Bài VI
Giá trị minh triết của đạo Phật :
“duy tâm một cách khoa học”.
<>«Khai giáo đầu tiên» và cũng là nền tảng của đạo Phật, tức Tứ Diệu Đế (Catu Ariya-saccāni), đã được Đức Giác Ngộ thuyết ra, trong bài Pháp thứ nhất, sau khi Ngài hoàn toàn đắc quả Chánh đẳng chánh giác (Sammāsambuddha) dưới tàng cây Bồ-đề (Bodhirukkha), để cống hiến lý đạo (dhamma bhāsitaṃ) một cách khai thị cho nhóm “5 vị tu khổ hạnh” (Ᾱjñātakaṇḍinya=Kondaññpañcavaggiya), trong vườn hưu hoang linh (Isipatana migadāya), nằm về phía Bắc thành phố “Ba-la-nại” (Vāranasī), thuở bấy giờ (=cổ Ấn-độ), -ngày nay gọi là Bénarès. Và tên của thính chúng 5 người ấy, đã được hán-việt ký âm là «Kiều-trần-như», vẫn còn thông dụng trong kinh sách nhà Phật.
–Tứ Diệu Đế (Catu Ariyasaccāni) là bài học soi sáng, chứa cả lý thuyết (bhāsana) lẫn thực hành (paricaya), như khoa học ứng dụng (āyācaka vijjā)ngày nay vậy.
<>Liên quan đến “GIÁ TRỊ MINH TRIẾT” (nói chung), hay tính soi sáng để cải thiện sự sống nhân loại…thì trong mấy thế kỷ qua…đã có một số nhân vật nổi tiếng, như Stephen Hawking (=khám phá vô cực không gian), và Albert Einstein (ấn định năng lượng hạch nhân, với công thức E=MC bình phương), đôi bác học đã tìm ra “nguyên tắc vận hành của vũ trụ” và “tiềm lực cốt lõi” (=nguyên tử), để phục vụ nhân sinh bằng kỹ thuật tân tiến. -Họ là 2 ngôi sao trong danh sách các khoa học gia lớn nhất thế giới. -Chưa kể Von Newman, nhà toán học thiên tài, đã tìm ra “nguồn điện” cho máy vi tính (computer), một “dụng cụ thần kỳ” chứa nhiều thông số kỹ thuật trong nền văn minh tin học hiện đại. Với tư cách những nhà khoa học, khách quan và vô tư, họ đã tỏ ra đặc biệt chú ý đến «ánh sáng Đạo Phật», như một khoa học sống minh triết !
-Vả lại, KHOA HỌC luôn luôn “đi tới” một cách “tối tân”, “tinh vi”, không đảo ngược được…đã dẫn đến nhiều phát minh và sản xuất “ít đòi hỏi năng lực bắp thịt và thông số trí óc, đồng thời cũng rút ngắn thời gian” (thuộc về tinh thần), tức là giảm bớt lao động bắp thịt, cực nhọc thân thể cho con người. -Theo đó, tất cả giải quyết khoa học vốn là những diễn biến, được trình bày xuyên qua tính “vận động xoay chiều và tương tác” (thân tâm). -Nhất là hầu hết những “vận hành” ấy lại biểu lộ dưới những CHU KỲ (rộng hay hẹp), chứa hay không chứa “hiệu quả sai biệt”.
*Và đó chính là NỘI DUNG tương ứng với nguồn gốc LUÂN HỒI, có «tiềm lực thiết lập ra CÁI MỚI từ CÁI CŨ (chứ không phải duy trì nguyên mẫu cái cũ !), sau «nhiều lần biến hóa, phối hợp». -Và bốn giai đoạn sinh-trụ-hoại-diệt phải luôn luôn CẦN THIẾT cho “tiến trình xoay vần nhiều vòng”. -Kết quả là các tình trạng XẤU HƠN hay TỐT HƠN phải tự nhiên xuất hiện. -Nhà Phật gọi “nó” là «luật nhân duyên quả thăng trầm», trong ấy «DUYÊN» (paccaya) là “thông số” xuyên qua thời gian.
-Ví dụ, nhờ DUYÊN hay hoàn cảnh (như đất, nước, không khí, nhiệt độ.v.v…) mà hạt mọc mầm biến thành cây, để sau đó cây sinh ra “trái chứa hạt khác”. Trái ấy có thể đồng dạng hay sai biệt nhiều hoặc ít. -Nghĩa là, NHÂN (cause) và QUẢ (effet) tự động hoán vị, trước trở thành sau và sau trở thành trước. -Ví như NGÀY và ĐÊM không cố định, chẳng xác nhận «thời gian nào đi trước» hay «thời gian nào đi sau». -Cả hai đều là «duyên hành của nhau» một cách liên tục ! -Bậc toàn giác vẫn qui nạp như vậy !
<>Nhắc lại Phật giáo, chúng ta thử nghiên cứu xem TỨ DIỆU ĐẾ (catu ariyasaccāni) có phải là “CÔNG THỨC” siêu khoa học hay không, để chứng minh rằng, đó là chân lý trình bày bốn tình trạng tâm vật, mà sự BIẾN THIÊN (sinh lão bịnh tử) của chúng, có thể «chênh lệch» từ VƯỚNG MẮC (Saṅkhittena) đến TỰ DO (Nibbāna, giải thoát), –cũng không khác với khoa học.
–Công thức (niyamāvali) ấy đang đóng góp tiện nghi lớn lao cho sự sống…nhưng khi hưởng thụ, con người vẫn bị xung đột bởi nó (do hậu quả sai biệt), chứ không tuyệt đối «hưởng thụ tiện nghi là hạnh phúc» ! -Nghĩa là khoa học chỉ có phần “tích cực” trên phương diện vật chất, nhưng mặt khác “có thể khá tiêu cực” trên phương diện tinh thần, -tức là hữu dụng và phản dụng ! -Nói đúng hơn, tiến bộ vật chất chính là YẾU TỐ (dhātu) biến đổi BẢN NĂNG HAM SỐNG (jīvita sahajañāna) của con người, trở thành lòng tham và đòi hỏi không đáy (rāga) !
