Bài V
Tư tưởng Phật giáo trong đời sống tân tiến.
<>Ngoài việc nêu ra thiện pháp sống chung (=thân hữu, dung thông, mở rộng, hướng thiện), để “duy trì” sinh hoạt an vui,TỰ DO (trong kỷ luật xây dựng đạo đức) và TIẾN BỘ cho xã hội,Phật giáo còn cống hiến một số PHÁP LÀNH, vào việc “quân bình tư cách con người”, nhằm cải thiện kinh tế, nâng cao phẩm chất vật dụng. Đó là nguyên tắc sống chung tiến bộ, rằng «muốn cho tinh xảo hơn, nhà sản xuất phải chấp nhận sự cạnh tranh hợp pháp, như một cần thiết» trong «THĂNG HOA CHẾ TẠO», -nhằm tiến hóa !
*Vì có mưu cầu tinh xảo, thì sự thi đua làm tốt mới có thể thực hiện được, -không những trong lãnh vực phát huy kinh tế (cộng tồn), mà còn trong các lãnh vực khác, như giáo dục, kỹ thuật, tài chánh, chính trị, văn hóa v.v… để liên tục xây dựng, phát triển cộng đồng đa diện, khi đời sống càng ngày càng phát sinh NHU CẦU mới !
*Rồi «THƯ GIÃN» cũng là một «nhu cầu cần thiết» cho tất cả. Người ta đã nghĩ ra nhiều cách «giải trí», để giải tỏa các áp lực trong đời sống tân thời phức tạp, giúp con người bớt đi căng thẳng thần kinh. -Nhưng trong nhu cầu nầy, Phật giáo luôn luôn đặc biệt «nhấn mạnh», giải trí phải lành mạnh, hướng thiện, “KHÔNG dẫm lên đạo đức xã hội”, và KHÔNG biến “THÚ VUI” (thư giãn) thành cơ hội thõa mãn dục lạc thấp hèn.
-Ngược lại với tinh thần tiến hóa vừa nêu trên…là sa đọa, tụt hậu, tiêu cực, thụ động ! -Nhà Phật xem mọi sinh hoạt cộng đồng (trong đó cóGIẢI TRÍ), là xây dựng cuộc đời, phải mang ý nghĩa tu bổ môi trường, ái hữu xã hội, văn hóa thông thoáng, âm nhạc nhân văn, nghệ thuật khai trí, hướng nghiệp mở rộng v.v…vì các thứ ấy vốn cũng là những phương tiện thư giản có nội dung thăng hoa.
*Đặc biệt hơn nữa, là Phật giáo còn khuyến khích THỂ THAO qua PHÁP THIỀN, -nghĩa là con người nên thực tập động tác nhịp nhàng theo hơi thở, nhất là không phóng tâm nghĩ đến chuyện tiêu cực khác. -Đây là một giải pháp rất hữu hiệu, giúp tinh thần con người “tạm thời cách ly” khỏi quấy nhiễu của tham-sân-si trong một thời gian nào đó mỗi ngày. Mục đích là để tương đối duy trì “THĂNG BẰNG THÂN TÂM” -dù cho đương sự vẫn còn sống trong nếp sống nhiễu nhương, tranh đấu giữa thế gian ! -Với ý nghĩa nầy, HÀNH THIỀN tức là “một cách làm giảm” những chịu đựng nặng nhọc do lao động, tinh thần cũng như thể xác !
<>Mặt khác, kinh tế hoàn cầu đang chuyển mình một cách “bất định”. Con người thật sự bị lôi kéo vào tình trạng “phải giải quyết nghịch cảnh trước mắt không thể tránh được”, và họ RẤT CẦN những phương pháp “làm sao tìm lại sự yên tĩnh thân tâm” (=thăng bằng), để có thể tiếp tục sinh hoạt bình thường. -Người ta thỉnh thoảng đã uống thuốc an thần để được tỉnh táo, hay để có “giấc ngủ bình an”, tạm quên đi, mà không hằn học “không kết tội” mặt trái của tiến bộ vật chất. -Chưa kể sự “ép mình sống chung với buồn chán, mệt mỏi, và độc điệu”, vẫn được xem như cách “đối trị” (đáng tiếc gọi là «chịu cho quen cái KHỔ»), và ấy là “giải pháp tạm thời”, «nhờ» xử dụng tự kỷ ám thị (auto-suggestion).
<>Hiện tại gần như ai trong cuộc đời cũng tự hỏi rằng, “đây là đâu, và ta đang làm gì trong hoàn cảnh nầy ?”. -Rồi tùy mỗi trường hợp mà từng cá nhân dùng «thông minh bẩm sinh» tự động qui nạp rằng, “dù ta có tất cả những gì ta muốn, ta vẫn không hoàn toàn được hạnh phúc !” -Vậy «đâu là nguyên nhân của cảm giác và ý nghĩ tiêu cực đó?» -Phải chăng con người, khi bị kẹt giữa một bên là áp lực bon chen trong cuộc sống, và bên kia là hậu quả buồn chán, mệt mỏi, độc điệu…thì tinh thần không tránh khỏi chịu đựng, khó tìm ra lối thoát (tạm gọi là “tật bất mãn muôn đời”) thì ấy là tình trạng «tự nhiên» ?!
-Câu trả lời chắc chắn nằm trong vấn đề «tương quan trách nhiệm» !
Quan niệm thế nào về trách nhiệm !(?)
<>Theo Phật giáo, «trách nhiệm cộng đồng cũng là trách nhiệm cá nhân» (do tính tương tác !). -Rằng chúng ta chỉ có thể trước tiên «qui trách nhiệm về mình». -Thân tâm của chúng ta chính là “cuốn sổ” để kết toán tất cả các hiệu quả XẤU cũng như TỐT (hay ÁC cũng như THIỆN) trong cuộc sống, vì chúng ta vốn đóng vai CHÍNH lẫn PHỤ trong cộng nghiệp (gaṇībhūta kamma). Nghĩa là cuộc sống trước mặt như thế nào vẫn là “sản phẩm tất nhiên” (yathābhūta vipāka), do chính chúng ta “tạo ra” trong quá khứ (=NHÂN) và trong hiện tại…sẽ biến thành DUYÊN trực hệ, hay trách nhiệm !
*Nhưng lòng THAM (lobha, rāga) và VÔ MINH (avijjā) luôn luôn che mờ tinh thần, làm cho chúng ta không thấy rõ trách nhiệm đó ! -Đa số phàm nhân không biết quan sát chính mình, mà chỉ muốn “phàn nàn hoàn cảnh”, để chủ quan tuyên bố rằng «trở ngại không liên quan gì đến ta», «ta bị áp đặt», «ta bị ngược đãi», “ta thiếu cơ hội” hay “ta không may mắn” v.v… -Một phản ứng rất lầm lạc, vô ích !
<>Sự “SOI SÁNG” (rataṇa-vịjutā) quí báu nhất của Đạo Phật, là nêu ra trách nhiệm cá nhân (pacceka dhurandharatā), một «định luật nghiệp quả» (kamma-vipāka niyama), trong mỗi sinh hoạt gia đình và xã hội, để cải thiện thực tại. -Phật giáo không đề cao việc “truy tầm thủ phạm” nằm bên ngoài tâm tánh con người. -Vì khoa học vẫn phân tích rồi qui nạp, đã chứng minh rằng, ngoại cảnh là yếu tố phụ.
*Phật giáo luôn luôn nhấn mạnh nguyên nhân chủ yếu tại tinh thần, và trình bày rõ ràng các thứ “tâm tật” do tham sân si gây ra, chính là nguồn gốc của tất cả hiện tượng «bất an» trong cuộc sống, -nhất là sự phát sinh bệnh hoạn nơi TÂM cũng như nơi THÂN, nói chung !
-Trong khi đó thì hầu hết các “tôn giáo” vẫn dùng «thần học» và “tâm lý”, dựa trên «niềm tin cầu lợi» và thèm khát vật chất, để giải thích các vấn đề (trong đó có bệnh hoạn)…-rằng sự bất hạnh KHÔNG từ đòi hỏi bên trong của mỗi sinh vật (đặc biệt là con người) mà là từ bên ngoài, do sắp đặt của tạo hóa, hay quyền năng thần linh.
-Riêng “thần học” nặng về «tha lực» thì tuy cũng hướng đến một đối tượng linh thiêng bên ngoài, nhưng một phần không phủ nhận nguồn gốc tâm tánh, thì vẫn là «hy vọng huyền hoặc» của tham cầu, phát nguồn từ trong tâm, bởi sự tưởng tượng. -Đối với người tin thần học, đó là «quyền lực» có thể ban phước xá tội mọi sinh vật. -Chưa kể người ta còn “bày ra” một số “nghi thức trừ tà” khá tốn kém và phức tạp vô ích, để “giải quyết cái khổ”…qua dạng «lợi quả» cho giáo sĩ hay thầy tu, sống bằng «hành đạo thiêng liêng, thu lợi nhuận» !
