫn như mọi thứ khác, trung tính !

<>Theo Vi Diệu Pháp (Abhidhamma), Tâm THAM (lobhacitta) khi phát ra hành động (kamma) thì có tất cả 8 LOẠI, được thành lậpbởi phối hợp với “3 cặp cảm giác chủ quan” (ākulīkata-vedanā), là :

 1/hoan hỷ (somana) hay dửng dung (upekkhā)*,

2/thấy sai (miccha diṭṭhi) hay thấy đúng (sammā diṭṭhi)*,

3/vô trợ (asaṅkhārika) hay hữu trợ (sasaṅkhārika)*.

Xin lưu ý :

//*“hoan hỷ” hay “dửng dưng” còn gọi là “hỷ” hoặc “xả”,

//*“thấy saihaythấy đúng” gọi là “tà kiếnhaychánh kiến”,

//*“vô trợ” hay “hữu trợ” còn gọi là “thuận duyên hay “nghịch duyên” (tức là có xúi dục hay không xúi dục, -chẳng tự động làm).

<>Từ đó, chúng ta có 8 mẫu tâm,luôn luôn bịNHÂN THAM (lobha hetu) “nhập vào” (phức hợp), biến thành “tâm tham phàm phu” (puthujjana lobhacitta), trong khi tạo nghiệp là :

a/1 tâm hoan hỷ hợp TÀ KIẾN, hành động ngay, không xúi dục.     1

a’/1 tâm hoan hỷ hợp TÀ KIẾN, hành động do dự, chờ xúi dục.      2

b/1 tâm hoan hỷ lyTÀ KIẾN, hành động ngay, không xúi dục.      3

b’/1 tâm hoan hỷ ly TÀ KIẾN, hành động do dự, chờ xúi dục.      4       

c/1 tâm dửng dưng, hợp TÀ KIẾN, hành động ngay, không xúi dục.5

c’/1 tâm dửng dưng, hợp TÀ KIẾN, hành động do dự, chờ xúi dục.6  

d/1 tâm dửng dưng, lyTÀ KIẾN, hành động ngay, không xúi dục. 7

d’/1 tâm dửng dưng, lyTÀ KIẾN, hành động do dự, chờ xúi dục.  8

(Phụ chú mở rộng : “TÀ KIẾN” theo Phật học là không dựa trên luật nhân quả, nhưng với “trí thức bẩm sinh”, người ta cũng có thể hiểu là thiếu sáng suốt, không hợp lý, phản khoa học !).  

<>Ngoại trừ Đức Phật (buddha) hay chư thánh, nhất là bậc A-la-hán (arahatta), có TÂM TINH KHIẾT. -Nhưng một người phàm muốn tránh quả báocủa ác nghiệp, thì khi lòng tham nổi lên, họ phải cố gắng tu tập để giảm thiểu tật ham muốn (=dục vọng), -tức là “tham muốn ít lại”, và cần làm cho đức tính tri túc phát sinh. (-Chúng tôi dùng nhóm từ “ham muốn ít lại” cho “thuận đề”, -vì “dứt hẳn tham muốn đã trở thành Thánh nhân rồi”, -nêu ra ở đây là thừa !).  

-Một “Hiền Nhân” (Ariya puggala) thì luôn luôn tươi tỉnh, cần vật dụng tối thiểu, hài lòng với nếp sống giản dị, tích cực hành động cao thượng, và gìn giữ thiền tâm, an trú vững chắc trong thanh tịnh, nên thân tâm thường xuyên có hạnh phúc, không cảm thấy thiếu thốn. -Nghĩa là, NGƯỜI ẤY đã chiến thắng khát vọng, trở thành bậc đại thiện, hay Bậc VÔ THAM, giải thoát (alobha puggala, nibbāna) !

<>SÂN (dosa) là gì ?! -Sân là không hài lòng. -Sách Abhidhamma (=Vi diệu Pháp) của “Phật Giáo Nam Truyền” (=Theravāda) còn ghi “trạng thái xấu ấy của tinh thần” là “DOMAṆA” (=bức xúc). -Theo Pāḷī, tiếng nói mà Phật Thích-ca (Sakya buddha) dùng giảng pháp ngày xưa, thì chữ “domaṇa” được thành lập bởi 2 “ngữ căn”, là “du” và “maṇa”. -“DU” có nghĩa là “nóng nảy”, “bức xúc”, hay “xung đột”, “khó chịu”. -Nói tổng quát “DU” là “XẤU” (hay bất thiện = akusala). -“MAṆA” dịch theo qui ước là “tinh thần”, “tâm thức”, “linh hồn” “điện trường”, hay «tánh» cũng được !  

-Kết hợp “DU” và “MAṆA” thành “DUMAṆA”, hay “để làm dịu âm thanh” (theo văn phạm) thì đọc là “DOMAṆA”, ám chỉ trạng thái tinh thần xấu (=bất an), gọi tắt là “DOSA”, tạm dịch ra hán-việt là “SÂN” (=giận). -Và khoa “Phân Tâm Học” Tây phương (psycho-analysis occidental) cũng xếp loại “tình trạng tinh thần” nầy là “phản cảm tiêu cực” (émotion négative). -Tóm lại, khi chúng ta bất bình (domaṇa) với bất cứ đối tượng gì, chúng ta liền tự cảm thấy tổn thương, và ĐÓ là phản ứng mất thăng bằng của SÂN (dosa).

*Đức Phật đã phân tích và cảnh báo, chỉ rõ :

“-Nầy chư tỳ-kheo, khi xảy ra XUNG ĐỘT thì cả 2 phía (trong cuộc) đều KHÔNG HÀI LÒNG (chìm trong thiêu đốt). –Bên nầy liền muốn bên kia chịu đựng KHỔ, gặp thất bại thật nhiều, để phải lép vế, “khuất phục trước mình” (tràn ngập tham ác). “-Trí căn mỗi bên bị vô minh che áng, không thấy rõ chính mình đang chịu dày vò, chỉ phản ứng trả thù !” (khói oán giận phủ kín trí căn). -Nầy chư tỳ-kheo, “VÔ MINHduyên khởi gây ra tranh tụng, kéo dài tranh tụng, và bức xúc tràn ngập tinh thần, làm u-ám tâm thức con người !».

(-Mô tả chiếu theo bản dịch Anh ngữ «Book of The Seven”, chương VI, đoạn 10, mục nóng giận). 

<>Theo Phật giáo, tật sân hận (dosāsava) là khuyết điểm rất xấu của tinh thần. -Nó hằng làm cho tâm thức phàm nhân trở nên tối tăm, suy nghĩ một chiều (chủ quan) rằng, “tất cả tổn thương TÂM LÝ trong ta,là do đối phương gây ra”. Chẳng khác nào nói, “kẻ thù vừa bắt ta há miệng để bỏ sự bất bình vào thân”, -như trong VẬT LÝ vậy?! -Phật giáo tuy có nhìn nhận “thể xác và tinh thần có ảnh hưởng lẫn nhau”, nhưng phản ứng của thể xác thuộc về nghiệp BẢN NĂNG (sahaja kamma), nặng về sắc pháp (rūpa dhamma). Còn phản ứng của tinh thần thuộc về nghiệp TÂM THỨC (viññāna kamma), nặng về danh pháp (nāma dhammā). -Và khi tri thức bị vô minh che kín, thì nó cũng phản ứng như bản năng !

-Ví dụ, có một cú đập mạnh lên đầu thật đau, không biết bởi vật gì, thì phản ứng bất bình tất nhiên do bản năng (tự động vật lý). Nhưng khi biết rõ đó là khúc cây khô từ cành trên cao (do gió đẩy) rơi trúng, mà vẫn còn tức giận…thì ấy là phản ứng thiếu tri lý, do VÔ MINH (avijjā) gây ra, gọi là “thức nghiệp” (maṇo kamma). -Ví như một lời nói (hay một thiệt thòi xã hội nào đó) làm cho con người hờn giận khôn nguôi, là phản ứng của tinh thần trong vô minh, mất sáng suốt.