<>Theo Vi Diệu Pháp trong nhà Phật, Tiến bộ vật chất có thể xem tương đương với canh cải lý hóa của TỨ ĐẠI THÔ (olārika rūpa), hay hiện tượng vật chất có 3 chiều. -Nếu NÓ không được định hướng đúng và lành mạnh (bởi chiều thứ tư), thì HIỆU QUẢ sẽ mâu thuẫn với tiến bộ tinh thần, biến tâm linh sinh vật nói chung, và con người nói riêng thành bất thiện (akusala).
*Bậc Toàn Giác (hay Phật) thấy được sự “mâu thuẫn” đó, nên Ngài đã để lại cho chúng ta “Tứ Diệu Đế” (=bốn SỰ THẬT) nói rõ rằng, SỐNG BẤT THIỆN là trải qua “4 HỆ LUẬN” : 1/thực tại chịu đựng, 2/nguyên nhân chịu đựng, 3/phẩm cách hết chịu đựng, và 4/phương pháp hóa giải chịu đựng. -Mục đích của Phật giáo giúp chúng sanh nói chung, và loài người nói riêng…sống tiến hóa trên cả 2 phương diện (tinh thần lẫn thể xác), nhằm giảm khổ và dần dần thoát khỏi NHỮNG CHU KỲ chịu đựng sinh trụ dị diệt (luân hồi), hằng lập lại do tham sân si kết hợp với trần cảnh trong kiếp sống gây ra !
<>TỨ DIỆU ĐẾ (catu ariya saccāni) cần được xem là “hệ luận minh triết” (vijjāpatthāna tattañāṇa = corollaire de philosophie métaphysique) để tiến hóa bằng hành thiện (kusalakamma abhivuddhi = progrès par évolution éthique), nhằm tẩy sạch VÔ MINH, ngu dốt, lạc hậu (avijjā lopeti = eradication d’ignorance), nguồn gốc của tất cả chịu đựng mâu thuẫn hay ĐAU KHỔ (dukkha hetu = origines de souffrance), đưa đến giác ngộ toàn diện (sammāsamnodhi = omni-éveillé) và “thuần trí” (prajña = pure), có NỘI DUNG siêu thoát (vimutti = quintessencee d’émancipation), TỰ DO (sādhīnatā = liberté), và BÌNH ĐẲNG (upekkhā = équanimité) trong thân tâm mỗi con người (chaque vie physico-mentale).
-TỨ DIỆU ĐẾ (catu ariya-saccāni) cũng có thể xem là “4 HỆ LUẬN TUYỆT VỜI” (catu atisundara upasiddhantā = 4 super-corollaires), mà nguyên hành chính xác (sources les plus justes) của CHÚNG là “4 liên quan xoay vòng” (paṭicca samuppāda = inter-fonctionnements internatifs). -Nếu trình bày theo thứ tự A-B-C, thì mỗi hệ luận gồm «4 thông số tiền hành» (paramètres antécédants) và “1 thông số bản lề” (liens charnières), tạm trình bày như sau :
A-Trong vận hành, nghiệp quả nào cũng có «5 nghiệm lý», hay năm “THÔNG SỐ” (parameter), mỗi cái tương đương với “4 bước hiện tượng” và “1 bước vượt tiến” :
*Bước 1 : Hoàn cảnh tạo thành vấn đề, hay tình trạng lập thành hiện tượng (description des phénomènes problèmatiques).
*Bước 2 : Giả thuyết căn bản, để chứng minh hiện tượng trước mắt (hypothèse fondamentale pour l’explication de phénomènes en face) do đâu mà có.
*Bước 3 : Qui nạp các mối liên quan trong giả thuyết (hypothèse), để tiên đoán hiệu lực của hiện tượng (synthèse des issues de phénomènes et prévision).
*Bước 4 : Kết luận, áp dụng và trải nghiệm (application de synthèse et expérience en caractérisation), nhằm rút ra qui nạp.
+BƯỚC CUỐI CÙNG (=thứ 5) : Biểu thị hóa nhiều lần ĐẶC TÍNH của các hiện tượng biến thiên,xuyên qua trải nghiệm. (renouveller la caractérisation des phénomènes et les préciser à tous les échelles expérimentales). -Qui nạp và ấn định các đặc tính của mỗi hiện tượng, xuyên qua tất cả những mức độ kinh nghiệm !
B-Trong toán học thì có giải tích đưa đến «đáp số», được dùng để khai thông bài toán, cũng xuyên qua 5 giai đoạn tương tự :
*Bước 1 : Hoàn cảnh thành lập bài toán nhằm mục đích gì, để thẩm định tầm quan trọng của đáp số (compréhension du problème ainsi que son issue principale).
*Bước 2 : Luận thuyết về nguồn gốc để giải quyết bài toán, liên quan đến khả năng thu hẹp hay mở rộng, của các định lý và hệ luận (examination en profondeur de sa propre perception).
*Bước 3 : Tổng hợp tất cả các trình bày vừa qua, để có dữ liệu chuẩn bị cho giai đoạn tìm ẩn số tiếp theo (compilation de tous les analyses, observations pour préparer the prochain étape).
*Bước 4 : Quan sát toàn diện và qui nạp mọi chỉ số, rồi áp dụng những gì vừa được khám phá, ăn khớp với các yếu tố đã biết, nhằm bổ túc kiến thức (superviser dans les toutes extensions concordant les perceptions du passé et de présent, pour enchanter la compréhension).
+BƯỚC CUỐI CÙNG (=thứ 5): Lập lại bước thứ nhất với đáp số vừa thu hoạch, để lấy đà và thực hiện các bước tiếp theo, rồi rút kinh nghiệm cho các tiến hành chứng minh hoàn toàn về sau (obtenir la nouvelle compréhension du sujet pour le but du recherche).