<>Nhưng theo Phật giáo thì phương pháp giải khổ («trừ tà ấy») luôn luôn rất khả thi một cách tự lực, không phức tạp và không tốn kém phiêu lưu. -Đó chính là SỐNG THIỆN, “sáng suốt thực hành những lời bậc toàn giác đề nghị và vô tư trải nghiệm kết quả tiến hóa, để có thể giảm thiểu những chịu đựng trong thân tâm”. -Ngược lại, nếu SỐNG ÁC, thì khổ đau vẫn như cũ hay gia tăng một cách chắc chắn. Vì tình trạng tranh giành vật chất, dẫm lên đạo đức, càng lúc càng rõ rệt trên thế giới. -Nhất là trong giai đoạn PHẬT GIÁO NGUYÊN CHẤT bị coi thường (xem rẻ là «tiểu thừa»), nếu không muốn nói là «ngược đãi» giáo lý nhà Phật !
Nhắc tổng quát về Phật giáo.
<>Toàn bộ Kinh Điển của Đạo Phật (Buddhasāsana) gồm 3 tạng giáo thư (Tipitaka), nêu vắn tắt là 1/TẠNG KINH (Sutta-piṭaka), 2/TẠNG LUẬT (Vinaya-pitaka), và 3/TẠNG LUẬN hay VI DIỆU PHÁP (Abhidhamma-pitaka).
*TẠNG KINH là những Phật ngôn, hay “giáo lý phổ thông” (sikkhāpana mahājanika), do Đức Phật lẫn các Đại đệ tử của Ngài thuyết minh, với sự chấp thuận của Phật, để soi sáng tư tưởng phàm phu, nhất là trong quần chúng bình dân.
*TẠNG LUẬT là những giới cấm (sīla), cũng do Phật tuyên dạy, hay được các Đại đệ tử của Ngài nhắc lại, để ngăn ngừa những hành động tội lỗi (pāpa kamma) ở 3 nơi thân khẩu ý, phát nguồn từ tham sân si, giúp cho người tin Phật tránh điều ác, làm điều lành, giảm oan trái.
<>Giáo lý của Đức Phật luôn luôn nhắm vào việc hướng dẫn loài người nói riêng, và chúng sanh nói chung…thoát khỏi bất hạnh, do tham sân si gây ra, và được sống trong bình an. Đức Phật suốt 45 năm trường vân du ban bố phương pháp giải khổ, Ngài đã nói nhiều về TỨ DIỆU ĐẾ (catu-ariya-saccāni), trong đó có BÁT CHÁNH ĐẠO (atthaṅgika-magga), và mặt khác là THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN (dvādasa-paṭicca-samuppāda), -CHÂN LÝ trình bày một cách minh triết tình trạng luôn luôn tùy thuộc lẫn nhau…như nền tảng (pādaka) của sự sống và tiến hóa !
*Còn những Giáo Pháp khuyến thiện khác (añña-kusala-dhammā) thì Phật nêu ra một cách đa dạng, nhưng có thể nói là không ngoài TAM HỌC (giới định tuệ = sīḷa-samādhi-paññā), để đối trị TAM ĐỘC (lobha-dosa-moha = tham sân si), trong tiến trình rất khoa học là…HỌC, HÀNH và THÀNH. –HỌC là ghi nhớ thiện pháp. –HÀNH là áp dụng thiện pháp, và –THÀNH là XẢ, vô chấp, giải thoát, không vướng mắc, chẳng tự hào khi thuần thục thiện pháp, nhưng sẵn sàng phổ biến, bình đẳng cứu giúp nhân loại, chúng sanh (sabbe sattā) !
<>Ngoài ra, PHÁP THÀNH trong đạo Phật cũng là nền tảng của Tứ Vô Lượng Tâm (catu mahāvihāracitta), gồm TỪ-BI-HỶ-XẢ (mettā-karuṇā-muditā-upekkhā). –Bốn tâm không biên giới nầy khi phát sinh, sẽ rất cần thiết cho đời sống cộng nghiệp của loài người. NÓ là “chất xúc tác” làm cho sự va chạm giữa thế gian giảm bớt tai hại. -Nhờ đó, “trí khôn bẩm sinh” của con người dù còn vô minh, cũng có thể tương đối “hiểu đúng” và “phân biệt đúng” hành động nào ác phải tránh, hành động nào thiện nên làm. -“Bốn loại tâm thanh cao” nầy trong một phàm phu, tuy chưa phải VÔ LƯỢNG, nhưng vẫn có hiệu lực giúp cho con người tỉnh táo, giảm bớt sân hận, không bồng bột, ít làm hại đối tượng, rồi cùng nhau khả dĩ sống chung hòa bình. -ẤY là ĐÓNG GÓP hạnh phúc thiết thực của Phật giáo !
Học và hành lời Phật dạy.
<>Phật giáo chỉ cho từng cá nhân, cách sống hòa hợp để có bình an, không phải cho riêng mình, mà cho cộng đồng xung quanh. Đó chính là phương pháp diệt trừ đau khổ cộng nghiệp (xã hội), -nhắm đến thịnh vượng chung. Từ xưa đến nay, không có chính thể nào “chịu ảnh hưởng văn hóa” từ giáo lý nhà Phật, rồi ngược đãi dân chúng. Đạo Phật không thu hẹp ĐỊNH HƯỚNG CẢI THIỆN như một tôn giáo, mà Đạo Phật là một “cách sống minh triết” vượt thời gian và không gian, để cứu giúp mọi sinh linh, nhất là nhân loại.
<>Mục đích vô cầu lợi của đạo Phật là dùng phục vụ như ĐỘNG LỰC để giải khổ, hay thực hành giải khổ (bằng thân giáo, không lý thuyết) như PHƯƠNG TIỆN duy nhất để phục vụ, tức là phụng sự chúng sanh vô điều kiện !
-Dù cho nói chung, tất cả tôn giáo đều đề cao lòng bác ái, nhưng để thực tế hơn…đạo Phật luôn luôn dựa vào các nguyên tắc căn bản của nhân quả cộng nghiệp, để nhấn mạnh rằng, khi GIỚI (=kỷ luật), ĐỊNH (=ly dục vọng, an tĩnh, vô sân hận), và TUỆ (=tâm trong sáng, tinh khiết) đã thực hành thuần thục đầy đủ, thì đồng thuận, và hòa hợp…tự nhiên được thiết lập. -Các tật xấu, như tham lam, ích kỷ, ganh tị, hiếp đáp, bạo động và bất công sẽ khó phát sinh. Người thấm nhuần Phật giáo tin chắc rằng, LÒNG HY SINH và TINH THẦN PHỤC VỤ CỘNG ĐỒNG, không chỉ đem lại an vui cho đối tượng (xung quanh) mà còn cho chính thân tâm mình. Đó là hiện thân của BÁC ÁI (chân thật), của VÔ LƯỢNG TỪ BI !
-Muốn thăng tiến xã hội, thì “sự thực hành thiện pháp” phải được cụ thể hóa một cách tích cực. -Và đối với đạo Phật, mỗi cá nhân cần ý thức rằng, thuần thục trong giới hạnh và pháp tỉnh thức, là điều tiên quyết không thể thiếu, để làm sao cho 3 phẩm cách rộng lượng, sáng suốt, và can đảm (hay BI-TRÍ-DŨNG), được bộc lộ một cách thường xuyên qua hành động. -Phật giáo luôn luôn kêu gọi giai cấp CẦM QUYỀN cần làm gương, HÀNH THIỆN rồi chia xẻ trải nghiệm cho quần chúng. -Và người dân nên áp dụng kinh KᾹLᾹMA (=tự do tư tưởng), như Phật đã cống hiến lúc sinh tiền, để họ không vội tin hay chẳng vội bỏ khi nghe rao giảng “một lý thuyết” chưa áp dụng.
<>Đạo Phật là “tôn giáo” lấy đức hạnh làm đầu, với phương pháp cải thiện con người…dựa trên công lý, bình đẳng, và hòa bình. -Cứu cánh xã hội của Phật giáo là đạt đến CHÂN THIỆN MỸ, do HÀNH ĐỘNG LÀNH (kusala-kamma), chứ không do lời nói ! Đức Phật đã nhiều lần thuyết minh rằng, “có niềm tin nơi tha lực, rồi mới sống tốt là THỤ ĐỘNG, hoang đường, vô tri thức, trốn tránh bổn phận”, nếu không muốn nói là quá tối tăm, chẳng biết mình đang hiện hữu. -Và ngoan ngoãn nhắm mắt qui mọi KẾT QUẢ thiện ác cho thần linh sắp đặt lên mỗi sinh vật…là thú nhận «mình bất lực», vô trách nhiệm !