-Và trong đời sống hằng ngày, khó tránh khỏi sự cạnh tranh, hầu hết chúng ta đều không ít thì nhiều biết rằng, “hành động tự vệ” khi đối đầu với kẻ thù, hay gặp nghịch cảnh phải vượt qua, nếu chúng ta nhờ lý tríđể giải quyết thì có hiệu quả tốt, NHIỀU HƠN là nhờ bản năng. -Đây là kiến thức thực dụng, không cần phải “học Phật” mới biết !

-Nói chung, “cái xấu cụ thể, dễ thấy nhất” của phản ứng SÂN HẬNdo cả 2 loại bản năng (THÂN và TÂM) gây ra, vẫn là gương mặt nhăn nhó, căng thẳng,tràn ngập bức xúc, mất hết tự nhiên…! Nhưng tình trạng biểu lộ của GIẬN do loại “bản năng thứ nhất” (thân=vật lý) thì ngắn hạn, so với tình trạng ngấm ngầm của GIẬN do loại “bản năng thứ hai” (tinh thần=tâm lý), biến thành OÁN GHÉT…vẫn phát nguồn từ NHÂN THAM, thì đầy trá hình kéo dài rất lâu, có khi cả đời ! Đó là tình trạng toàn tâm đương sự thường xuyên bị nhận chìm (ogha) trong cảm giác đố kỵ, bất mãn (dosa=>paṭigha) đối với một đối tượng nào đó…có thể làm “nổ tung lý trí” trong hệ thống thần kinh, tức là phá hoại “phần sắc tế” (sukhuma rūpa), đóng vai “giòng điện kết nối” giữa THÂN và TÂM. –Hiện tượng điên loạn hay hành động tự sát nơi một người…vốn phát sinh từ ấy !  

-Và trình bày tổng quát theo Vi Diệu Pháp (Abhidhamma), thì trạng thái bất thiện đó được biểu lộ bằng “2 mẫu tâm đi đôi” (trong CỘNG NGHIỆP) do vô minh (avijjā) và tham (lobha, raga) ảnh hưởng, là :

1-Một tâm bị hờn giận thúc đẩy(dosa=>paṭigha), tự động phát ra nghiệp ác (=trả thù), không cần trợ duyên.

2-Một tâm bị hờn giận thúc đẩy (dosa=>paṭigha), muốn phát ra nghiệp ác (=trả thù), mà do dự, chờ trợ duyên thúc đẩy.

<>Lưu ý, “CỘNG NGHIỆP” (gaṇībhūta saṅkhārā) thỉnh thoảng được nêu ra trong loạt phát biểu nầy, chính là sự tương tác của CẢNH DUYÊN (ālambana paccaya), hay cái “KHUNG HÀNH ĐỘNG” (kamma niyama), lúc nào cũng bao gồm chẳng hữu trợ (sasaṅkhārā) thì vô trợ (asaṅkhārā), chứ không thể nào khác…trong cõi phàm !

<>Nhà Phật chỉ rõ qua VI DIỆU PHÁP (abhidhamma) rằng, nguyên nhân (hetu) của hờn giận (dosa=>paṭigha), là “tật tham tiền khiên” (từ vô lượng quá khứ) chấp vào thân tâm phù du (aniccā) nầy, hay ôm chặt “cái ta”, và “cái của ta” (atta, atma) tạm thời. -THAM (lobha=>rāga) chính là “động cơ” của SÂN, có áp lực của VÔ MINH “tràn ngập khi tạo nghiệp” trong mỗi kẻ phàm phu, -lúc thì nó biểu lộ mặt mày đỏ gay, lời nói bạo động, chói tai, -lúc thì nó tỏ ra ngoại diện lầm lì, rắn lại, phát ngôn chậm chạp, chua chát, khó hiểu (chứa đựng nhiều ác tâm, đầy nham hiểm !

-Nghĩa là phàm tâm trên thế gian, luôn luôn bị tham lamvô minh đóng khung, biến thành “chuyên viên cố chấp”,có thể diễn tả tổng quát, bằng vài câu nói ngụy trang hiếu hòa “phân bua”, chẳng hạn như “-tôi”chẳng bao giờ xía vô chuyện người khác, khi bọn họ phê phán, đả kích, nhục mạ lẫn nhau…nhưng tôi” sẽ không tha thứ và phản ứng đến cùng, nếu ai xúc phạm đến “tôi” và người thân “của tôi !”

*Chưa kể LÒNG THAM (lobha) cũng “tinh ranh không kém”, nó sợ “biểu lộ cái xấu” (=SÂN HẬN) sẽ mất cảm tình xung quanh, nên lắm khi tự “dịu đi”, với lời lẽ có vẻ “hợp lý” “nhẹ nhàng” hơn, -tiêu biểu như câu nói “tôi làm vậy chỉ để tự vệ”!(?). -Sự “phân bua” nầy chẳng chuyên chở ý nghĩa gì ôn hòa cả ! -Vì câu nói tiếp theo rằng, “tôi không muốn chống lại ai…nhưng khi bị liên hệ thì phải tự vệ”…v…v…-Tất cả những lời lẽ với chữ “NHƯNG” ấy, tự nó thú nhận rằng “tôi vẫn vọng tâm đến khen chê của người khác”. Và “người khác” ở đây đương nhiên ám chỉ “bạn bè”, “thân quyến”, chứa ít nhiều “thương ghét” (chủ quan) của tôi !

<>Tình trạng tham lam càng sâu, cố chấp càng cao, thì ngã mạn càng tăng. Cả 3 đồng loạt tương tác, củng cố, phản ứng. -Nhất là lòng tham trong va chạm xã hội, do đó càng vận chuyển nhiều vòng, xoaychiều, để dẫn đếntình trạng, hễ bên nầy tung ra phê phán, chỉ trích, kết tội bên kia gay gắt bao nhiêu, thì “độ mạnh” của SÂN HẬN từ bên kia cũng gia tăng hung hãn ngang tầm bấy nhiêu, hay nhiều hơn nữa, chứ không thể giảm !

*Hai câu “lấy OÁN báo oán, oán sẽ chất chồng, lấy ÂN báo oán oán sẽ tiêu tanlà đôi châm ngôn rất ý nghĩa trong trường hợp nầy !

<>Phật học cho rằng, thế gian vừa rắc rối, do tham sân si (cố chấp), vừa giản dị, nhờ hỷ xả (buông bỏ) !-Đây quả thật là “cảnh mê hồn trận khó thoát, nhưng bậc giác ngộ vẫn có thể vô ra dễ dàng”, là như vậy !-Do đó, hằng ngày “người tin Phật” phải cố gắng rèn luyện, để vượt qua chính mình, đạt được tối đa thanh tịnh, hầu trước tiên có những giây phút HỶ XẢ vô tham (alobha) và vô sân (adosa). -Còn vô si (amoha) thì hơi khó, vì ĐÓ chính là “kết quả” của THUẦN THỤC pháp THIỀN (bhāvanā), -do trong khi hành THIỀN thì thamsân, 2 vũ khí đắc lực của tật si, không có dịp phát sinh. -SI trở thành tê liệt !

-Khi tính nóng giận không được khắc phục, thì nó sẽ làm cho thân xác rối loạn, tâm thức tối tăm, -đang sống thì “nạn nhân” chịu nhiều bệnh hoạn, -lúc chết thì tiếp tục rơi vào những vòng mắc dính (ân oán, ghét thương), động cơ của sinh tử luân hồi bất tận. -Và THIỀN (bhāvanā) chính là phương pháp “bình định” THAM SÂN SI hữu hiệu nhất ! -Người không tức giận thì tinh thần tự nhiên trong sáng (một cách minh triết), phong cách tự tại (santiṭṭhī), tuệ căn (paññiṅdriya) thường xuyên biểu lộ, phát triển. -Đó là “đất lành” để hoa BÁT-NHÃ pañña puppha) hay hoa VÔ SI (amoha puppha) nở vậy !  

*Các nhà khoa học nhân thể cũng tiết lộ rằng, sự nóng giận chẳng những gây tổn thương các bộ phận (tim, gan, tỳ, phế, thận) trong thân người, mà NÓ còn làm phát sinh các bịnh hoạn tinh thần, như bức xúc, ngu muội, chậm tiến, cuồng vọng, ganh tị, hẹp hòi, cực đoan… Và “thống kê văn hóa” của Tổ Chức Sức Khỏe Thế Giới (WHO), xuyên qua khoa học nhân thể…cũng khám phá, kiểm chứng, và xác nhận “các hiện tượng suy đồi tâm lý” như thế.