C-Trong MINH TRIẾT, với LÝ THUYẾT TỔNG QUÁT hay qui nạp ĐỊNH LÝ, để dựa trên «ba nguyên tắc», gồm 1/trải nghiệm toàn bộ, 2/xác định sai lầm, và 3/suy ra giải pháp. -Và tính MINH TRIẾT (chung kết) ở đây, là khuyên chúng ta nên xem trải nghiệm toàn bộvà xác nhận lỗi lầm có liên quan tới phương pháp, chính là QUI TẮC để «rút ngắn thời gian» vào áp dụng thực tiễn (kỹ thuật).
Nhưng trong hành động…thì các bước sưu tầm lại như sau :
*Bước 1 : Nhìn vào thực tại, mô tả và lý luận…để đề xướng cách giải quyết, trong phương tiện sẵn sàng, với thái độ qui nạp rằng «có thể thành công», hay «có thể thất bại» (description et argumentation basée sur les méthodes et les équipements appropriés…pour obtenir les résultats désirés ou le contraire).
*Bước 2 : Nhận ra sai lầm, tức là sau khi đem ý tưởng trình bày, thấy rõ dự án có khuyết điểm (bất khả thi), hay không thuận tiện ở giai đoạn đầu (initiative tentation échouée, résultats anticipés non-obtenus, ou sans issues).
*Bước 3 : Tái phân tích để định rõ «vì sao có trở ngại» hay «đâu là nghịch lý tàng ẩn bên trong» (analyser et déterminer l’erreur cachée ou la cause de l’échec).
*Bước 4 : Xác nhận thiếu sót, «loại bỏ khuyết điểm», và thiết lập giải pháp được chuẩn bị, tức là cải thiện bằng cách không lập lại lỗi lầm trước (cela entaille et recourir à une solution alternative, plus performante que celle d’avance).
+BƯỚC CUỐI CÙNG (thứ 5) : -Chung kết toàn bộ các giai đoạn luận giải của «A» và «B», với mỗi KHUNG «A» hay «B» vẫn chỉ gồm «4 bước», cộng với «bước cuối cùng» (=thứ 5). -Đồng thời qui nạp những đặc tính của 4 BƯỚC được lập lại, trong từng chu kỳ cải thiện (tiến hóa qua trải nghiệm). -Sau đó, nếu nhìn tổng quát nhận thấy có cải thiện, chúng ta sẽ biết rằng, đó là kỷ thuật tuân theo hệ luận minh triết, có bản sắc tương tác khoa học, và đặc biệt là có THÔNG SỐ (paramètre) của NGHIỆP QUẢ (kamma-vipāka) nhiều chu kỳ, -nói theo Phật học. (Khung C).
<>Kinh Phật dạy rằng, khi chúng ta phát ra một hành động lớn hoặc nhỏ, thì HẬU QUẢ thiện hay ác (tốt hay xấu) đối với những gì hiện hữu xung quanh (=cộng nghiệp) sẽ cấu kết một cách tự động, -không cần «quyền năng» nào áp đặt cả ! -Còn các hành vi «trung hòa» hay duy tác (như đứng, đi, nằm, ngồi, ho hen, nháy mắt.v.v…), chẳng có chủ đích …thì thuộc về «bẩm sinh», vô hại (ahiṃsa).
-Nghĩa là, một hành động (kamma) được đánh giá, chỉ khi nào có chủ ý đối đãi (cho mình hay vì người), thì chắc chắn không tránh khỏi «SỰ GHI KHẮC» ấn tượng nhận quả báo THUẬN hoặc NGHỊCH (tích cực hay tiêu cực) vào «giòng điện tâm». -Như vậy, quả lành hay quả dữ đã nằm sẵn trong quá trình hành động của mỗi người, chứ không do ngoại năng nào ấn định cả ! -Và để né tránh SỰ THẬT (hay cố ý giảm bớt trách nhiệm), người nhiều tham sân si, thường viện lẽ rằng «phàm nhân ai ai cũng lầm lỗi», để ngụy biện !
<>Nhưng khi con người tiến hóa (vuddhigāmī manusso), biết nhìn nhận nhược điểm của mình…thì «tính không hoàn toàn» cần phải được vạch rõ, để «hóa giải tật xấu», Phật học gọi là «pháp cải thiện» (kusala dhammā saṃvattati), và đó chính là «mục đích» của các diễn tả minh triết nêu trên, có nội dung phân tích hành vi và ấn định lỗi lầm, để tiến hóa, để sống tốt, để không sa đọa.
*Và cũng như tương quan với «tam đoạn luận» (=một cách trình bày khác) của «triết học thế gian», khi đối chiếu với «5 bước thuộc khoa học», TỨ DIỆU ĐẾ (catu ariya-saccāni) trong nhà Phật, lại còn khai thông xa hơn, vạch ra «liên quan tiền nhân hậu quả» rằng :
1/Tất cả hành động xấu lẫn tốt, đưa đến buồn lẫn vui, hay thuận lẫn nghịch, nhất định sẽ làm cho con người phải CHỊU ĐỰNG…chính là KHỔ ĐẾ (dukkha ariya sacca).
2/Nguồn gốc căn bản của CHỊU ĐỰNG vốn là tham sân si (=dục vọng = taṅhā), hay TẬP ĐẾ (dukkha samudaya ariya sacca).
3/Khi CHẤM DỨT tham sân si thì không còn chịu đựng nữa, là DIỆT ĐẾ (dukkha nirodha ariya sacca), hay Niết-bàn (nibbāna).
4/Thực hành BÁT CHÁNH ĐẠO là cách duy nhất triệt tiêu tham sân si, HÓA GIẢI (tận cùng) sự chịu đựng buồn vui sướng khổ kia, là ĐẠO ĐẾ (dukkha nirodhagāminī ariya sacca).