-Còn TỰ LỰC là chân lý và sự thật, có hành động lành, do chính mình sáng suốt thực hiện (dù với trí tuệ phàm phu) và sống tiến hóa theo khoa học đạo đức là anh minh. Từ đó, TÍNH TÔN TRỌNG TRÁCH NHIỆM là yếu tố bình an cộng đồng. -Pháp GIÁC NGỘ trong nhà Phật còn xác nhận rằng, “nương nhờ ngoại năng là phục tùng tham vọng của kẻ khác” !
<>Đức Phật tuy chưa hoàn toàn phủ nhận «tha lực», nhưng tuyệt đối Ngài không đề cao tha lực và khách quan phê phán sự tùy thuộc vào vô minh, để trở thành bất lực. Phật giáo luôn luôn tôn trọng “tính sáng suốt và chuyên cần nơi mỗi con người, -ấy vốn là nền tảng của thành công, tiến hóa và hạnh phúc” -Còn tha lực chỉ là yếu tố hỗ trợ, đóng vai phụ ! -Nói rõ hơn, «không có tự lực thì khó có điều kiện tiếp cận với tha lực», hay «tha lực hằng tùy thuộc vào tự lực». -Như ám chỉ trong «pháp cú ngụ ngôn» sau đây :
“Mỗi cá nhân là thần bảo hộ đối với chính mình,
Là nơi nương nhờ duy nhất của họ.
Do đó, mỗi người phải hướng thiện hành động,
Như người đánh xe chăm sóc con ngựa vậy…”.
<>Theo kinh Phật, xác nhận “chủ lực đến từ bên trong” là điều lành mạnh cốt lõi cho mọi vấn đề, để không viễn vong tin rằng, “có một đấng toàn năng, phán quyết mọi hành động”. -Thuyết phục «tín đồ», xem Phật như bậc toàn năng, có thể «ban phước xá tội» là điều hoàn toàn nghịch lý ! -Giáo pháp của Đức Phật ví như ngón tay, minh bạch chỉ vào hướng đi đúng (bình yên) cho mỗi cá nhân, chứ không phải mũi nhọn áp đặt phương hướng, dí vào lưng…ép nạn nhân bước tới theo chủ ý vụ lợi của giáo chủ ! -Ngoài ra, Phật tuy thuyết pháp lành đến tất cả, nhưng tùy theo “căn duyên” mà người nghe được soi sáng nhiều hay ít, để tự tiến bước !
*CĂN DUYÊN nói ở đây chính là “thước tấc”, biểu lộ Phật giáo được «hiểu biết» sâu hay cạn như thế nào…trong mỗi trình độ hướng thiện. -Phật giáo không làm cho người ta bi quan hay lạc quan, như thế gian lầm tưởng. Vì sống theo Đạo Phật là “tri thức thực tại”, hành động hòa thuận và hài lòng với nghiệp quả mang thân nầy. Đó là phương pháp luôn luôn hóa giải mọi cảm thọ một cách thanh tịnh, can đảm, thực tiễn ! -«Phật tử» nam hoặc nữ (upāsaka vā upāsikā vā) tin Bậc Giác Ngộ là một con người hướng tịnh “thấy vạn vật đúng bản chất của nó”. Và ấy cũng là “một phần ý nghĩa” của 2 chữ “NHƯ LAI” (Tathāgata).
Tiến hóa trong Đạo Phật.
<>Với Trí Tuệ Siêu Thoát (lokuttara-paññā = Bát-nhã), Đức Phật đã hướng dẫn chúng ta, kể cả những người hành đạo tại gia (cư sĩ), một nếp SỐNG THIỆN, căn bản là giữ 5 giới (không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, và không dùng chất say). Đây là những kỹ luật (sīla) giản dị, phổ thông, và dễ hiểu về “nhân phẩm”. Nhưng NĂNG LỰC của NÓ trên “con đường giác ngộ thành Phật” không phải chỉ là bình an, hay giảm thiểu oan trái (=xung đột cộng nghiệp khổ) …-mà còn hàm chứa hạnh phúc vị tha, thăng hoa hơn nữa. -Người thuần thục 5 giới thì rất thích cứu giúp kẻ khác, đồng thời thường xuyên thanh lọc thân tâm.
*NĂM GIỚI cũng chính là nền tảng của “sáu đức hạnh giải thoát” gồm 1/bố thí (dāna), 2/trì giới (sila), 3/nhẫn nại (khantī), 4/tinh tấn (viriya), 5/tham thiền (samādhi), và 6/trí tuệ (prajnā). -NÓ hằng có khả năng cứu mình và cứu chúng sanh, mà kinh điển “Phật Giáo Bắc Truyền” còn gọi là “LỤC ĐỘ” (Cha-pāramitā).
-CỨU CÁNH của LỤC ĐỘ (=sáu pháp cứu giúp) :
1-BỐ THÍ ĐỘ (Dāna-pāramī) hay giúp đỡ kẻ thiếu phước (upakāra), để cùng nhau THOÁT KHỔ. -Theo Phật giáo, hành động chia xẻ sự sống, là hiệu lực của lòng vị tha (vadaññutā), biểu lộ bằng cách THÀNH TÂM GIÚP ĐỠ những người khốn cùng, hoan hỷ “cho ra”những gì mình đã thu hoạch hợp pháp (kusala-dhammena). -BỐ THÍ là “buông bỏ mà không cảm thấy mất mát”. TÂM TRƯỜNGcủa bố thí là thanh tịnh và sáng suốt (trí tuệ), hoàn toàn khác hẳn với “cúng dường cầu phước”, do những nhà sư «kinh doanh tín ngưỡng» khuyến khích, cố ý bày ra để thu hoạch !
-Còn PHONGCÁCH đúng đắn của người bố thí thì tuy không phân biệt đối tượng (avivecana), không chọn chùa nào hay bao nhiêu lễ vật, hoặc phải làm đúng nghi lễ ra sao. Nhưng qua NỘI DUNG HƯỚNG THƯỢNG, 1 thiện nhân trong đạo Phật khi làm việc lành, không thể thiếu trí tuệ, và hỷ xả. -Rồi đối với kẻ khổ phàm phu nhận sự giúp đỡ, thì “mạnh thường quân” ấy do lòng từ bi của người thấm nhuần CHÁNH PHÁP -Riêng giáo sĩ nhận «hiến vật», thì luôn chánh niệm rằng, đây là nghĩa cử bày tỏ sự tôn kính giới hạnh. -Sau cùng, nếu ấy hạng đạo đức giả (lừa bịp), thì hành động rộng lượng (bố thí) kia, biết đâu có thể kích thích nhân tính, và cảnh báo họ nên hổ thẹn, mau quay về nẻo chánh, kẻo sẽ bị sa đọa !
<>Nhìn bề ngoài, thì hành động BỐ THÍ, trước 3 đối tượng nêu trên “có vẻ giống nhau”, nhưng động cơ tâm thức của người bố thí chân chánh, thì xem ra cũng rất khác. -Có nhiều kẻ bố thí vì mê tín (=tà kiến), cho rằnglàm tốt để “thần linh ghi điểm” ban may mắn. -Còn đặc biệt người có chánh tín, hành động vị tha, thìchia xẻ sự sống đến kẻ khác, là để giảm cái khổ của đối tượng, mà không mong đền bù ! -Mặt khác, BỐ THÍ ĐỘ cũng là chặt dần “những sợi dây vướng mắc của cải”, -NGUYÊN NHÂN ôm ấp tài sản làm cho sinh tử luân hồi.
2-TRÌ GIỚI ĐỘ (Sīla-pāramī) hay kỷ luật thân khẩu ý (tránh tội = giải nạn), do thấm nhuần Phật học, và do ảnh hưởng của tâm từ (mettā), nhắm đến diệt ác, tích thiện, để cùng nhau THOÁT KHỔ luân hồi. -Nói cách khác, trì giớicũng là giữ đúng “những điều Phật khuyên” tuyệt đối không làm trong cộng nghiệp, tránh vi phạm những hành động bất thiện, gây oan trái. -Nói chung, TRÌ GIỚI là “căn bản đạo đức” của một tôn giáo, được cộng đồng tin tưởng.
-Đối với thế gian, “mục đích của luật lệ nhân văn” là duy trì trật tự xã hội. -Còn theo mỗi tôn giáo thì giới luật là phép đối xử có trật tự trong hệ thống từ thấp đến cao, thuộc giáo hội (kể cả tín đồ).