<>Sau cùng nói một cách minh bạch, SI (moha) là gì ?! -Trước tiên, xin đừng hiểu lầm «SI» trong cái nghĩa phàm tục, là «ngu dốt, chậm tiến, thiếu khôn ngoan, lạc hậu, hay đần độn…». -Vì thực tế ngày nay, các nhà bác học đã biết cả cách sáng chế phi thuyền lên đến mặt trăng, các dụng cụ khắc phục được khá nhiều hạn chế do trọng lực gây ra trên mặt đất. -Một “tiến bộ lý hóa” rất tinh vi, hiển nhiên có thể dựa vào đó để “phủ nhận” thuyết vô minh trong Phật giáo !(?)

*Thế dựa vào đâu Phật lại cho rằng con người VẪN CÒN SI MÊ, “vô minh” ?!. -Và vấn đề “diễn dịch kinh điển” ở đây đóng một vai trò rất then chốt, trong việc nghiên cứu lời Phật dạy. -“NỘI DUNG” danh từ “SI” (moha) trong trường hợp nầy, cần được soi sáng một cách sâu sắc lẫn có kỹ thuật sư phạm.

<>Chữ Pāḷī «MOHA», tuy được tạm dịch ra ngôn ngữ bình dân, có vẻ “hán việt” là «SI», nhưng nghĩa gốc của nó trong Pāḷī, tiếng nói mà Đức Phật dùng giảng Pháp ngày xưa…thì “khác”. -NÓ (=moha) diễn tả tình trạng «chẳng biết rõ chính mình ở thực tại» (aviññāta), hay «THÂN đang sống trong thay đổi không ngừng, mà nhân sinh chẳng thường xuyên ý thức được, nên cứ tưởng là chưa biến, còn bền vững» (=nguyên vẹn). -Nói cách khác, SI (moha) là môi trường hay sân nhàthường trựctích cực nhất”, để lòng THAM (=ôm ấp) rồi “chế tác” ra tất cả những giấc mộng !

*Và không chỉ theo giáo lý nhà Phật, mà căn cứ trên khoa học cũng thế, hễ có BIẾN HÓA thì phải có ĐÀO THẢI. Và phàm nhân (=người còn vô minh) thì không bao giờ chấp nhận sự đào thải như cái sự thật “chắc chắn” của biến hóa, nên tâm tư luôn luôn vọng động, thường xuyên ảo tưởng, ôm chặt cảnh vật, chẳng suy nghĩ “một cách đồng ý” hay “thuận chiều” với TIẾN TRÌNH TỰ NHIÊN sinh lão bệnh tử (=thành, trụ, hoại, không), trong thể xác cũng như trong tinh thần, mà vẫn cho là “ta đang và sẽ trường tồn”.

-Từ đó, người ta KHÓnhận ra “chất bổ nuôi dưỡng sự bất mãn là tật SI” (moha). -Nhà Phật nói “phàm nhân luôn luôn si mê” quả thật là vì “lý do” nầy…và xem ra không quá đáng ! -Chưa kể SI (moha) cũng có nghĩa là “không biết”! -Ví như khi “phàm nhân” vốn bị nhốt trong “4 bức tường” (TỨ ĐẠI), thì họ khó biết được bên ngoài có gì ?! -Ngụ ý ở đây ám chỉ, phàm nhân là “thức uẩn” đangbị nhận chìm trong 4 uẩn còn lại, là “sắc-thọ-tưởng-hành”, chỉ tiếp xúc với trần gian xuyên qua 5 giác quan (vô thường), thì phàm nhân ấy (hay ngũ uẩn) có thể “biết” được gì vượt trên tứ đại ?!

<>Theo Phật học, cái “THÔ TƯỚNG” (olārika-lakkhaṇa) của SI (moha) lộ ra bên ngoài…là “buồn chán”, một trạng thái tiêu cực “che mờ các nét thật” trong chiều sâu của vạn vật. -Hay gọi “SI” là mặt nổi của vô minh (avijjā), rồi kết quả là phát ra hành động thấp hèn, luôn luôn phiêu lưu, lẫn lộn. -Nói cách khác, SI (moha) cũng là không tỉnh thức để được Ở NGOÀI gọng kềm của LÒNG THAM với khói nhiều màu VÔ MINH (moha, avijjā), -Chúng là vật liệu chính tạo ra tất cả nghiệp xấu tốt lẫn lộn (thực tế thì xấu nhiều hơn tốt), giao thoa thành vận hành duyên khởi, nguồn gốc của sinh tử luân hồi !

-Nghĩa là, SI còn thì còn SINH TỬ còn. -Mỗi lần tái sinh là một lần «phải đối diện» với «3 giai đoạn tiếp theo là lão, bệnh, tử, một cách VÔ MINH, mà phàm tâm KHÔNG BIẾT phải làm sao, để giảm thiểu lầm lạc, bế tắc, xung đột, tội lỗi, sa đọa, chịu đựng đau khổ.

<>Vì SI (moha) hay VÔ MINH (avijjā), mà con người hoàn toàn không biết rằng, “sự sống hiện tại chỉ là cấu kết tạm thời của 5 tập khí (hay NGŨ UẨN gồm sắc, thọ, tưởng, hành, và thức), dưới dạng kết hợp của “đất”, “nước”, “lửa”, “khí” (TỨ ĐẠI), “đang cũ dần, để chắc chắn sinh diệt”. Và THAM-SÂN-SI (lobha, dosa, moha) cố hữu trong mỗi con người đã làm cho thức tánh trở thành “huyền ảo”, không ngừng DỰNG LÊN “giả ngã”, hayngũ uẩn mới”, rồi cứ thế…tiếp tục trong sự chế biến “2 sản phẩm tinh quái” là xan tham (raga) và say mê hưởng thụ vật chất (kāmesu kāmasukhallikānuyogo) một cách sa đọa (hīno gammo pothujjaniko), cung phụng cho “cái ta” (atta, attano) vốn cũng chẳng nằm ngoài luật THÀNH TRỤ HOẠI KHÔNG (aniccā niyama), -mà con người cứ tưởng là “văn minh cõi phàm giúp nó trường cửu”!

-Nguy hiểm nhất là tật SI (moha), đồng nghĩa với VÔ MINH (avijjā), luôn luôn làm cho tâm trí con người khó an định nơi một đối tượng lành mạnh. -Sự chi phối của NÓ chẳng những luôn luôn làm cho thể xác buồn ngủ, dã dượi, mà còn “gây tán loạn tinh thần”, như phiêu lưu, phóng đãng, vọng động, xuôi chiều với xan tham, để…say mê những trần cảnh có đặc tính “vuốt ve”, thuận hợp với lười biếng, trì trệ, ma quái, bồng bềnh..! -Nhưng sự rắc rối muôn đời trong luân hồi (saṃsāra), vẫn là “ngũ uẩn nào cũng vừa cũ vừa mới”.

-“CŨ” là do “kiếp xưa” mà ra. -“MỚI” vì không phải là “thức tánh CŨ”! -Ngoại trừ Phật hay THÁNH NHÂN (ariya puggala), người phàm (puthujjana) khó có thể xác nhận được, cái hiện tại tạm gọi là “tinh thần” hay “tâm linh” (maṇo), sẽ vĩnh cửu hay không vĩnh cửu !

<>Về vấn đề nầy, tiếng Pāḷī trong Phật học có câu “NA CA SO NA CA AÑÑO”. Nghĩa là “tinh thần kiếp nầy không giống, cũng không khác với tinh thần kiếp trước”. -Ngay cả trên phương diện cụ thể (khoa học), như cây cối, dây leo, thảo dã…với sự vận hành để tồn tại, xuyên qua chu kỳ “nhânquả” hay “hạt trái”… tuy có liên hệ di truyền, nhưng cấu kết hương vị của chúng, còn bị CẢNH DUYÊN (đất, nước, phân bón, ánh sáng, và thời tiết…v…v..) làm cho biến đổi nhiều hay ít, -để chúng KHÔNG CÒN tuyệt đối giống nhau nữa thay…huống chi là động vật có “thức tánh”, nhất là con người (và một số loài sống gần nhân loại) thì cái “thức tánh” ấy “rất biến dịch, bất định”. Nghĩa là, TINH THẦN đến từ kiếp trước, nhưng không phải là cái LINH HỒN của kiếp trước ! -“Bản sắc khoa học” (siêu thoát) nầy của Đạo Phật, thậm thâm hơn triết lý nhân gian rất xa !