TỨ DIỆU ĐẾcó thể chia làm 2 phân đoạn :
Phân đoạn I gồm :
<>KHỔ ĐẾ và TẬP ĐẾ (dukkhaca samudayaca) là cặp luận đề thứ nhất, (pathama upasiddhanta) nói về sự XUNG ĐỘT chứa nhân quả (virodha), của vận hành vũ trụ (āloko saṅkhārā) giữa vật chất THÔ» (olārila rūpa) và vật chất TẾ (sukhuma rūpa). -Phật giáo gọi «vũ trụ vật chất THÔ» là «thế giới tứ đại» (catu mahādhātu loka), và gọi «vũ trụ vật chất TẾ» là «thế giới năng lượng» (āloka-ussāha).
*«Vũ trụ vật chất THÔ» gồm ĐẤT (paṭhavī), NƯỚC (apo), LỬA (tejo) và KHÍ (vāyo). -Đó là «môi trường hỗn mang» (ākāsa saṅkiṇṇa) để «VÔ MINH (avijjā) gây ra hành động quá khứ (atīta-kamma) gọi là NHÂN HỖN HỢP (hetu vokiṇṇa), bằng vật chất THÔ (olārika rūpa) lẫn TẾ (sukhuma rūpa). –Nhân hỗn hợp ấy tạo ra thân xác hiện tại (nāma-rūpa paccuppanna) chứa đầy tham sân si là QUẢ thô và tế (sukhuma vipāka olārika) của «GIÒNG CHẢY TÂM» (bhavaṅga), rồi gọi sự CỘNG NGHIỆP (sādhāraṇa kamma) đang diễn ra trước mắt, là DUYÊN TƯƠNG TÁC (paticca samudaya paccaya).
*Cả 2 NHÂN và DUYÊN vận hành, biểu lộ ra sự chịu đựng ĐAU KHỔ triền miên là THỌ QUẢ (Vedanā-vipāka), trong sắc TẾ (sukhuma rūpa). -Rồi cả 3 NHÂN-DUYÊN-QUẢ xoay vần hoán vị, để đến lượt hành động của thân tâm chứa đầy tham sân si CỘNG NGHIỆP hiện tại đóng vai NHÂN, «tạo ra» thân tâm chứa đầy tham sân si CỘNG NGHIỆP tương lai, -cũng với dạng thân tâm chứa tham sân si sẽ là QUẢ KHÁC (añña-vipāka). -Làm cho thức tánh trong «giòng chảy tâm» (bhavaṅga) của chúng sanh tự nhiên rơi vào «QUI ƯỚC» rồi xoay vòng bất tận, tạo ra THỜI GIAN (kāla) dưới “dạng” tuần hoàn NGÀY và ĐÊM vô tiền vô hậu, -bảo rằng «ngày đi trước đêm», hay «đêm cũng đi trước ngày» đều đúng !
Phân đoạn II gồm :
*DIỆT ĐẾ và ĐẠO ĐẾ (dukkhanirodhaca nirodhagāminīpatipadāca) là cặp luận đề thứ II, (dutiya upasiddhanta) nói về vận hành tam thế thuần túy vật chất TẾ(Sukhuma rūpa loka), tiến hóa đếnSIÊU THOÁT» (lokuttara-phala pariṇāma). -Nó xác nhận HÀNH ĐỘNG THUẦN THIỆN HIỆN TẠI (Paccuppanna-vijjākamma), hay NẾP SỐNG ĐÚNG BÁT CHÁNH ĐẠO (Atthaṅgikamagga-jīvita) là NHÂN (Hetu), cũng là phương phápthanh lọc thân tâm (dứt sạch tham sân si CỘNG NGHIỆP) làm DUYÊN (paccaya) trong cõi vật chất TẾ (Visuddhi sukhuma paccaya bhūmi=cảnh thanh tịnh), để về sau có tiến trình XUẤT THẾ (lokuttara-pariṇāma). -Và sự hết chịu đựng đau khổ CỘNG NGHIỆP, chấm dứt luân hồi (saṃsāra vimutti) chính là QUẢ (Vipāka), -hay niết-bàn (Nibbāna). -Từ đó suy ra, «hành động duy tác, vô lậu của thân tâm PHẬT dứt tham sân si CỘNG NGHIỆP HIỆN TẠI đanglà NHÂN, để KHÔNG còn tạo ra thân tâm chứa đầy tham sân si CỘNG NGHIỆP TƯƠNG LAI (anāgata) là QUẢ (Lokuttara-vipāka).
<>TỨ DIỆU ĐẾ hay «Bốn Sự Thật Muôn đời» (nicca catu ariyasaccāni) trong Phật giáo không phải là những pháp có thể ĐÚNG hay SAI trong mỗi trường hợp (=tương đối), mà ở đây NÓ ám chỉ tính «luôn luôn như thế» (tathāgata dhammā), và chẳng có «phẩm cách nào giải thóat sâu sắc hơn». -Chúng ta có thể nói rằng, «toàn bộ giáo lý của Bậc Toàn giác (Sammāsambuddhassa-sabbasāsāna) vốn nằm hẳn trong TỨ DIỆU ĐẾ (Catu ariyasaccāni)». -Vì vậy mới có câu «Ai hiểu thấu Tứ Diệu Đế là hiểu Phật».
Trình bày TỨ ĐẾ dựa trên VI DIỆU PHÁP (Abhidhamma) :
<>DIỆU ĐẾ thứ nhất (pathama ariyasacca) nói «có thân tâm tứ đại tất nhiên là có nghịch cảnh» hay «phải chịu đựng thuận nghịch, vui buồn», (=KHỔ ĐẾ=dukkha ariya sacca). Chân lý nầy ám chỉ tất cả các pháp hành, diễn ra trong cuộc sống có 4 giai đoạn biến dịch (thành trụ hoại không) đều là NHỊ BIÊN (xung đột), -ngoại trừ «nguồn gốc của nó» (samudaya) lúc chưa phối hợp với tứ đại (catu mahādhātu), -tức là ngoại trừ «trạng thái tương đương với hết chịu đựng» (dukkha nirodha), -và ngoại trừ «con đường đưa đến hết chịu đựng» (dukkhanirodhagāminī hay atthaṅgika ariya magga).