-Nhưng trì giới trong Đạo Phật còn hàm chứa một “ý nghĩa sâu xa hơn nữa”. Đó là xây dựng “công phu siêu thoát”, hay PHƯƠNG PHÁP đưa tâm thức con người ra khỏi ràng buộc ân oán. -GIỚI (sīla) là “nguyên lý tháo gỡ sợi dây nghiệp báo luân hồi”, hay “cách tiêu diệt mầm vay trả” trong bộ máy tử sinh xoay vần, lôi kéo…sa đọa !
*Nếu BỐ THÍ có thể chặt đứt dần dần “những sợi dây tham lam”, liên kết vào “bánh xe chấp thủ ngũ uẩn” do chính mình đã vô minh tự cột trói với những vòng quay bất tận trong tam giới, thì *TRÌ GIỚI cũng chính là tháo gỡ từng hệ lụy oan trái, tham chấp cùng những chúng sanh khác (từng bị tương tác tạo nghiệp ác cũng như thiện), từ muôn vạn kiếp quá khứ với mình.
<>Sự tinh tấn giữ đúng 5 giới, ngoài việc tránh được sa dọa trả báo trong các đời sau, nó còn giúp chúng sanh (nhất là loài người), thoát được tình trạng chồng chất OAN TRÁI (đã có từ vô số kiếp xưa). Hai chữ “oan trái” nêu ra ở đây chính là NỢ CŨ (vốn cấu kết từ nhiều phía). -Nếu hiện tại chúng ta vẫn tối tăm, không hướng về “ánh sáng giác ngộ” của Phật để hóa giải, mà tiếp tục tạo thêm oan rái, bằng sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, và dùng chất say, thì con đường luân hồi vay trả mịt mù trước mặt sẽ kéo dài vô tận ! -Do đó, TRÌ GIỚI (sīḷa sikkhāpada) là “bước đầu” tiến đến phẩm cách hóa giải “khối tương quan cộng nghiệp”. Phật đã dạy :
“Người tin và quyết tâm TRÌ GIỚI,
thì có tiếng khen và có tài sản thanh cao,
sẽ được kính trọng trong mọi nơi,
và an toàn bất cứ ở đâu họ hiện hữu”.
3-NHẪN NHỤC ĐỘ(khantī-pāramī) là CỨU KHỔ bằng “mềm dẻo, ôn hòa, dễ dạy” (=tự tại thích ứng). –Sự kham nhẫn làm cho con người chịu đựng nghịch cảnh một cách nhẹ nhàng, lành mạnh. Kẻ thấp hèn và cao ngạo thường bị “tật tự ái hay ngã mạn” lấn áp, không biểu lộ được tính nhẫn nhục. –Linh diệu nhất là khi đạt đến đỉnh điểm của đức nhẫn nhục, thì hiền nhân có thừa khả năng, để “chịu đựng tối đa” các nghịch cảnh thực tại, và không khó khăn vật chất nào có thể khuất phục bậc phạm hạnh. –Kết quả của ĐỨC NHẪN NHỤC, sẽ làm cho thân tâm của người con Phật được bình an, trong đời sống nhiễu nhương. –Người giàu tính nhẫn nhục luôn luôn được xung quanh thương mến, thân thiện !
4-TINH TẤN ĐỘ (viriya-pāramī) hay CỨU KHỔ bằng đức chuyên cần. –Tinh tấn (hay chuyên cần) là sự siêng năng bền bỉ, có NỘI LỰC là tính nhẫn nhục một cách sáng suốt. Nhờ sự sáng suốt mà phẩm cách TINH TẤN không đui mù, trường kỳ kham nhẫn…để cần mẫn thực hiệnthiện pháp đến nơi đến chốn…cho thành tựu, hoàn thiện !
-Nếu nhẫn nhục là “hình thức” lành mạnh của phạm hạnh, thì tinh tấn là “nội dung” thanh cao của phạm hạnh. Cả hai hợp lại thành sức đẩy kỳ diệu vô địch, đưa hiền nhân tiến nhanh vững chắc, trên con đường tiến hóa, gọi là BÁT CHÁNH ĐẠO (atthaṅgikamagga). -Hãy đọc lại Phật ngôn, “phê phán” sự thiếu kiên nhẫn sau đây :
“Kẻ biếng nhác không cố gắng lúc cần,
Luôn luôn sống phung phí tuổi trẻ trong ngủ mê,
Với tinh thần chứa đầy tư tưởng vô dụng.
Kẻ như thế không đủ trí tuệ, tìm ra con đường thoát khổ”.
<>Theo Phật học, nhẫn nại (khantī) và tinh tấn (viriya) là «2 pháp bất ly», hay 2 mặt của MỘT đức hạnh. Thông thường, thế gian chỉ đề cao mặt nào nhìn thấy, nhưng kẻ trí thì chú ý cả đến mặt kia, nắm vững nội dung lẫn hình thức. -Hãy qui nạp rằng, người tinh tấn (=siêng năng và nhẫn nại) thì luôn luôn được “thăng hoa”. -Tiến hóa !
*Châm ngôn Việt Nam cũng đã xác nhận “nhất nghệ tinh nhất thân vinh” (=chuyên nghề gì, thì vinh hạnh và có địa vị cao trong nghề ấy). -Huống chi “sự tinh luyện” nếu thuộc về thiện pháp, nó sẽ tạo thành “kinh nghiệm cao thượng quí báu” (thuộc về trí tuệ) ngay hiện tại, và trong các kiếp sau sẽ được quả lành “vô sư trí”, -nói theo kinh Phật !
5-THIỀN ĐỊNH ĐỘ (samādhi-pāramī) là CỨU KHỔ bằng thanh lọc thức tánh (Jhāna), để chính mình và xung quanh được bình an. –Thiền định là “pháp hành” trong TÂM của người tu Phật. -Nó hướng đến một “đối tượng duy nhất” vừa vô hại (ahiṃsa=thiện) vừa bất vụ lợi (=ly tham và ly sân). -“PHẨM TRỤ TÂM ” ấy Phật học gọi là an trú nơi đề mục (-“ĐỀ MỤC” chữ Pāḷī gọi là “kasiṇa” hay “kammaṭṭhāna”). -Hành thiền định (samatha bhāvanā) là giữ cho ý thức không phân tán xuyên qua “6 giác quan” (mắt-tai-mũi-lưỡi-thân-ý), tránh lang thang chạy theo trần cảnh, cốt để cho toàn bộ thân tâm trở nên «đồng sự» (yên tĩnh, an trú, và khỏe mạnh). -KẾT QUẢ TOÀN TỊNH (visuddhi vipāka) của thiền định (samādhi) là “phát quang” một cách kỳ diệu, và ánh sáng ấy (sāloka) tự biểu lộ, để tiếp theo hành giả xử dụng nó mà “quan sát” (vipassati), “thấy rõ mọi chiều TÂM VẬT” xuyên qua mỗi THỰC TẠI (nội lẫn ngoại cảnh).
<>Phật dạy, “VẠN PHÁP(sabbadhammā) đều bắt nguồn từTINH THẦN” (maṇo-viññāna). Ngài chỉ rõ rằng, “TINH THẦN con người (manussa-maṇo) là VẬN HÀNH (saṅkhārā)của phối hợp TÂM THỨC (citta-viññāna ghaṭanā) và CẢNH VẬT (alambana ca). -TÂM THỨC gồm tâm vương (citta) và tâm sở (cetasika). -CẢNH VẬT là 28 “sắc uẩn giới” (rūpa-dhātu) với toàn dạng biến hóa của chúng (rūpantaraparivattana). -Còn “vạn pháp” ám chỉ tất cả tư tưởng (saṅkappa) và việc làm (kamma) quá khứ, hiện tại, vị lai.
-Ví như hai hành động «GÂY RA CHIẾN TRANH» và «BẢO VỆ HÒA BÌNH» đều bắt đầu từ tư tưởng con người. -Trong thời cận đại, «phương châm» của 2 câu nói trên, chỉ mới được Tổ Chức “LIÊN HIỆP QUỐC” ghi trong “Hiến Chương Toàn cầu” (Declaration universelle) vào 1947 thôi. -Nhưng đã hơn 2500 năm trước, Kinh Pháp Cú của Phật giáo cũng từng nhấn mạnh sự thật NHÂN QUẢ muôn đời, rằng :
“Mọi hành vi đều bắt nguồn từ tâm,
Tâm là chủ, tất nhiên nó sẽ là nơi trổ quả,
Một người suy nghĩ và nói năng bằng tâm thiện,
Thì trái lành sẽ đến cho họ, như bóng với hình”.