-Từ đó, phàm phu luận về linh hồn trường cửu (sassata maṇo) là một ĐIỀU viễn vong. Ví như người ta đi tìm “nguồn gốc” của vô minh…thì không bao giờ đạt tới. -Lý do ?! -Vì vô minh (avijjā) vừa là QUẢ (vipāka) vừa là NHÂN (hetu) của THAM (lobha) và SÂN (dosa). -Hễ có hỗn hợp thân tâm phàm tục (nāma rūpa pothujjhanaka khandha) do NGHỆP LUÂN HỒI (saṃsāra kamma) tạo ra, thì VÔ MINH tự động phát sinh. Nhưng khi thamsân được THIỆN PHÁP (kusala dhammā) “vô hiệu hóa”, thì vô minh tự động triệt tiêu (như bóng tối trước cây đèn).

*Và TRÍ BÁT-NHÃ (paññā) đồng thời biểu lộ, soi sáng…cho đến khi “tâm linh biết rõ” mặt thật của chính mình (ở cả 3 cõi dục giới, sắc giới, và vô sắc giới), rồi hóa giải toàn bộ phiền não (=diệt tận tham sân si), là TOÀN GIÁC (sammā-sambuddha), là được giải thoát (nibbana) ! -Đây cũng là lý do mà kinh Phật xác nhận “VÔ MINH hay SI (avijjā, moha) chỉ có thể triệt tiêu kể từ Phẩm thánh A-la-hán đạo trở lên(-nhờ biết rõmặt thật chính mình = VÔ NGÃ, dứt luân hồi )” !

-Vậy cụ thể THIỆN PHÁP (kusala dhamma)là gì ?!

<>Nói một cách dễ hiểu, Thiện Phápnhững lời hướng dẫn lành mạnh (sobhana bhāsana) của Bậc Giác Ngộ (Phật), đã cống hiến cho nhân loại. «Lời lành» (sobhaṇa désitaṃ) ấy phải được thực hànhvới tâm tư tỉnh thức, mới gọi là thiện pháp. -Nếu «lời lành» ấy chỉ để lập lại suông, không tự mình áp dụng đầy đủ và trải nghiệm tiến hóa, bình an thì chưa phải là thiện pháp, -ngược lại không khéo nó còn trở thành «ác pháp» là đàng khác, -vì chỉ dùng để LÝ THUYẾT, làm cho người khác “tin mù” và “thèm khát” (ngưỡng mộ) như 1 phẩm cách cao thượngqua tưởng tượng ! 

-Nhưng khi đã thực hành đầy đủ, thì hiệu lực của thiện pháp (kusala dhamma) sẽ làm cho thân, khẩu ý trong mỗi cá nhân tu Phật, giảm thiểuTHAM SÂN SI, rồi chấm dứt các nghiệp ác trong 3 nơi liên hệ, -xin kê khai rõ, là THÂN (1/không sát sinh, 2/không trộm cắp, 3/không tà dâm), –KHẨU (1/không nói dối, 2/không đâm thọc, 3/không nói hoang đường, vô ích (mê tín, phù phiếm), 4/không nói thô lỗ, dâm tục, –Ý (1/không tham, 2/không sân, và 3/không si). Tổng cộng 3+4+3=10. -Phật học gọi là 10 pháp lành ngăn ngừa oan trái !

*Người tin Phật và tu tập tại gia, hằng ngày không làm 10 điều xấu nầy, là THỰC HÀNH THẬP THIỆN (dasa kusala-kamma dhammā), đồng nghĩa với CÁ NHÂN tiến hóa bằng TRÌ GIỚI (Sīla). Nhưng sống trong một xã hội hướng thiện, thì TRÌ GIỚI ấy còn bao gồm “cộng đồng”, là 1/chính mình không làm 10 điều ác, 2/không bảo kẻ khác làm 10 điều ác, và 3/không đồng lõa với kẻ làm 10 điều ác, nên tổng số THIỆN PHÁP TRÌ GIỚI là 30 điều lành, hay tam thập thiện.

*Chẳng riêng nhà Phật mà “khoa học xã hội” cũng xem giới hạnh (hay kỷ luật) là nền tảng của ổn định tâm lý (ceto upasamā), -rất cần thiết cho sự an trụ tinh thần (cetosamatha, ekaggatā), để thực hiện bất cứ điều gì lành mạnh. -Còn trong nhà Phật thì gọi sự trụ vững tinh thầnđịnh tĩnh (jhāna), hay kết quả của phương pháp “hội tụ tâm linh” có chiều sâu vô cùng kỳ diệu, gọi là THIỀN (jhāna bhāvanā)… mà ngôn ngữ qui ước của loài người không thể nào diễn tả hết được ! -Sách Phật học đã hằng có câu “giới năng sinh ĐỊNH và ĐỊNH năng sinh tuệ” ám chỉ cốt lõi của phẩm cách nầy !

-Xa hơn nữa, người học Phật cũng biết rằng, VÔ MINH (avijjā) với tướng trạng SI MÊ (moha lakkhaṇa=obscurantisme), là nguồn gốc (pabhava, nidāna) của tham, sân, si (lobha, dosa, moha). Nó là chướng ngại (nivārana) khó vượt qua nhất trong sự tiến hóa. -VÔ MINH (avijjā=ignorance) luôn luôn bịt kín lối thoát cảnh sinh tử luân hồi (saṃsāra), chứa đầy hiện tượng lừa gạt bằng ảo ảnh tạm bợ, làm cho hầu hết “động tử” (sinh linh) đều say mê, lăn trôi suốt muôn vạn vòng lẩn quẩn, và bị chìm đắm trong khổ não triền miên…!  

Để đối trị một cách hiệu quả với tình trạng sa đọa bất tận ấy (anak-khayagamanīya parihāni), theo Phật giáo và khoa học (vijjā=anh minh) chỉ có khai trí (ñānaṃ udapādi) và đạt bát-nhã (Pañña udapādi = biết không lầm lạc) mới hóa giải được VÔ MINH (avijjā) mà thôi. 

Bốn SẢN PHẨM “ma quái” của SI MÊ :

<>Thứ nhất là ÍCH KỶ (issa). -Trong TÌNH YÊU (pema) giữa nam nữ nói riêng, hay giữa những người thân nói chung, người ta thường bị tính ích kỷ (issa) làm cho đui mù tâm thức, không thấy rõ thực tại. -Sự ích kỷ chính là «tiền hành» (pubbaṅgamatā) của tật ghen tỵ (macchariya), -ấy là «sản phẩm song sinh ma quái» (yamaka amanussa uppannavatthu=pema) của SI MÊ (moha). -Một người không may vướng lưới tình (anugārī jāla) cũng vậy. Nghĩa là, kết quả thuận của được yêu (piyehi) là ghen ghét (issā- macchariya), -còn kết quả nghịch (amānāpa vipāka)của bị phản bội (appiyehi) là bạo động (hiṃsa). Cả haiđều đẩy con người vào tình trạng ngu muội, tối tăm, tâm thức mất thăng bằng, cảm giác chìm sâu vào bế tắc, nhiều khi đến mức tuyệt vọng, có thể giết người, và tự kết thúc mạng mình !  

<>Thứ hai là TỰ CAO (māna). -Khi một cá nhân trở nên giàu có, thì cách thức đối xử với xung quanh thay đổi. -Tật tự cao (còn gọi là «NGÃ MẠNG»)dobản thân hay do giai cấp…ngấm ngầm bành trướng, thổi phồng…xem nhẹ và khinh rẻ các kẻ nghèo khó hơn mình. Đại đa số người giàu chỉ biết tôn trọng tài sản, tiền bạc, châu báu, và địa vị của mình…rồi say sưa «thu hoạch» từ xung quanh, bằng mọi mánh khóe (nhiều khi dẫm lên lương tâm, công lý), không biết đủ !