-Theo VI DIỆU PHÁP (abhidhamma), khổ đế (dukkha ariyasacca) nêu ra một «hỗn hợp ngũ uẩn» (=thân xác và tinh thần), gồm 28 sắc pháp (rūpa), hay «vật chất hiện tượng», và 81 tâm vương hiệp thế (lokiya citta), cùng với 51 tâm sở luân hồi (saṃmāra cetasika). -Nói cách khác, bất cứ những gì hiện hữu trong dục giới (kāmaloka), trong sắc giới (rūpaloka) và trong vô sắc giới (arūpaloka) đều PHẢI CHỊU ĐỰNG hợp tan, thuận nghịch (tức là có thọ mạng ngắn hay dài, trước sau gì cũng phải chấm dứt (=sinh dẫn đến tử). -Bản chất của TAM GIỚI (tilokā) là VÔ THƯỜNG (aniccā = biển đổi hoài). -KHỔ NÃO (dukkha = bất toại nguyện), và VÔ NGÃ (anatta = không bền vững), sinh, trụ, dị, diệt xoay vòng. -Cuối cùng sẽ HOÀN KHÔNG (suññatā), để tùy nghiệp quả LẬP LẠI (saṃsāra) !
*Diệu đế thứ nhất cũng chỉ ra rằng, tất cả chúng sanh trong CÕI DỤC (sabbakāmaloka sattā) hằng luân hồi (saṃsāra) với thân tâm THÔ (olārika) cũng như TẾ (sukhuma) : -Từ ngữ «THÔ» (olārika) ở đây ám chỉ có bản chất nhiều ô-trược(bahāsubhaka), bất tịnh (bahūkiliṭṭha), nên THÂN SỐNG của chúng sinh (satta-kāyarūpa) hằng biểu lộ dưới dạng LỚN (mahanta) hay NHỎ (khuddaka), kết hợp bởi vật chất hữu cơ (iṅdriyabaddha) lẫn vô cơ (aniṅdriyabaddha) có khối lượng tứ đại từ lớn đến tương đối lớn, hay từ nhỏ đến tương đối nhỏ, -sống hạn chế trong cái khung trần giangồm 5 cảnh sa đọa, là 1/loài người (manussa), 2/súc sinh (pāṇī), 3/a-tu-la (atula), 4/ngạ quỉ (peta), và 5/địa ngục (niraya).
-Khi hết tuổi thọ thì phải tự tái sinh, tùy theo quả báo của hành động trước (atīta kamma=NGHIỆP), xuyên qua «4 dạng luân hồi» là noãn sinh, thai sinh, thấp sinh, và hóa sinh, để sau khi sinh không thoát khỏi lão bệnh tử. -Đó là 4 CỬA bước vào cảnh giới bất toại nguyện đầy dằn vật, -tất nhiên phải CHỊU ĐỰNG thuân nghịch (=KHỔ=PHIỀN NÃO), -nhất là KHỔ trong 5 cõi DỤC VỌNG (kāmabhūmi) nêu trên !
-Đặc biệt từ ngữ «TẾ» (sukhuma) ở đây ám chỉ «chúng sinh có bản tính ít ô trược», do tham sân si, vướng mắc rồi mục nát (saṅkhittena), –nhưngTHÂN SỐNG cũng có LỚN có NHỎ, có THẤP có CAO…được kết hợp bởi TẬP KHÍ «dục lượng tử» và «dục quang tử». Nếu ở cõi HẠ KHÍ QUYỂN (thấp) thì thân mang «vi thể» có từ trường từ rộng đến tương đối rộng, còn ở cõi THƯỢNG KHÍ QUYỂN (cao) thì thân mang «vi thể ánh sáng» từ «hạn chế hẹp»đến «hạn chế rộng», -sống trên hay ngoàiđịa cầu (gồm cả bầu không khí bao quanh quả đất, tạm gọi là «thiên chúng dục giới» (kāma devā) và «thiên chúng sắc giới» (rūpa devā). «Họ» có thọ mạng khá lâu (so với loài người), rồi khi hết tuổi thọ họ cũng tái hiện vào cõi nào đó, tùy theo quả phúc xưa còn nhiều hay ít, bằng thai sinh, noãn sinh, hay hóa sinh. –«Hóa sinh» thường ám chỉ các «cõi trời».
<>DIỆU ĐẾ thứ hai (dutiya ariyasacca) nêu ra NGUỒN GỐCcủa chịu đựng thuận nghịch ĐAUKHỔ (dukkha-samudaya) là VÔ MINH (avijjā) và DỤC VỌNG (taṇhā). -Nói chung là do THAM SÂN SI (lobha dosa moha) trong thân tâm luân hồi gây ra. Nhưng 3 nhân xấu ấy được VI DIỆU PHÁP (Abhidhamma) trình bày dưới dạng «động cơ» TÂM THỨC (vipākacitta-viññāna) hay «tinh thần» (Maṇa) đã bị vướng mắc tam độc và bị ô nhiễm, gồm tổng quát 81 tâm, dưới 3 loại vọng tưởng (sañña-taṇhā) như sau :
1-Thèm khát hưởng thụ ngũ trần giữa cõi dục (kāma taṇhā) : 54 tâm.
2-Mong muốn hưởng thụ các cảnh thiên giới (bhavataṇhā) : 15 tâm.
3-Mơ ước hưởng thụ 1 kiếp sống vĩnh cửu (vibhavataṇhā) : 12 tâm.