Hay ngược lại :
“Một người suy nghĩ và nói năng bằng ác thiện,
Thì quả báo sẽ bám họ, như bánh xe sau chân con bò”.
<>Cái “TÂM ĐA NĂNG” trong mỗi con người, chính là “thức tánh” (viññāna = khả năng biết cảnh) hay còn gọi là “tinh thần” (maṇo). Tuy phàm nhân chúng ta không khám phá nổi «nó từ đâu đến», nhưng biết chắc rằng NÓ hằng CÓ “2 nội dung” (lakkhaṇāni) là CHỨA THIỆN PHÁP và CHỨA ÁC PHÁP (kusalaṃ dhammaṃ ca akusalaṃ dhammaṃ ca dhāreti). -Đó là 2 đặc tính :
-«Đặc tính» thứ nhất (pathama lakkhaṇna) của tâm tạm gọi là «trí căn» (pañña-iṅdiriya), tạo ra Ý NGHĨ TỐT (yoṇiso manasikāra), hướng dẫn mọi hành động lành mạnh, không để bị lôi kéo bởi ngoại cảnh bất thiện (akusala-ālambana) quyến rủ, rồi tạo tật xấu (duṭṭha bādhā), chất chứa vào “kho hành trang luân hồi” (=thức uẩn hay tâm nghiệp=maṇo kamma).
-«Đặc tính» thứ hai (dutiya lakkhaṇa) của nó ngược lại là «si căn» (moha-iṅdriya) phát khởi Ý NGHĨ XẤU (duṭṭha cetanā), hướng dẫn mọi hành động thấp hèn (hīna), sẵn sàng chịu lôi kéo bởi ngoại cảnh kích dục (taṅhā-ālambana), rồi dựng tật sa đọa (duṭṭha bādhā) …chất chứa vào “kho hành trang luân hồi” (=thức uẩn hay tâm nghiệp).
<>Nói cách khác, khi 5 giác quan nhận ngoại cảnh lành mạnh thì THỨC UẨN (giác quan thứ sáu) trở nên THIỆN (kusala viññāna khandha). -Ngược lại, khi 5 giác quan nhận ngoại cảnh sa đọa thì THỨC UẨN trở thành ÁC(akusala viññāna khandha). -THỨC UẨN trong trường hợp nầy có thể ví như TẠO HÓA, do THAM SÂN SI (=vô minh), dựng lên, để chuẩn bị kiếp sau cho chính nó và vạn vật cộng nghiệp, –nhất là chúng sanh hữu tình ! -Và Bát Chánh Đạo (atthaṅgika-magga) của Phật giáo, là một “tiêu chuẩn thăng hoa”, hướng dẫn sinh hoạt hằng ngày cho mỗi hỗn hợp thân tâm, để loài người “tự khám phá” con đường giải thoát bằng sự HỮU HIỆU (nissanda) của THIỀN PHÁP (bhāvanā).
6-TRÍ TUỆ ĐỘ (Pañña-pāramī) hay CỨU THOÁT bằng “tâm tỏa sáng”. -Sư “PHÁT QUANG” (Virocamāna) của THIỀN trong tâm thức hành giả, là khả năng thấy rõ thực trạng nơi vạn vật (lẫn vũ trụ) một cách xác chứng, rằng tất cả không ngừng thay đổi (aniccā=vô thường), -nhất là trải nghiệm sự TÀN TẠ (jarā) trong bản thân, như một «tàn hoại chắc chắn và cận kề». -Đây là PHÁP tối cần thiết để tỉnh ngộ, xác nhận sự tạm thời, buông bỏ… !
-Do đó, VÔ MINH (avijjā) không thể ẩn núp trong cái gọi là «sức sống cần hưởng thụ» (jīvita) để che mờ tâm tư được nữa ! -Đúng như lời Phật đã dạy “nguồn gốc sa đọa nhất trong tất cả chính là VÔ MINH” (không nhận thức sự thật HOÀN KHÔNG). -Ngày nào “ác tố si mê” (moha akusala dhātu) nầy còn trong tâm thì SỰ LUÂN HỒI (saṃsāra) vẫn tiếp tục !
<>Phải chăng vì “hậu quả cụ thể” của “tiến bộ KỸ THUẬT”, mà hiện nay nhiều “trung tâm thiền” trên thế giới, đang “tu tập” có vẻ nặng về hình thức, đầy KIỂU CÁCH (biểu diễn), như phải “bắt ấn”, phải ngồi trường kỳ, phải “khắc kỷ” (=khổ hạnh), phải ăn uống thứ nầy, tránh thứ kia v.v…-Và không ngừng “lý luận theo lô-gíc” (logique) xung quanh những câu hỏi…-như “Bậc Giác Ngộ đã tịch diệt lâu rồi, pháp thiền nầy chưa chắc là của Phật, mà có thể do các tổ sư đặt ra, và lưu hành cho đến ngày nay, cộng thêm sự bổ sung của nhiều thế hệ” ?! -Do đó, “loại thiền nào hợp thời trang, ăn khách nhất…thì mới đúng”. -Nghĩa là, “TƯ DUY theo số đông” đã biến thành “qui ước thiền”, và “tùy tiện kết luận” để cho là…“của chư Phật” !
*Thực ra, THIỀN (citta-jhāna) không phải là kiểu cách phô diễn mềm dẻo của thân, mà chính là trạng thái thanh tịnh, chủ yếu trong TÂM, nhất là khi đạt an trú, NÓ không phóng theo NGOẠI CẢNH hay NỘI CẢNH, tức là không vướng mắc tham vọng, do bên ngoài hay bên trong kích thích. -TÂM THIỀN (jhāna-citta) ấy mới đủ khả năng giúp người tu, trở thành THANH TỊNH, tỉnh thức trong mọi giây phút !
–An trụ và THANH TỊNH sẽ giúp tinh thần “thiền nhân” (jhāna-yogī) TỰ PHÁT QUANG (ālokajoti), tinh anh trong mỗi vòng xoay vần tư tưởng, -Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) gọi “mỗi vòng tư tưởng” là “chu kỳ luân hồi tâm thức” (Citta-vīthi). -Và đạt thiền cũng có nghĩa là ĐỦ ÁNH SÁNG để minh sát (vipassati) toàn bộ “CHU KỲ TÂM THỨC” ấy (sacittavīthi), -và từ đó, định hướng lành mạnh tất cả hành động, xứng đáng với phẩm cách của TRÍ TUỆ giải thoát, hóa giải khổ não ! -Và dù cho đã trải qua bao nhiêu thế kỷ, THIỀN trong Đạo Phật vẫn như thế (tathāgata), vẫn chứa NÔI DUNG “thanh tịnh” và “tỏa sáng”, vượt mọi chế định hình thức !
-Kinh Phật còn luôn luôn nhấn mạnh rằng “an tĩnh trong tư tưởng là điều cần thiết nhất”, đối với những ai muốn giải trừ căng thẳng (stress), tu tập để vượt qua những nhàm chán (patinissagga) và dằn vật (yātanā) trong cuộc đời. -Ngoài THIỀN PHÁP Phật giáo (Buddhasāsanassa bhāvanā) ra, không còn con đường nào khác !
*Vã lại, khi phân tích những ngôn ngữ của dân gian qui nạp, chúng ta thường nghe thấy rằng, “hiện tượng nghèo trở nên giàu” (=phát triển), thì rất ít, nhưng “hiện tượng giàu trở nên nghèo” (=suy sụp), thì khá nhiều, trong đó TỈNH TÁO hay HỖN LOẠN tinh thần vốn là nguyên nhân chính. Và không chỉ Đức Phật, nhiều phàm nhân lành mạnh cũng có thể khám phá rằng, cái khổ nặng nhấttrong kiếp sống, vẫn là “SỰ NÔ LỆ BẢN THÂN” (=đè nặng trong tinh thần), và do đó con người không ngừng chịu đựng vô số bất mãn. –Vì chẳng bao giờ con người biết rõ nguồn gốc của chịu đựng,nêntinh thần thường xuyên bị phân tán, chạy theo dục vọng !
Nhân loại càng khổ, đạo Phật càng cần thiết.