-Đối với hạng trọc phú, «đạo đức»hay «danh dự» là một món hàng, có thể dùng tiền mua được, nên “việc thiện” đương nhiên biến họ trở thành ngụy quân tử. -Sự SI MÊ (moha) hằng làm cho họ quên mất rằng “người giàu hay nghèo (kể cả cùng đinh) đều phải trải qua 4 giai đoạn phiền não (=bình đẳng, như nhau), không ai tránh được…là sinh-lão-bệnh-tử”. -Nghĩa là, cái đau khổ trong khi bệnh hoạn của người giàu lẫn của người nghèo, chẳng bao giờ chênh lệch (kiểu như phân biệt tiện nghi giai cấp). -Có khi người giàu còn chịu đựng khổ não (lúc bệnh nặng) nhiều hơn người nghèo, vì cái túi tham lam của họ to hơn, hoặc phức tạp, vô đáy hơn. -Do đó, người giàu hằng vướng mắc tài sản nhiều hơn người nghèo trước khi chết !

<>Thứ ba là TẬT Ỷ LẠI (nissita). -Khi một người đạt tuổi “trưởng thành” (hay thanh xuân), với sức sống tràn đầy, thì QUYỀN LỰC của VÔ MINH (avijjā) dưới dạng SI MÊ (moha) trong họ, sẽ ở điểm cao nhất. Lúc ấy…NÓ đánh lừa tri thức phàm phu của một cá nhân «dưới dạng nhiệt huyết yêu đời», trên mọi phương diện. Từ đó, tuổi trẻ chẳng những thiếu kinh nghiệm mà còn bồng bột và thường «tự tin», cho là “mình có thể đạt mọi mục đích một cách đễ dàng, an toàn”, nên khi đã mê thích…việc gì họ cũng dám làm. -Kết quả, họ gây ra ác nghiệp nhiều hơn thiện nghiệp. Nhất là «nếu bị suy sụp thì cùng một sự khổ cực, người nghèo trải qua dễ dàng, nhưng họ khó chịu nỗi», chỉ vì bệnh vô minh ỷ lại !

<>Thứ tư là SỰ CHỦ QUAN BẤT THIỆN (akusala daṇḍaniyamana). -Trong lãnh vực “hưởng thụ sinh lý” (nhục dục), thì tính “chủ quan” (tự tin) nầy càng rõ nét ! -Vì vậy mà bất cứ ai (còn phàm tục) cũng đều cho là mình “đẹp”. Họ «tự tin» đến độ nghĩ rằng, chỉ cần “điểm trang đầy đủ” là “ta có năng lực hấp dẫn người khác phái”. Họ phủ nhận hoàn toàn “khuyết điểm bẩm sinh” (mà ai cũng có), do QUẢ CỦA NGHIỆP QUÁ KHỨ lưu lại, nên tự biện hộ một cách lố bịch, thiếu khoa học. Chẳng hạng như họ ngụy biện rằng “đôi mắt lé cũng có nét đẹp của nó”. -Nghĩa là họ xem giá trị thân thể vật chất ngang hàng với giá trị tinh thần, thay vì phải khách quan phát biểu “một người mắt lé nhưng cóĐẠO ĐỨCthì vẫn được nhiều người yêu mến, thân thiện, kính trọng”, thì họ lại nói «tuy lé nhưng nhiều tiền vẫn luôn luôn được không ít người khen đẹp !» -Phải chăng tội bạo hành sinh dục cũng do «ma lực si mê» (moha) nầy thúc đẩy mà vi phạm ?!

<>Nói tóm lại, VÔ MINH (=bản thể của si mê, hay tạo hóa của lòng tham), là trở ngại lớn nhất cho SỰ TIẾN HÓA. Nó là “trục quay chính” của bộ máy sanh tử luân hồi (saṃsāra) ! Vì VÔ MINH mà phàm nhân không thể nào nhận ra động cơ của mọi chịu đựng bất toại nguyện nơi bản thân mình, là XAN THAM (lobha).

*Gọi là «xan tham» (=thích đoạt lợi) thì có thể dễ hiểu hơn vô minh (=tối tăm). Và vì tâm phàm phu hằng chủ quan (hay tự tin) cho rằng “ta đây sáng suốt”, nên Phật giáo phải phương tiện, dẫn giải “xan lam là nguyên nhân của toàn bộ đau khổ”. -Phàm nhân nghe đến lòng tham, dễ nhận biết hơn là vô minh.

-Rồi khi truy ra trong VẬN HÀNH (saṅkhārā kicca) thì THAMSÂN luôn luôn đi đôi với nhau. -Ví như khi tham muốn mà bị thất bại (không được thỏa mãn), thì nóng giận phát sinh, hay ngược lại “tham lam mà thành công” thì VÔ MINH lại thúc đẩy đòi hỏi thêm. -Nhưng trong luật vô thường, chẳng có cái gì vĩnh viễn, nên dù cho thành công lớn đến đâu, sau đó vẫn có sự bất mãn (nhàm chán) hay sân hận xảy ra, vì trên đời chẳng có cảm giác nào kéo dài mãi mãi. -Cứ thế xoay vần, THAM (lobha) và SÂN (dosa) không tách rời được, như cái vòng xoắn…chiều nào cũng «lôi kéo» đến bức xúc cả !

<>Nhà Phật xem “tham sân si” (lobha, dosa, moha) như “ba thứ độc” (tivisa), là một cách báo động cao độ rằng, ba tập khí ấy ba gốc bệnh (cực kỳ nguy hiểm), chẳng những phá hoại thể xác, mà còn làm mục nát tinh thần, làm cho tâm thức vô tư (bẩm sinh)của con người phải trở thành nhơ đục, sa đọa, mất hết sự trong sáng tự nhiên, từ đó hành động bồng bột, bức xúc, bất thiện. Và đồng thời nhà Phật cũng nêu ra THIỀN PHÁP (bhāvanā) và «đề nghị» (kattabbaṃ niddisati) làm phương pháp duy nhất, để tẩy sạch ba thứ độc ấy.

-Như trên đã nói, “sở trường của thiền pháp” là «giũa mòn» rồi diệt trừ vô minh (avijjā), hay si mê (moha). Và “đặc sắc” của thiền pháp là DỨT PHÓNG TÂM, hết lang thang, không bạc nhược, ngừng bấn loạn, bảo tồn năng lượng, -đạt AN TRÚ HÙNG HẬU, vượt qua mọi sợ sệt, –nhất là trong giai đoạn có dịch bệnh truyền nhiễm, để gia tăng nội lực (=kháng tố=anticorps), ổn định (thần kinh=système nerveur)) bảo vệsức khỏe của người hướng thiện !

*Do đó, THÀNH CÔNG TRONG THIỀN PHÁP là tái lập sự thăng bằng tim mạch, điều hòa được âm dương, khai thông khí huyết. Nói một cách y học, “hành thiền là giữ vệ sinh, bảo trì, và phát triển TIỀM LỰC (paricaya=potence) trong thân xác lẫn tâm thức”, -như tất cả chuyên gia về sinh hóa nhân thể đã xác nhận về phương diện sức khỏe rằng, “chức năng của tiềm lực che chở mạch sống của tất cả sinh mạng, nhất là động vật!”, trong đó ưu tiên là loài người.

<>Tuy về mặt tâm linh, THIỀN PHÁP trong Đạo Phật là chuyên khoa để vô hiệu hóa tham sân si nơi tinh thần, nhưng trong vật chất, hiển nhiên cũng là “thần dược” để giải quyết sự bạc nhược thân thể, không tạo điều kiện cho vi trùng hay vi khuẩn bên ngoài xâm nhập, tấn công mạch sống.

*Nói tóm lại, THIỀN PHÁP (jhāna bhāvanā) không những hóa giải được bệnh tật tâm thức (=tập khí bất thiện), mà còn “chữa trị” cả bệnh hoạn thể xác một cách hữu hiệu.