<>Cũng theo VI DIỆU PHÁP (Abhidhamma) thì 15 tâm mong muốn hưởng thụ các cảnh thiên giới (bhavataṇhā) và 12 tâm mơ ước hưởng thụ một kiếp sống vĩnh cửu (vibhavataṇhā) vừa nêu trên, được biểu lộ là những Tâm Thiền (jhāna-citta) thuộc sắc giới (rūpa-loka) và vô sắc giới (arūpa-loka). Chúng vốn chứa «năng lượng phát quang» (uyyāma jotita), hay «có tuệ căn» (paññā-iṅdriya), nên được mệnh danh (paccaññāsiṃ) một cách tiên hóa thanh cao, là «tâm đại hạnh» (mahaggata-citta). -Nghĩa là tổng số 27 tâm nầy là kết quả của «thiền hữu sắc» (rūpạ-jhāna) và «thiền vô sắc» (arūpa-jhāna).
*Đây chính là lý do mà một Bậc Đại Hạnh khi tròn đủ công phu «xả ly ba-la-mật» (upekkhā-paramattha-pāramitā), không vướng mắc vào «bất cứ thiền quả lạc thọ nào» (sukha-somaṇa-vipāka anupādāna), và thể nhập được pháp VÔ THƯỜNG (aniccā dhammā) rồi đắc pháp THÂN KIẾN (sakkāyadiṭṭhi = thấy sự thật thân tâm mình là hoàn không), Ngài trở thành Thánh Tu-đà-hườn (sotāpattipanna) với trí tuệ dứt hoài nghi và diệt mê tín. (vicikicchā-sīlabbasapasāmāsa vimutti). -Từ đó, trong số 89 tâm tuy còn phàm, nhưng tu đã đắc thiềnHƯỚNG THƯỢNG có chứa 8 tâm siêu thế, hằng phát sinh nơi 4 hạng Thánh nhân (ariya puggala) là :
*Bậc TU-ĐÀ-HƯỜN (Sotāpattipanna) có 1 tâm đạo (Sotāpatti-magga-citta) và 1 tâm quả (Sotāpatti-phala-citta)
*Bậc TƯ-ĐÀ-HÀM (Sakadāgāmi) có 1 tâm đạo (Sakadāgāmi-magga-citta), và 1 tâm quả (Sakadāgāmi-phala-citta).
*Bậc A-NA-HÀM (Ᾱnāgāmi) có 1 tâm đạo (Ᾱnāgāmi-magga-citta) và 1 tâm quả (Ᾱnāgāmi-phala-citta).
*Bậc A-LA-HÁN (Arahattāgāmi) có 1 tâm đạo (Ahattāgāmi-magga-citta) và 1 tâm quả (Arahattāgāmi-phala-citta).
–Tám tâm siêu thế nầy nếu kết hợp với 5 chi thiền hữu sắc, là TẦM, TỨ, HỶ, LẠC, và ĐỊNH (vitakka, vicāra, pīti, sukha, ekaggatā), nên Thánh nhân khi còn tại tiền, thường sống với 40 tâm thanh tịnh trong THIỀN PHÁP (ayaṃ visuddhi-cittāni) mà thôi. (8 x 5 = 40).
-Như vậy TẬP ĐẾ (Samudaya ariya sacca) phản ảnh qua VI DIỆU PHÁP (Abhidhamma), ám chỉ 81 tâm vương và 46 tâm sở (gồm thiện lẫn bất thiện), là những tâm vẫn vướng trong tam giới luân hồi (tiloka). -Chỉ có 8 tâm thánh nhân (từ Tu-đà-hườn đạođến A-la-hán quả), hay 40 tâm thiền là SIÊU THẾ (Lokuttara-citta) thì được gọi là «NGOẠI TRỪ» (lokuttara). Những thánh tâm nầy sẽ thuộc về «Diệt đế», hay đang đi trên con đường đến «NIẾT-BÀN» (nibbāna).
<>DIỆU ĐẾ thứ ba (tatiya ariyasacca) hay DIỆT ĐẾ (Nirodha ariyasacca), xác nhận rằng, khi chấm dứt 3 nguyên nhân bất thiện (THAM SÂN SI) hết chịu đựng luân hồi, thì ấy là DIỆT KHỔ (dukkha-nirodha), hoàn toàn giải thoát (saṃsāra vimutti) hay Niết-bàn (nibbāna). -Xin đừng quên rằng NIẾT-BÀN trong đạo Phật là CỨU CÁNH VÔ BIÊN (carimakatta appamāṇa), –không thể được tượng trưng bằng một cảnh giới cực lạc nào cả, dù là nhiều hạnh phúc đến đâu !
*Nhưng Phật (Buddha) hay Thánh nhân (Ariya puggala) lúc chưa nhập diệt (nibbāna), các Ngài vì còn mang thân tứ đại, với «tiến trình lý hóa» của sắc thô và tế, luôn nằm trong tình trạng thành-trụ-hoại-không, nên các Ngài tự nhiên sống với những tâm vương duy tác (kiriya-citta) và những tâm sở vô lượng (appamāṇa cetasika), -nhất là 8 tâm đạo quả và 40 tâm thiền, như đã nêu.
<>Tuy nhiên, vẫn có một số «kinh sách» diễn tả về Niết-bàn hiện tiền, thì đó chỉ là ẩn dụ, để tạm thời nói lên «sự thanh tịnh tuyệt vời của một vị Phật chưa viên tịch». -DIỆU ĐẾ thứ ba xác minh rằng,«tham sân si chấm dứt, thì sự tái sinh (=luân hồi=saṃsāra) không còn điều kiện để tiếp tục». Từ đó, thân Phật tại tiền tuy còn bị vô thường (lão bệnh tử) ảnh hưởng, nhưng trước 3 tình trạng lão, bệnh và tử ấy, Tâm Phật (hay Thánh A-la-hán) chẳng vướng mắc thân sống, nên không chịu đựng khổ não, -tức là DIỆT KHỔ ! -Hay các Ngài sống trong phẩm cách hữu dư niết-bàn (upādisesa nibbāna).