<>Hiện nay, cách sống gọi là “VĂN MINH” là đời sống, mà những nhu cầu vật chất hằng ngày(=thực phẩm, y phục, trú sở, thuốc men, và phương tiện di chuyển) «đang phải đổi mới». Nhưng ĐỔI MỚI không có nghĩa là cải thiện LÒNG THAM (vốn vô đáy) của con người, -nếu không muốn nói là ngược lại. -Sự CHỊU ĐỰNG nhiều khát vọng tinh thần (tanhā) và những đòi hỏi lạc thú do thể xác (vedanā) chẳng những đã không giảm bớt, mà còn mỗi lúc một gia tăng ! -Vậy sự học Phật, chính yếu chỉ với mục đích thức tỉnh :
a/Thường xuyên xác nhận 2 SỰ THẬT (Diệu Đế = ariya-sacca) là CHỊU ĐỰNG (dukkha), và DỨT CHỊU ĐỰNG (dukkha nirodha).
b/Vững vàng thực hành BÁT CHÁNH ĐẠO (Atthaṅgika-magga) là hóa giải đau khổ, TOÀN XẢ trước SỰ SỐNG (Sabbupekkhā) !
<>Ví như một người có chánh kiến (sammā-diṭṭhi), hằng siêng năng làm việc và gặt hái thành quả xứng đáng, người ấy sẽ mua được nhiều cái họ cần. Tiền bạc hợp pháp tất nhiên sẽ mang lại cho họ những tiện nghi tiến hóa, đồng thời cũng có thể giúp họ phát triển thực tại, bằng cách kinh doanh lành mạnh, làm nẩy nở số tiền thặng dư (gọi là vốn) với kỹ thuật mới, để giảm bớt giờ lao động thân thể, bớt cực nhọc, thoải mái hơn. -Nhưng trên thực tế, xã hội gọi là “văn minh” của loài người vẫn BẤT AN. Những tiện nghi tân tiến, đã không giải quyết các vấn đề vật chất bế tắc đang đè nặng tinh thần, nên phải nhờ đến Pháp Phật, -Thiền, và -Toàn Xả !
<>Đại đa số nhân loại vẫn chịu đựng đau khổ trong đời sống hằng ngày, bởi MẶT TRÁI của “tối tân vật chất” là sự kích thích khát vọng. -Rồi hậu quả của bất cứ sáng chế nào, cũng tai hại cho nhân sinh một cách không thể phủ nhận. -Ví như “người máy (robots) làm cho dân lao động chân tay thất nghiệp”. -Nghiêm trọng hơn nữa là sự mất thăng bằng, giữa hưởng thụ vật chất (vì xử dụng người máy), và bất an tinh thần (vì thói quen lười biếng) càng ngày càng rõ nét.
-Nói như thế không có nghĩa là nên “khai tử” hay “kết tội” máy móc. Nhưng chỉ để TỐ CÁO dục vọng của con người, đã “dùng sai” người máy, tạo tiêu cực cho nếp sống. -Thay vì chỉ xử dụng người máy trong những việc tiếp cận nguy hiểm, hay các dịch vụ hoàn toàn vượt khỏi khả năng bắp thịt nhân sinh, thì lòng tham và vô minh của con người đã biến “người máy” thành “nguồn phát sinh” 2 tình trạng xấu. =>Một là tật lười biếng và là “nguyên nhân” của nhàn rỗi bạc nhược, của một số người thích sống thụ động, tức ngu muội xóa bỏ năng động quí báu trong sinh hoạt nhân thể. =>Hai là gia tăng lòng tham lợi của giới tài phiệt, dùng máy móc thay thế nhân công, -dân nghèo đang có công ăn việc làm trong cơ xưởng bỗng nhiên bị thất nghiệp !
-Nhiều người thuộc “giai cấp trung lưu” hay “đại gia” ngày nay, không nhất thiết ở Âu Mỹ, -mà ngay cả tại các nước tạm gọi là “mới phát triển” (trong đó có VN) cũng chạy đua “hưởng thụ tân thời”. Họ tuy không đi làm, và chẳng bận chăm sóc con cái (hay cha mẹ già nua), nhưng lại ra vẻ “không biết tự tay thực hiện những hành động bình thường, như giặt giũ quần áo, rửa sạch chén bát, quét dọn nhà cửa, hay các việc nhẹ khác…trong gia đình”.
-Họ vô tình đánh mất hoạt năng quí báu, rất cần thiết cho sức khỏe thân thể, mà kiếp người ban cho, -viện lý do…“có máy móc thay thế”, -nếu không muốn nói là “họ tình nguyện làm nô lệ tiện nghi”. Một ngày kia, khi họ không còn đủ tiền để chi phí cho những thứ ấy, thì chắc chắn họ sẽ khổ ! Đây quả thật là 1 tình trạng đáng tiếc. -Phải chăng người ta đã “nhiễm độc” văn minh vật chất, làm bạc nhược kiếp sống !?
-Hễ dục vọng TĂNG, thì an vui GIẢM, đạo đức lu mờ. –Sự sống bất ổn nầy đang đe dọa xã hội, tạo ra xung đột tâm lý trong mỗi cá nhân (vừa tham vừa lười biếng). -Rồi hàng loạt những “phản ứng dây chuyền”, như lo sợ, hoang mang, mất định hướng…chắc chắn ngấm ngầm tràn ngập tâm tư con người…ngay cả trong giấc ngủ !
<>Sự MẤT THĂNG BẰNG chính là “vật liệu tốt” giúp TÍNH CỰC ĐOAN phát triển. -Rồi với lòng tham không đáy của những người xấu bám giữ quyền lực, sẽ tự biến thành «thể chế», cho phép luật rừng chiếm ưu thế. –Hiện tượng «mạnh được yếu thua», hay «lẽ phải nằm trong tay kẻ gian, giàu kế sách, khéo lừa gạt», tự nhiên được nhìn nhận như «CHÍNH TRỊ lãnh đạo KINH TẾ», thao túng bởi các nhà nước tập quyền (=siêu cường toàn trị). -Vì muốn giàu hơn nữa, họ không ngần ngại châm ngòi nổ «xung đột quân sự địa phương» (để bán súng đạn qui ước) hay gây ra “chiến tranh thế giới” (để bán võ khí nguyên tử tối tân) bất cứ lúc nào. -Mà kết quả thì ai cũng biết !
<>Chung qui, “đời sống tân tiến” ngày nay, tao ra khá nhiều tiện nghi vật chất, chỉ dành cho một thiểu số người nhiều tiền trong xã hội xử dụng, để vừa trở thành “nô lệ” vừa “củng cố” lòng tham…chứ không phải là “giải pháp”, giảm được lo âu và sợ sệt của đa số, trước cuộc đời đầy xáo trộn…trong cộng đồng nhân loại. -Nghĩa là con người càng ngày càng thấy rằng, các “vật dụng siêu kỹ thuật” kia, dù “tân tiến” đến đâu…chẳng những không đem lại bình an, bất luận cho thể xác hay tinh thần, mà còn trở thành “phức tạp”, “dày vò thân tâm”.
-Và người ta bắt buộc phải đi tìm giải pháp tâm linh, để may ra “xoa dịu” phần nào kiếp làm người. -Và đó là lý do có nhiều “tôn giáo” xuất hiện, rao giảng việc “chăm sóc linh hồn”, với tất cả lý thuyết sắc bén (kể cả ngụy biện), hy vọng họ là “tôn giáo đáng tin cậy nhất”.
<>Phải chăng đó là nguyên nhân người ta đang “săn đuổi” các giá trị tâm linh một cách khẩn cấp, có thể rơi vào cực đoan, đui mù…xem “bất cứ hiện tượng bất thường nào” cũng là “thiêng liêng mầu nhiệm”(?!). -Vì vậy, các KỊCH BẢN phô diễn giả tạo được thời “chế tạo thần linh”, khiến cho chủ trương ngu dân của 1 số nhà nước độc tài toàn trị…có dịp “thịnh hành”. -Từ đó, người ta đã “ưu tiên hóa” niềm tin vào “hình tượng” để tất cả cùng ồn ào hướng đến cúng bái một cách vô minh, giúp cho các «hội sở mờ ám» trở thành “điểm qui tụ lòng tin” của quần chúng”. -Và những “khóa tu giải nghiệp, trừ nạn”, từ vài tuần cho đến một hai tháng, có cấp phát “chứng điệp tâm linh” v.v…đã được tổ chức thường xuyên, -nhiều khi “hết chỗ” cho người ghi danh muộn, -muốn “tham gia” phải đăng ký chợ đen !
*Hóa ra, THIỆN CĂN (kusala-iṅdriya) trong lòng người, lúc chưa đủ nhân duyên tốt để biểu lộ, và phát triển một cách trong sáng, lành mạnh, thì đáng tiếc…đã bị những ác nhân đầy tham sân si “lạm dụng”, bằng cách đánh lạc hướng…rồi lôi kéo quần chúng nhẹ dạ hội nhập qua tưởng tượng, vào “thế giới tâm linh ma mỵ”, -nhất là khi vì một lý do nào đó…hình thức“tu hành tập thể” ấy, ngẫu nhiên có “hiệu lực”, giảm bớt phần nào “sự căng thẳng”, thì “nó” liền được nhiều đồng bọn a-dua (hay dư luận viên) thêu dệt “nhìn nhận là có kết quả thần thánh cứu giúp” !