<>Tưởng cũng nên nhắc thêm rằng, THIỀN PHÁP (bhāvanā) «trong nghĩa tương tác», vốn bao gồm «3 bậc tiến hóa», gọi là GIỚI THIỀN (Sīla-bhāvanā), ĐỊNH THIỀN (Samādhi-bhāvanā), và TUỆ THIỀN (Paññā-bhāvanā). -Nghĩa là, TRÌ GIỚIkhông có THIỀNĐỊNH, để chú ý vững vàng, và để TUỆ TRI quan sát một cách vô tư, thì khó mà cảnh giác liên tục, chỉ huy được chính mình, tránh khỏi các hành động phạm tội, trước những hoàn cảnh, khi tham sân si chiếm ưu thế !

NGU DÂN là phá hoại SỨC KHỎE.

Pháp cú (Dhammapada) câu 358 ngụ ngôn rất ý nghĩa, xin thoát dịch :

«-Cỏ dại, ví như sâu bọ phá hoại hoa màu. –NGU DÂN, ví như vi trùng đục khoét sức khỏe loài người. –KHAI TRÍ ví như phương pháp loại trừ cỏ dại, soi sáng tinh thần nông dân, tìm ra kỹ thuật hữu hiệulàm cho đồng lúa tươi tốt, sản xuất dồi dào”. -Mùa màng sung túc tượng trưng cho ruộng nương lành mạnh, mùa màng thu hoạch cao. -Nông dân được KHAI TRÍ thì đời sống tâm vật ấm no, an vui, và trong ngôi nhà luôn luôn có ÁNH SÁNG quét tan ám khí !».

<>«NGU DÂN» (avivecakatta=obscurantism) ở đây ám chỉ «vô minh cộng đồng» (lạc hậu) (avijjā sādhārana), một tình trạng tối tăm chung, vô cùng bất thiện, đối nghịch hẳn với «anh minh thông thoáng» (trí tuệ giải khổ). -Đó là cảnh tượng xấu nhất cho những xã hội sơ khai, chậm tiến, thất học. -Và NGU DÂN cũng có thể xem là «ác tố cực độc» phá hoại sức khỏe tinh thần lẫn vật chất của con người.

*Sự NGUY HIỂM (upaddavā=danger) của chính sách NGU DÂN (avivecakatta nītimagga=obscurant policy) bao gồm nhiều mức độ khác nhau, -trong đó có một dạng rất đáng sợ là NGU DÂN do «chủ nghĩa độc tôn chính trị». -Các thế lực cầm quyền gian ác, độc tài thường cố ý duy trì sự NGU SI của quần chúng, để dễ dàng cai trị.

-Thực tế, những kẻ áp dụng sách lược ngu dân, đương nhiên không bao giờ thân thiện với Phật giáo, vì đạo Phật chủ trương KHAI TRÍ (citta vimutti=emancipate), bằng cách soi sáng mọi thực tại sống chung, triệt tiêu tối đa VÔ MINH (avijjā) dốt nát, xây dựng một cộng đồng tiến hóa, trong đó khỏe mạnh vật chấtsáng suốt tinh thần (kāyasukha cittapassadhi) là 2 cần thiết chính của an vui hạnh phúc (bahucanasukhāya bahucanahitāya) !

<>Mục đích trước tiên của đạo Phật là phát triển TÍNH LÀNH BẨM SINH, trong mỗi cá nhân, –một tâm quả tương đối tốt (ahetuka-vipāka-citta) gọi là «thiện hiếu sinh», hằng có trong mỗi con người khi ra đời. -Tiếp theo, nhà Phật KHAI TRÍbằng THÔNG TIN và GIÁO DỤC, đào tạo toàn dân dần dần theo lịch trình tiến hóa của loài người, KHÔNG để cho tri kiến cộng đồng (sādhārana-diṭṭhi) bị bế tắc, chênh lệch, đen tối…rồi xảy ra nhiều xung đột xã hội. -Và «thực hành hạnh Bồ-tát» (Bodhisatvā cariya) trong đạo Phật…chính là hành động cụ thể, làm gương sáng, dùng thân giáo hướng dẫn xã hội, ngừng khẩu giáo (đặt lý thuyết vào hạng thứ yếu, phương tiện) !  

*BỒ TÁT (Bodhisatvā) là hiện thân của SAN BẰNG HỐ NGĂN CÁCH KHỔ VUI trong 3 cõi, nhất là dục giới. –Dù phải hy sinh đến sinh mạng, Bồ-tát vẫn vui vẻ làm ! -Sách Phật học vẫn qui nạp rằng, “Bồ-tát là bậc chưa hoàn toàn giải thoát”, còn tiếp tục luân hồi…để vừa phụng sự chúng sanh (=vun bồi công đức), vừa phải tu tập thân tâm (=tinh khiết tánh linh) cho đến khi viên tròn ba-la-mật (=pāramī : siêu thoát hạnh). Và Phật là Bậc đã tuyệt đối giải thoát, hoàn toàn tự do, tinh anh, dứt sanh tử (saṃsāra vimutti). -Lòng TỪ BI VÔ LƯỢNG của “PHẬT(Buddha) không vì Ngài VẮNG MẶT (=tịch diệt) hoặc đang HIỆN DIỆN trên cõi đời, mà tăng hay giảm. -VìĐỘ HẠNH của Phật (Thích-ca Mâu-ni) Đà ĐẦY ĐỦ”, viên dung !

<>Phàm nhân không nên hiểm lầm, nhất là tu sĩ nhà chùa chớ giảng sai rằng «Phật hết thương chúng anh, nên nhập niết-bàn, còn bồ-tát đang vì chúng sanh mà chịu luân hồi» ! -Theo Phật học, «không có Phật thì không có Bồ-tát» hay «HẠNH BỒ TÁT (Bodhisattacariya) chính là HẠNH PHẬT (Buddhacariya)». «Chư Phật Lịch Sử» tuy đã an tịch, nhưng độ hạnh của các Ngài vẫn còn trong tam giới, ở mãi với chúng sanh, trừ khi chúng sanh hết duyên lành, tâm thức chứa quá nhiều tham sân si, tà kiến !

-Từ đó suy ra, tất cả sinh linh (sabbe sattā) có THIỆN TÂM (sobhana citta) đã tin quyết ý thực hành Phật giáo, đều đương nhiên là Bồ-tát (Bodhi-satta). -Còn công phu của các Bồ-tát DÀY hay MỎNG, cứu giúpNHIỀU hay ÍT…tùy thuộc vào NGUYỆN LỰC của Ngài và bao nhiêu kiếp đã chu toàn ba-la-mật, nhưng ẤY vẫn luôn luôn là HIỆN THÂN của giới định tuệ, và noi gương từ bi vô biên, do chư Phật để lại, hằng sẵn sàng ĐỘ NẠN chúng sanh. 

QUẢ TIM đại lượng và TINH THẦN thanh tịnh.

<>Tâm tư hiền hòatình cảm lành mạnh trong mỗi cá nhân (noi gương Phật), vốn «nghịch chiều một cách tự nhiên», với những đòi hỏi do “THÂN NGHIỆP”, (tức hành vi của thể xác động vật đang sống, -nhất là con người), khi có phối hợp với “DÒNG ĐIỆN THẦN KINH” (hay cơ năng sinh hoạt), chứa tham sân si cố hữu. -“Thân nghiệp” và “dòng điện thần kinh” nói ở đây, ám chỉ “thể xác sinh học thuần túy vật chất sau khi ra đời”, -thường không liên quan gì đến «phẩm cách đạo đức» của tinh thần bẩm sinh (tâm quả=vipākacitta).

-Vào năm 2010, một cuộc “phân tích khoa học đặc biệt” của 148 nhà khảo cứu, dựa trên điều kiện “tinh thần trong sáng lòng tốt, từng tiết lộ rằng, “những ràng buộc xã hội, đã làm cho đa số người hài lòng hay bất mãn trong cuộc sống, màbị đặt vào một số mạng TỐT hay XẤU, sống lâu hay chết yểu”. Nghĩa là, sự thanh tịnh tinh thầnlành mạnh thể xác là 2 YẾU TỐ CHÍNHcủa tuổi đời ! -Cuộc thí nghiệm cũng khám phá trên 50% người đạo đức thích làm việc thiện, thì có nhiều dấu hiệu sẽ sống lâu.