<>DIỆU ĐẾ THỨ TƯ (catutthī ariyasacca) nêu rõ rằng, «con đường giải thoát» thành toàn giác, không xây dựng trên nắm vững lý thuyết, mà là trên thực hành bát chánh đạo, gọi là «công phu ba-la-mật» (pāramitā bhāvanā). -BÁT CHÁNH ĐẠO (Atthaṅgika magga) là lộ trình giải thoát, gồm 8 giác chi, 1/chánh kiến (sammādiṭṭhi), 2/chánh tư duy (sammāsaṅkappo), 3/chánh ngữ (sammāvācā), 4/chánh nghiệp (sammākammantā), 5/chánh mạng (sammā ājīvā), 6/chánh tinh tấn (sammā vāyāmo), 7/chánh niệm (sammāsaṭi), và 8/chánh định (sammāsamādhi)…vốn luôn luôn có phẩm tính tương tác !
*Đạo đế (magga ariyasacca) chính là «KỸ THUẬT» (sippakalā) giải quyết tận gốc các vòng sinh tử luân hồi. -Nói theo khoa học vật lý(rūpa vijjā) hằng biến hóa (sadā rūpantaraparivattana), thì đó là giai đoạn cải thiện để tiến bộ xuyên qua thực hành các hệ luận hướng thượng, rút ra từ «công thức thăng hoa» (=thấy lỗi và trường kỳ tu tập, sửa sai đến cùng).
<>Sau đây là bản đối chiếu TỨ DIỆU ĐẾ và «công thức thăng tiến» :
Các hệ luận TRẢI NGHIỆM Tứ Diệu Đế
Bước 1 Đối diện lỗi lầm Chịu đựng=Khổ đế.
Bước 2 Nếu ra gốc lỗi lầm Biết rõ do tham sân si=Tập đế.
Bước 3 Xác nhận dứt lỗi lầm. Hết tham sân si=Diệt đế.
Bước 4 Hành đủ pháp cải thiện. Tám đoạn trừ khổ =Đạo đế.
<>Bốn SƯ THẬT nêu trên chính là Phật Pháp Xuất Thế (=hoàn chỉnh). -Còn 5 bước của khoa học vốn là pháp nhập thế (=tương đối), nên nó cần «bước cuối cùng» của «hệ luận thứ nhất», để làm «đòn bẩy» cho «bước đầu» của «hệ luận thứ hai», rồi «bước cuối cùng» trong «hệ luận thứ hai», sẽ làm «đòn bẩy» cho «bước đầu» của «hệ luận thứ ba», -và cứ thế tiếp tục, xuyên qua các hệ luận thứ tư, thứ năm, và thứ sáu .v.v…nếu cần…trong khoa học vật chất của nhân loại, thuộc cuộc sống luân hồi !
-Tất cả kinh nghiệm thế gian đều có «5 bước» như thế. -Và sau cùng đạt được «hệ luận chung kết», không còn bổ túc nữa, từ đó gọi là «duy trì kỷ thuật»đúng,để thường xuyên có thành công hay kết quả tốt, trong sự sống xoay vòng hết thịnh đến suy. Tuy gọi là THÀNH CÔNG hay KẾT QUẢ TỐT, nhưng ở đây vẫn ngụ ý rằng, sản phẩm theo khoa học lý hóa chỉ chế tạo một cách «cho là hoàn hảo qui ước», nhưng vẫn còn nằm trong sự vô thường !
-Ví như trong Phật giáo, khi đạo đức do văn hóa hướng thiện, chưa tiến đến thanh tịnh XUẤT THẾ, thì «bát chánh đạo» cũng chỉ đem lại sự an vui VẬT CHẤT cũng như TINH THẦN hữu hạn, gọi là «tiến hóa tương đối» mà thôi !
<>Cần nhấn mạnh rằng, Đạo Phật áp dụng Bát Chánh Đạo vào đời sống phàm phu, như kỷ thuật cải thiện cả THÂN (kāya-rūpa) lẫn TÂM (citta-viññāna). -Đó là một SIÊU PHẨM CÁCH làm thanh tịnh HỖN HỢP SỐNG (thể xác và tinh thần), đoạn tận những tật xấu từ THÂN, KHẨU đến Ý. -Bát Chánh Đạo bao gồm «các hệ luận», vận hành một cách TƯƠNG TÁC và QUÂN BÌNH (trung đạo), -không thiên về vật chất hay thiên về tinh thần.
-«CÁC HỆ LUẬN» ấy của Bát Chánh Đạo (atthaṅgika-magga), cũng được Phật học trình bày dưới dạng «bộ ba» giới-định-tuệ (sīla-samādhi-paññā), nhưng chúng vẫn chứa đựng «các bước cải thiện liên quan đồng bộ», như trong khoa học lý hóa, thuần vật chất THÔ (olārika) và TẾ (sukhuma) vậy.
HIỆU LỰC của giới-định-tuệ :
<>GIỚI (sīla) giúp cho phàm nhân (puthujjano) hướng thượng cải thiện hành động ở THÂN (kāya-kamma), ở KHẨU(vacī-kamma), và một phần ở Ý (maṇo-kadesato-kamma), -tức là thường xuyên thuần thục trong «ba phương diện tiết chế hướng thiện» (kusala-tiviratī), là chánh ngữ (sammācācā), chánh nghiệp (sammākammanto) và chánh mạng (sammā ājīvo).
<>ĐỊNH (Samādhi) làm cho TINH THẦN (maṇo) của phàm nhân hướng thượng, an trú (appanā) một cách tích cực (sammā vāyāmo) trong đề mục lành mạnh, hay chánh niệm (sammā saṭi) và chánh cần (padhāna). –Chuyên cần còn gọi là chánh tinh tấn (sammā vāyāmo).