<>Hãy thực tế…quay lại thứ tự tiến hóa (chân chánh) trong nhà Phật. Bậc Giác Ngộ khuyên chúng ta, -trước tiên cần kiên nhẫnhọc hỏi thiện pháp với một vị thầy đủ kiến thức và đức độ, đã nhiều năm hành đạo, rồi tiếp theo phải hết lòng áp dụng bên cạnh bổn sư một cách tự lực, dựa trên căn cơ trí tuệ (bẩm sinh) của mình, -để sau đó có sự độc lập và khách quan, bình tĩnh nhận thức và phân tích đúng PHÁP HÀNH một cách khoa học, tương đương với chánh kiến và chánh tư duy của hạng phàm phu đang hướng thiện !
*Sau đó, mỗi cá nhân học Phật phải trau dồi GIỚI HẠNH và THIỀN TÂM (gồm định và quán)để trải nghiệm đời sống thanh tịnh như thế nào, -nhất là tự biết “thân tâm mình được cải thiện ra sao”, đồng thời cũng không quên rằng «căn cơ của mỗi cá nhân vốn khác nhau, nên KHÔNG có kết quả tiêu chuẩn, đồng dạng cho nhiều người».
-Nhà Phật nhấn mạnh rằng, «nền tảng của TIẾN HÓA là tinh tấn và nhẫn nại, chứ không phải “sự ngưỡng mộ quả thiền» (đang được cộng đồng tôn vinh qua lòng tham). -Nói rõ hơn, mỗi người có một tiềm năng thiện riêng biệt, nên sẽ gặt hái THÀNH CÔNG THIỀN riêng biệt, chẳng ai giống ai ! -Nó khác hẳn với vận hành của vật chất trong lý hóa. -Nghĩa là kết quả phát triển tâm linh không nhất định, để có “khuôn mẫu” (cụ thể), mà cùng nhau “bắt chước”!
<>Đối với Đạo Phật, cái mà “qui ước hướng thượng” của thế gian cho là “hoàn nguyên” (về nguồn, hòa vào đại thể), không phải là cứu cánh niết-bàn, mà chỉ là mộng tưởng. -Vì «nguồn gốc CỐ ĐỊNH» (của mỗi sinh linh) vốn không bao giờ có trong “bộ máy tam giới BIẾN DỊCH” (saṃsāra). -Sự GIÁC NGỘ đưa đến giải thoát thực tại trong đạo Phật là TỰ DO (nibbāna) và TỊCH TỊNH (visuddhi-santo) chứ chẳng phải là QUI NGUYÊN (về nguồn), -càng không thuộc về bất cứ tình trạng thường tan để hợp mãi, hoặc tạm tử để trường sinh hoang đường nào cả !
<>“NIẾT-BÀN ngoài tam giới” là “Phật tâm” hết vướng mắc vào vận hành của tứ đại nguyên tố (catu mahādhātu) THÔ cũng như TẾ, -dứt tuyệt DANH UẨN rnāma-khandha), tức là hết luân hồi vô sắc, chứ đừng nói “phải đạt mục đích”, để “CÓ” cực lạc, thường kiến, hoặc “KHÔNG”, tuyệt diệt, đoạn kiến (neva-aṭṭhi, na-naṭṭhi), bằng cách chọn “MỘT” trong “HAI” lý tưởng tương đối, lẫn quẫn ấy !
*Nhưng…những phẩm cách tiến hóa đến “TỰ DO” và “TỊCH TỊNH” trong nhà Phật, thì luôn luôn «siêu thoát» (lokuttara), chẳng có «dạng nào» là “khuôn mẫu duy nhất” thuận với lòng THAM, giúp cho thế gian dục vọng dựa vào đó mà tạo ra một CÁI KHUNG (=nguyên tắc), ẢO VỌNG của óc tưởng tượng…để làm “tiêu chuẩn”, lôi kéo nhân sinh si mê, hướng đến “cực lạc”. -Một dạng thèm khát hưởng thụ, tương đương với ích kỷ !
-Vì “CỰC LẠC” như thế…có thể trở thành mục tiêu của mê tín, hoang đường…! -Thay vì tự lực thanh lọc thân tâm để có nội lực giải thoát, thì ý thức vô minh của phàm phu lại ham chuộng«tu hành ít mà có thể đạt kết quả nhiều» nhờ thần thánh hổ trợ. -Họ hằng ngày “thành tâm” cầu xin “được tiếp dẫn” đưa linh hồn về “nhàn cảnh” sau khi chết. -Hai chữ “thành tâm” nói ở đây có nghĩa là “thay thế” công phu «TU HÀNH», vốn bắt nguồn từ lòng tham, chứ không phải do chánh tư duy về nghiệp quả. -Bình tâm xét kỹ thì họ “chắc chắn phải RẤT thành tâm” (=do tham lẫn sợ), bởi tin chắc rằng “thần linh luôn luôn thừa khả năng biết rõ tâm tư mọi người”, nên ai dám “chẳng thành tâm” ?!
<>Tình trạng ngu dân nầy, là hậu quả của “kinh doanh tín ngưỡng”, do một số “giáo sĩ” gian ác đặt ra, để lôi kéo tín đồ nhẹ dạ, nhằm thủ lợi dưới dạng “bán vé xe trời đưa tâm phàm tục về cực lạc”. –Sự mê tín quả thật đã bóp chết “lý trí bẩm sinh” trong mỗi con người ! -Dù cho ai cũng bình thường nghĩ rằng “muốn hái quả lành nào phải gieo hạt thiện nấy”, hay “công phu của ai, là năng lực sẽ làm cho người ấy tự thăng hoa một cách khoa học !”.
-Xem ra tất cả những quyền năng hoang đường mà các tổ chức “kinh doanh tín ngưỡng” gieo rắc trong quần chúng, không bao giờ có thể chứng nghiệm một cách CỤ THỂ được, -ngoại trừ các hình ảnh ảo giác do kỹ thuật quang học tạo ra. -Và phim hoạt họa dành cho trẻ con, là một chứng minh điều đó, mà ai cũng biết !
<>Đối với mê tín, các “nghi lễ bí truyền” (=cúng bái kỳ dị) phải trở nên “bắt buộc” và không cần giải thích, -viện lý do “phạm thánh” (!). -Và để “vượt qua” bế tắc ấy, các “tín ngưỡng ngu dân” đã quay qua khai thác tâm lý lẫn tình cảm, để chăn giữ đám tín đồ nhẹ dạ, không cho họ quay về với “trí khôn bẩm sinh”. -Hiện tượng “giảng sư” trở thành “nổi tiếng” trên nhiều “kênh you-tube” hiện nay, là nhờ “đánh trúng tâm lý khán thính giả, và hoạt náo bằng kể chuyện vui cười, linh ứng hoang đường, trong buổi “thuyết giảng”. -Đáp ứng “nhu cầu tâm linh” qua “kỹ thuật thính thị” trước quần chúng (?!). Đây là một dấu hiệu hỏa mù văn hóa, làm suy đồi đạo đức !
<>Và Phật giáo với “bản sắc soi sáng” chính là “GIẢI PHÁP” để chấm dứt ngu dân. -Khách quan mà nói, TU PHẬT là cải thiện căn thức một cách khoa học (vịjjā-kusaliṅdriya). Phật ngôn là những “hướng dẫn” đưa đếnGIÁC NGỘ, thanh lọcvà khai thông tri thức bẩm sinh. -Phật thuyết PHÁP vì chúng sanh chứ không vì đạo Phật (=vô ngã). -Ngài từ bi vạch trần những tâm tư phàm tục, chính là chỉ rõ bộ mặt trá hình của dục vọng (taṅhā), và si mê (moha). -Phật nêu ra các tâm sở biến hành (sabbacitta sādhārana cetasika) trong Vi Diệu Pháp (Abhidhammā) để «đánh thức» thính giả…hãy xem lại chính mình mà tình nguyện thành tâm tự sửa.
-Nhưng trong lãnh vực «kinh doanh tôn giáo», nhiều “giảng sư” chỉ đọc sơ qua sách vở, hay chưa học Vi Diệu Pháp đến nơi đến chốn, không thấu hiểu Pháp Phật vi diệu như thế nào, lại “nhân danh” lãnh vực ấy, «tiết lộ» vài tư tưởng sâu xa của con người, khiến họ “kinh sợ” và “ngưỡng mộ”, để sau đó gián tiếp khoe mình có “tha tâm thông”, biết rõ tư duy của đại chúng (!). -Cách tạo niềm tin ảo nầy, sẽ đem lại cho họ rất nhiều lợi lộc, nhất là danh tiếng ! -Vì người ta vẫn cho rằng “ai tu hành đắc đạo mới có khả năng biết tâm tư kẻ khác” (!) -Thật là đáng tiếc !