*Kết quả nầy được tái kiểm chứngxác nhận, xuyên qua thống kê bất kể tuổi tác, giới tính, và tình trạng sức khỏe, lẫn lý do cái chết nếu đã xảy ra, hoặc hiện tại đương sự đang còn sống. Đặc biệt là ngay cả khi trong đời sống chung hằng ngày, một người chỉ “hành động tốt tình cờ” (do trợ duyên lôi kéo) mà nếu có giá trị đạo đức, thì hậu quả lành (hay có “dấu hiệu sống lâu”) cũng biểu lộ ! 

<>Mặt khác, ngoài các kết quả nghiên cứu về “THIỀN phục vụ sức khỏe”, có một số «đánh giá hiệu quả», bởi những hành động từ thiện, hay đóng góp xây dựng xã hội…nêu rằng, bên cạnh SỰ CHỨNG MINH TỰ NHIÊN là “tim mạch điều hòa” (hiện thân của tinh thần ổn định, tạo ra SỨC KHỎE TỐT (được xác nhận, xuyên qua “trắc nghiệm” tu thiền, các nhà quan sát còn thấy rằng, «người chỉ thích cứu giúp kẻ khác thôi», -mà chưa hành thiền, bất luận thuộc tôn giáo nào…cũng có «mạch sống tốt». -Nhiều chuyên gia xã hội đã lập thống kê, bằng những loạt thăm dò ở đa số các trung tâm từ thiện, dưới dạng ĐÚNG (yes) hay SAI (no) trong «ô vuông», theo lập trình «hiển thị số» cũng cho thấy «quả tim đại lượng» là DẠNG KHÁC của tinh thần lành mạnh !

Cái bóng của PHÁP LỤC HÒA trong đạo Phật.

<>Theo một số chuyên viên TÂM LÝ CỘNG ĐỒNG, nếp sống cô lập hay “đóng kín” rất có hại cho sức khỏe. -Một cuộc “thu thập và phân tích dữ liệu dài hạn” từ năm 1988 đến nay, đã nêu ra chỉ số trung bình, là “những kẻ sống ít liên lạc, không hòa đồng với xung quanh thường chết sớm, còn những người cởi mở, năng động, thích tiếp xúc với láng giềng thì ngược lại”. -Riêng những hiền nhân thiền tịnh, trên hình thức tuy sống độc cư hành đạo, nhưng tâm vẫn mở rộng, bình đẳng…thì không kể trong loại nầy !

*Báo động hơn nữa là nhiều quan sát viên sinh hoạt xã hội còn thấy rằng, một số nước Âu Mỹ (-Hoa Kỳ chẳng hạn), không khéo có thể sẽ trở thành quốc gia, -nơi đó mỗi cá nhân có “khuynh hướng” càng ngày càng THỦ TƯ, “ít liên hệ xung quanh”. -Và sự “ĐƠN ĐIỆU” đáng tiếc nầy, đang làm giảm «GIÁ TRỊ SỐNG», thiếu sinh khí liên đới, đặc biệt là “không hòa hợp cộng đồng”, trở thành rất tiêu cực !

-Chúng ta có thể gọi đó là hiện tượng “mất đi thói quen sinh hoạt tiến hóa, CHONHẬN tình cảm hay ĐIỆN TRƯỜNG TỐTtừ xung quanh”, mà người tin Phật có thể gọi là «Thiếu PHÁP LỤC HÒA của Đạo Giác Ngộ» trong đời sống ! -Vậy PHÁP LỤC HÒA hay «sáu hoà hợp đó là gì», chúng tôi xin nêu ra sau đây, nhưng không giải rộng chi tiết, vì nội dung tương đối cũng dễ hiểu. -Đó là :

1/Thân hòa đồng trụ. Sống chung tốt, mọi công việc nên chia ra làm.

2/Khẩu hòa vô tranh. Sống chung tốt, mọi người tránh việc cải lý.

3/Ý hòa đồng duyệt. Sống chung tốt, mọi người cần hiểu người khác.

4/Giới hòa đồng tu. Sống chung tốt, mọi người phải tôn trọng kỷ luật.

5/Kiến hòa đồng giải. Sống chung tốt, có kiến thức nên chia xẻ nhau.

6/Lợi hòa đồng phân. Sống chung tốt, mọi lợi lộc luôn luôn chia đều.

*SỐNG CHUNG TỐT nghĩa là “cùng nhau có thân tâm bình an” !

<>Những báo cáo vô tư đã giúp các chuyên gia đủ bằng cớ, xếp loại các qui nạp khoa học, giữa MỘT BÊN là hậu quả của “cô lập bản thân”, có tỷ lệ tử vong cao, đặc biệt là trong số nạn nhân của bệnh mập (quá ký lô chấp nhận), nghiện thuốc lá, rượu mạnh, và thiếu sinh hoạt thể thao, -Còn BÊN KIA là «kết quả hòa đồng» làm giảm huyết áp, ngừng lên cân (mà vẫn ẩm thực bình thường), biểu thị bằng sự khỏe mạnh , vui tươi và sống lâu…TÍCH CỰC !

Quan điểm chung.

<>Thông thường, «1 người có cái nhìn an tĩnh, cởi mở, phóng khoáng (nếu không muốn nói là «lạc quan») trước cuộc đời, thì hành vi của họ tự nhiên chứa nhiều ý nghĩa lợi lạc hơn là phương hại. –Quan điểm chung nầy trong nhân gian, ngẫu nhiên đã «khớp» với nội dung của «KINH HẠNH PHÚC» (maṅgala-sutta), mà người theo đạo Phật thường nhắc đến. -Hãy đọc lại nguyên văn bản dịch Việt :

«Thời nọ, Đức Phật ngụ tại Kỳ Viên Tịnh Xá (Jetavaṇa vihāra) do Trưởng giả Cấp Cô Độc (Anāthapindika) hiến dâng, gần thành Xá-Vệ (Sāvathī). Vào khuya một đêm không trăng, «thiên chúng» (devā) với hào quang sáng rực, làm cho toàn cảnh ngôi chùa rất huy hoàng, như đại lễ hoa đăng. «Thiên chúng» lần lượt đến chỗ Phật ngự, sau khi lễ bái Đức Thế tôn xong, tất cả vừa trang nghiêm an tọa xong, thì một «thiên linh» đã cung kính hỏi Phật rằng :

«-Thiên chúng cùng nhân loại hằng mong mỏi được hạnh phúc, và cố tìm kiếm bình an. -Kính thỉnh Đức Thế tôn thuyết pháp và hướng dẫn cách tạo ra bình an hạnh phúc !».

Phật liền giảng giải những pháp sống bình an hạnh phúc như sau :

1/Không xu hướng theo người ác (sevanā ca bālānaṃ). 2/Thường thân cận các hàng thiện trí (paṇḍitānañca sevanā). 3/Cúng dường những bậc đáng cúng dường (pūjā ca pūjanīyānaṃ). 4/Cư ngụ đúng quốc độ (paṭirūpadesavāso ca). 5/Đã nhiều lần tạo nghiệp lành quá khứ (pubbe ca katapuññatā). 6/Tâm luôn hướng về chánh đạo (attasammāpanīdhi ca). 7/Nghe nhiều học rộng (bāhusaccaṃ ca). 8/Thông hiểu giới lành hạnh kiểm (sippañca). 9/Giữ đúng luật pháp (vinayo ca susikkhito).  10/Hằng nói sự thật (subhāsitā ca yāvācā). 11/Chăm sóc mẹ già (mātā upaṭṭhānaṃ). 12/Hiếu thảo với cha (pitu upaṭṭhānaṃ). 13/Quan tâm đến vợ con (putta dārassa saṅgaho). 14/Có sinh kế vô hại (anākulā ca kammantā). 15/Vui thích bố thí (dānañ ca). 16/Sống theo pháp giải thoát (dhammacariyā ca). 17/Thường giúp đỡ quyến thuộc (ñātakānañca saṅgaho). 18/Hành nghề lương thiện (anvajjāni kammāni). 19/Tiết chế, ghê sợ và tránh xa tội lỗi (āratī viratī pāpā). 20/Chẳng biết dùng chất say (majjhapānā ca). 21/Không xem thường chánh pháp (saññamo appamādo ca dhammesu). 22/Tôn kính bậc đạo đức (gāravo ca) 23/Sống khiêm nhượng (nivāto ca). 24/Biết tri túc (santuṭṭhī ca). 25/Không quên ơn (kataññuta). 26/Được nghe pháp đúng thời (kālena dhammassavanaṃ). 27/Có tính kiên nhẫn (khantī ca). 28/Là người dễ dạy, luôn vâng lời kẻ nói đúng (sovacassatā). 29/Thường gặp bậc phạm hạnh (samaṇānañca dassanaṃ). 30/Vui vẻ và sẵn sàng thảo luận Phật Pháp (nibbānasacchikiriyā ca). 31/Cố gắng không làm sai (tapo ca). 32/Thích theo hạnh cao thượng (brhamacariyañ ca). 33/Thấy pháp Tứ diệu đế (ariyasaccāna dassanaṃ). 34/Hiểu được niết-bàn (nibbāna saccikiriyā ca). 35/Tâm không xao động vì pháp thế gian (phutthassa lokadhammehi). 36/Không bị uất ức (cittaṃ yassa na kampati). 37/Dứt được tình dục (asokaṃ vịrajaṃ). 38/Có lòng tự tại (khemaṃ). -Tất cả là những pháp tạo ra hạnh phúc cao thượng !