<>TUỆ (Paññā) giúp cho TÂM THỨC (citta-viññāna) của phàm nhân hướng thiện, trong sáng (vijjā), và SUY NGHĨ (cetanā) lành mạnh (vô hại=ahiṃsa), -hay THỨC TÁNH (maṇo-viññāna) ấy đạt chánh kiến (sammā diṭṭhi) và chánh tư duy (sammā saṅkappo).
*Nhóm từ in đậm «các bước cải thiện liên quan đồng bộ», của CÁC HỆ LUẬN nêu ra trước đây, ám chỉ những giai đoạn 1/chịu đựng lỗi lầm, 2/tìm ra nguyên nhân, 3/xác định nguồn xấu, 4/sửa sai tội lỗi, và sau cùng 5/qui nạp cách hành động cải thiện hiệu lực, nhằm «bổ túc các kiến thức tiền hành», bằng xuyên qua những trải nghiệm trong các chu kỳ theo sau, vừa tương đối giống nhau vừa để tiến hóa, trong nền VĂN MINH vật chất cũng như trong khoa học thanh lọc tinh thần (đạo Phật), cho đến khi đạt mục đích cuối cùng.
*Riêng đối với Thánh Nhân (Ariya puggala) trong nhà Phật, thì Bát Chánh Đạo (atthaṅgika sammā magga) cũng là BÁT THÁNH ĐẠO (Atthaṅgika Ariya Magga), vì ấy là hạnh sống toàn thiện. -Và trong tư tưởng phàm nhân chúng ta không có phẩm ách nào tương đương để so sánh hay chứng minh. -Chúng ta chỉ biết rằng, các Ngài sống siêu thoát như vậy cho đến khi nhắm mắt, sau đó hết sinh tử luân hồi !
<>Căn cứ vào những điều HIỂN NHIÊN nêu trên, chúng ta có thể nói rằng, «Đức Phật vừa là một bậc siêu phàm (abhi-manusso), vừa là một «khoa học gia duy nhất» (aneka vijjāvisārada), đã tìm ra giải pháp chính xác, để chẳng những «duy trì khỏe mạnh vật chất» (=hòa bình tiến hóa xã hội), mà còn có HIỆU LỰC «thanh lọc tinh thần», -gọi chung là CẢI THIỆN THÂN TÂM (kāya-citta saṃvattati), đóng góp hạnh phúc (maṅgala) một cách độc đáo vào sự sống nhân loại (manussa-jīvitaṃ). Và Đức Phật quả thật rất xứng đáng có những «danh hiệu» mô tả «ân đức» (guṇa) của Ngài đối với chúng sanh, như «Ứng cúng» (Arahaṃ), «Chánh biến tri» (Sammā-sambuddha), «Minh hạnh túc» (Vijjā-caraṇa-sampanno), «Thiên thệ» (Sugato), «Thế gian giải» (Lokavidū), «Vô thượng sỹ» (Anuttaro), «Điều ngự trượng phu» (Purisa-dammasārathī), «Thiên nhân sư» (Satthā-deva-manussānaṃ), «Phật» (Buddho), và «Thế tôn» (Bhagavā)!
*Theo giáo sử, bậc Toàn Giác đã trải qua vô số vòng luân hồi HÀNH THIỆN, và giai đoạn sau cùng (=kiếp chót), gồm 49 ngày đêm nhập đại định (vedanānirodha sampatti samatha), Ngài vẫn dùng bản thân mình như một «dụng cụ thực nghiệm», để khám phá «sự giải thoát cuối cùng», như những BIẾN HÀNH LÝ HÓA để thăng hoatrong cuộc đời văn minh và hoàn toàn trong thanh tịnh vũ trụ vậy.
<>Dù cho Phật học đã nói, «trong mỗi thân tâm phàm phu, có chứa «mầm thành Phật». -Nhưng tên thực tế, chính ĐẠO ĐỨC CỤ THỂ HIỆN TẠI mới chứng minh được, tiềm năng ấy thực sự như thế nào, cao thâm ra sao, và «có thể nở hoa» trong bao lâu ! -Còn «các tư tưởng thoát tục»hay «lý thuyết vô ngã» (mô tả tư cách siêu nhiên của Thánh nhân, bởi tâm lý phàm tình), ghi trong sách vở, vốn vẫn chỉ là «tưởng tượng» (-dù ấy là «tưởng tượng hướng thiện» !), -vì nó thuộc về ảo ảnh hơn là thực tế. Đây là một thứ cạm bẩy lừa gạt những người vô minh, lười biếng…tâm chứa «xan tham nâng cấp» !
*Nói cách khác, nếu phàm nhân không LÀNH MẠNH THÂN TÂM (=chưa thanh lọc tri thức) theo thứ tự GIỚI ĐỊNH TUỆ, và chưa sống đúng Bát Chánh Đạo, thì tư duy gọi là «vô ngã, thánh thiện» ấy sẽ trở thành số «0», và mỗi kiếp sống say mê lý thuyết thoát tục, chỉ là một «bước» lún sâu, trong vòng dục vọng danh vị, luân hồi vô tận !
-Theo «Kê Khai Định Kỳ» về LÝ HÓA THUẦN TÚY, của hai nhà bác học lừng danh, là Dmitri Meldeleev (người Nga) và Albert Einstein (người Đức), thì các phân tử vật chất khi được cải thiện, sẽ hợp tác tốt hơn trong những TRẢI NGHIỆM TIẾP THEO.- Điều nầy chứng tỏ rằng, có «sự tương đồng» giữa Phật học và khoa học. -Đó là sự TU TẬP THÂN TÂM, triệt tiêu tham sân si để tiến tới THANH TỊNH, giải thoát (=vượt qua thuận nghịch), hay HẾT KHỔ…có thể xem như thực nghiệm khoa học, vềphương diện tâm linh. -Và TỨ DIỆU ĐẾ (Catu ariya Saccāni) là một khoa học vô cùng minh triết !