(-Khá nhiều điều trong 38 pháp an lành hạnh phúc nêu trên, là phẩm cách của người sống cởi mở, không đóng khung do vị kỷ !).

*Sau đây là nguyên văn Pāḷī KINH HẠNH PHÚC (viết dạng roman), trích từ cuốn KINH TỤNG do Đại Lão Hòa Thượng HỘ TÔNG (1893-1981), Cố Tăng Thống «Giáo Hội Tăng Già Phật Giáo Nguyên Thủy Việt Nam» đã biên soạn, ấn bản năm 1966. -Chúng tôi xin chép ra để quí vị tùy nghi tham khảo :

MAṄGALASUTTA

«Evaṃ me sutaṃ…ekaṃ samayaṃ Bhagavā Sāvatthiyaṃ viharati Jetavane Anāthapiṇḍikassa ārāme. Atha kho aññatarā devatā abhikkantāya rattiyā abhikkantavaṇṇa kevalakappaṃ Jetavanaṃ obhāsetvā yena Bhagavā tenu pasaṅkami, upasaṅkamitvā Bhagavantaṃ abhivādetvā ekamantaṃ aṭṭhāsi :

-Bahū devā manussā ca maṅgalāni acintayuṃ ākaṅkhamānā soṭṭhānaṃ brūhi maṅgalamuttamṃ (?).

*Asevanā ca bālānaṃ paṇḍitānañca sevanā pūjā ca pūjanīyānaṃ, etaṃ maṅgalamuttamaṃ ! *Paṭirūpade savāso ca pubbe ca katapuññatā. attasammāpanīdhi ca, etaṃ maṅgalamuttamaṃ ! *Bāhusaccaṃ ca sippañca vinayo ca susikkhito subhāsitā ca yāvācā, etaṃ maṅgalamuttamaṃ ! *Mātāpitu upaṭṭhānaṃ putta dārassa saṅgaho anākulā ca kammantā, etaṃ maṅgalamuttamaṃ ! *Dānañca dhammacariyā ca ñātakānañca saṅgaho anavajjāni kammāni, etaṃ maṅgalamuttamaṃ ! *ratī viratī pāpā majjapānā ca saññamo appamādo ca dhammesu, etaṃ maṅgalamuttamaṃ ! *Gāravo ca nivāto ca santuṭṭhī ca kataññutā kālena dhammassavanaṃ, etaṃ maṅgalamuttamaṃ ! *Khantī ca sovacassatā samanānañca dassanaṃ kālena dhammasākaccā, etaṃ maṅgalamuttamaṃ ! *Tapo ca brhamacariyañca ariyasaccāna dassanaṃ nibbāsaccikiriyā ca, etaṃ maṅgalamuttamaṃ ! *Phuṭṭhassa lokadhammehi cittaṃ yassa nakampati asokaṃ virajaṃ khemaṃ, etaṃ maṅgalamuttamaṃ !

 -Etāpisāni katvāna sabbatthamaparājitā sabbattha soṭṭhiṃ gacchanti tantesaṃ maṅgalam’uttaman’ti».

<>Chúng ta có thể nhận thấy xa hơn rằng, những quả xấu sẽ đến với người bất thiện, trong cả 2 thời (=hiện tại và tương lai). Khác hẳn những hành động lành mạnh (kusala kamma) sẽ hội tụ thành sức khỏe hạnh phúc cho thể xác và tinh thần của người sống đạo đức. -Nghĩa là mỗi hành động có tác ý, bất kể tích cực hay tiêu cực đều được «ghi nhận đầy đủ» như «ấn tượng sâu đậm» vào «mạch lưu trữ» (bhavaṅga) trong tinh thần. -Rồi khi hội đủ «các điều kiện thuận tiện», nó sẽ «trổ ra» kết quả tương ứng với «kết lực» của nó !

-Theo Tâm Lý Học Tây Phương (psychologie occidentale), «mạch lưu trử» ấy gọi là «tiềm thức» (sub-conscience), -mà khoa học nhân thể còn gọi là «bộ nhớ» (centre de mémoire) nằm trong «trung tâm thần kinh» (!) -Nhưng Phật giáo thì «tiết lộ» rằng, «mạch lưu trữ» hay toàn bộ tiềm thức của một kiếp người «giòng luân lưu BHAVAṄGA», tạm dịch là «hữu phần» hay «hộ kiếp», NÓ «không có vị trí nhất định» và «cũng chẳng giới hạn bởi thời gian lẫn không gian», tức là «không bị hạn chế bởi tiềm năng của hệ thống thần kinh». -Điều mà nhà Phật luôn luôn nhấn mạnh là «giòng hộ kiếp (hay hữu phần : bhavaṅga) không bỏ sót một dư vị hành động nào cả» ! Vì NÓ là «DÒNG LƯỢNG TỬ NGHIỆP QUẢ» trong mạch sống mỗi sinh linh không tự chấm dứt khi khối óc tê liệt !

*Một «hạt giống» (thảo mộc) trong lòng đất, nếu thiếu nước, nhiệt độ, và không khí, «có thể» mục nát, nhưng «một nhân tố lượng tử» (thăng hay đọa) ghi vào trong DÒNG HỮU PHẦN (bhavaṅga) thì tiếp tục vận hành. – ví như «tổng kho điện tử vô sắc, tàng trử dư vị nghiệp quả», -bao gồm không những nghiệp quả của kiếp nầy, mà còn của tất cả nghiệp quả quá khứ.

-Nhờ dòng «BHAVAṄGA» mà tài năng nổi bật (ưu thế hùng hậu) của kiếp trước, có thể biểu lộ trong kiếp nầy, qua các hiện tượng «thần đồng» (như cố Nhạc sĩ MOZART (nước Áo) chẳng hạn, một «dư quả» của tài năng «quá khứ»). -Thực tế nầy…vượt hẳn khoa học vật chất (lý hóa), đã thỉnh thoảng xảy ra trên cõi người, không thể phủ nhận được ! -Khoa học khách quan nói rằng, một bộ óc hiện tại dù xuất sắc đến đâu, cũng cần thời gian tối thiểu để phát triển sự thuần thục xuất chúng,  hay biểu lộ cái khả năng vĩ đại. Nhưng nếu không có sự hợp lý đó, thì phải nhìn nhận rằng, «thiên tài chỉ đến từ một không-thời gian» khác, tức là quá khứ. -Và ẤY là trường hợp THẦN ĐỒNG ! -Ngoài ra, thần đồng thì lại không sống lâu, một hiện tượng rất «khớp» với «dư quả» của kiếp trước. Nhưng khi «thần đồng sống lâu» thì biến thành người thường, «kỳ tài» kia phải biến mất, -«dư quả độc đáo xưa tự chấm dứt» !

-Ngay cả nhóm từ «luật di tồn nhiên lực» (kamma vipāka niyama = law of conservation of energy) trong khoa học lý hóa, cũng không đủ «nội dung» để ám chỉ «DÒNG HỮU PHẦN» (bhavaṅga) nầy !  

Laisser un commentaire