<>Đặc biệt hơn nữa là các “giảng sư” ấy còn nhân danh môn «Duy Thức Học» (Phật giáo Bắc Truyền), hay «Vi Diệu Pháp» (Phật giáo Nam Truyền), để nêu ra những “pháp đề” chứa đầy thọ cảm (“mâu thuẫn phiền não” (hay “éo le tâm lý”) để “hướng dẫn tình trường”, nhằm “gia tăng ý nghĩa” buổi giảng ! -Họ nào biết rằng, khi thính giả nghe đến phiền não tình cảm, thì họ càng lúng túng, bất lực…chỉ muốn cầu xin cứu giúp…-trái hẳn với mục tiêu chính đáng của đạo Phật, là làm cho thỉnh giả nhận chân cái khổ, biết sám hối, biết cải thiện…để được an tâm, hiểu đúng, và tự tin, -muốn chính mình vượt qua phiền não, chứ không trông chờ một cứu tinh vô căn cứ nào cả !
-Nghĩa là «người nói Pháp Như-lai» phải làm sao cho thính giả thức tỉnh, để tự nhận ra họ cần cải thiện thân tâm như thế nào để tiến hóa, chứ không nên trở thành «yếu đuối, ủy mỵ». -Chưa kể có nhiều “giảng sư” (lạc đề), còn chọc cười thính chúng suốt một thời giảng, ngụy biện rằng, “làm cho buổi sinh hoạt vui nhộn, không buồn ngủ trong khi “nghe pháp” (!) là một điều…cần thiết !” (?)
<>Sự thật, cả 2 trạng thái vui cười và buồn ngủ trong khi nghe pháp, đều lôi kéo tâm tư con người ra ngoài phẩm cách tỉnh thức, và tiếp theo dễ dàng rơi vào 3 lậu THAM SÂN SI. –Buồn là một dạng của sân. –Vui là một dạng của tham. Hai tâm sở (cetasika) nầy vốn có “mặt trái” tối nguy hiểm là SI (moha), -ấy là “chất độc” hằng xói mòn khả năng tỉnh thức, ngăn cản tiến hóa giác ngộ !
* Đức Phật đã dạy “SỰ TỈNH THỨC là PHẨM CÁCH ĐẦU TIÊN của CỨU RỖI”. Nó là động lực cơ bản làm bộc lộ trí tuệ diệt vô minh. -Ai muốn thoát khỏi chịu đựng VUI KHỔ xoay vần, người ấy phải tránh xa tất cả những vướng mắc trần cảnh, -nhất là SAY MÊ đối tượng ngoài tầm tay. -Vì đòi hỏi nhục dục là sản phẩm của vô minh, nên luôn luôn phù du, hoán vị, không bền vững, –vô thường !
-Mặt khác, “3 thiền quả chính” của người tu Phật, gồm TỈNH THỨC, THANH TỊNH, và VÔ CHẤP (=xả bỏ hay KHAI THÔNG), -ngoài việc giúp họ giảm thiểu tật vướng mắc vào trần cảnh, -còn hóa giải được nhiều ngăn cách, đối với các tôn giáo khác, lẫn đối với cuộc đời. Thế nên trong suốt hơn 2500 qua, “ngôn ngữ làm phương tiện của nhà Phật đã chan hòa” vào cách ăn nói của một số tín đồ đạo khác.
-Chẳng hạn như các cụm từ “luật nghiệp quả”, “thăng đọa do mình”, “gieo nhân nào gặt quả nấy”, hay “họa khổ do chính con người gây ra, chứ không phải thần linh nào cả giáng cho cả” v.v…đã không còn là ngôn ngữ đặc thù của Phật giáo nữa, -mà là “cách bày tỏ tư tưởng chung” của mọi người.
<>Và đó phải chăng là “phong độ phát biểu tâm tư đại đồng” trong nhân loại ?! -Hơn nữa, không ít học giả Tây phương (Âu-Mỹ-Úc-Nhật) ngày nay, đang tiếp cận và nhận ra rằng, Đức Phật đã nhiều lần “trải nghiệm tận cùng các trạng thái tâm linh và vật chất”, xuyên qua THIỀN PHÁP (bhāvanā), rồi Ngài “qui nạp” toàn bộ vận hành của sự sinh tử luân hồi một cách khoa học, ra 37 phẩm giải thoát, mà chưa một “giáo chủ” nào trên mặt đất thực hiện. -Nói cách khác, Phật nhờ “đã dũng cảm làm bồ-tát” (Bodhisattādiṭṭhāna) để “trải qua đau khổ” trong vô số kiếp…mới biết được mọi biến thiên trong luân hồi. Ngài hằng “đấu tranh với chính mình”, để được hoàn toàn giác ngộ…và cuối cùng tìm ra con đường thoát ly hữu hiệu (chấm dứt tham sân si), gọi là Đạo Phật. -Một “SIÊU KHOA HỌC” để nhận diện toàn thể guồng máy sống chết (saṃsāra), mà chưa một tôn giáo Đông Tây nào nêu ra cứu cánh tương tự !
<>Theo Phật giáo, “tất cả chúng sanh đều muốn duy trì mạng sống”. Mỗi sinh linh vẫn tự THÍCH ỨNG ước vọng ấy, với hoàn cảnh trước mắt. -Còn cuộc sống thực tại thì bị “cột chặt vào hỗn hợp thân tâm, mang nghiệp quả tương ứng”, xuyên qua vô số vòng luân hồi cộng nghiệp. -Đức Phật từng biết rõ “bản sắc ràng buộc” nầy, nên đã nhiều lần nhấn mạnh rằng :
“Muốn SỐNG CHUNG tốt, mỗi chúng sanh phải tránh xa ác nghiệp”.
“-Không làm hại xung quanh chính là mang lại BÌNH AN cho mình”.
*Sống vô hại là xây dựng cuộc đời hạnh phúc, là căn bản của tinh thần đoàn kết, để đối phó trước mọi trở ngại ! -Và trần gian luôn luôn đòi hỏi “sự thuận hòa”, vì tất cả “sinh linh hữu tình”(gồm động vật lẫn thực vật), cùng các “hình thức vô tình” (như đất, đá, sông, núi, không khí…) hằng do tứ đại biến thành, đều tùy thuộc lẫn nhau…để vận hành một cách thuận tiện và tồn tại !
<>Trong cái BẢN SẮC GIÁC NGỘ NGUYÊN THỦY đó, con người muốn sống tốt, phải dẹp bỏ thiên kiến, và cải thiện quan niệm về “tôi” và “của tôi” (=ngã mạn), cố gắng giũa mòn tật ích kỷ, phân biệt, thủ lợi cho mình hay triệt tiêu đối tượng một cách cố chấp. -Vì tật xấu ấy vốn phát sinh do KHÁT VỌNG trong vô minh.
-Theo Phật giáo, lòng tham (lobha) hằng làm cho chúng sanh đui mù, tách rời đời sống cá nhân (tạm thời, hữu hạn), ra khỏi mạch sống đại đồng (vô biên, trường cửu) của vũ trụ. -Từ đó, những tư tưởng hẹp hòi và hiểu lầm (do ảo giác) tự động nổi lên một cách gây xung đột trong tinh thần (maṇo). -LÒNG THAM (lobha) ấy cũng thúc đẩy con người bám chặt vào cái tôi trốn tránh trách nhiệm, một cách vô lý, tối tăm và ích kỷ (trái nghịch vận hành nhân duyên tương tác)…để hành động bất thiện, lầm lạc, sa đọa.
-Kết quả, khát vọng và vô minh trở thành ưu thế, mạnh mẽ, phá hoại “tiềm năng hướng thượng bẩm sinh” của mỗi sinh linh, để tạo ra một thế giới quay cuồng trong ẢO KIẾN (miccha diṭṭhi), luôn luôn xung đột…với muôn vạn hoạt động giả định, vừa hư vừa thực, «nhằm củng cố» hiệu lực của bánh xe sinh tử luân hồi !
<>Nhưng khi giác ngộ, nhìn nhận “sự sống cá nhân gắn liền với toàn thể”, chúng ta sẽ chia xẻ niềm vui và hạnh phúc với tất cả chúng sanh, nhân loại…và mọi người sẽ hành động hòa hợp trong xã hội, để cõi đời được bình an. -Câu nói “sự sống cá nhân gắn liền với toàn thể” ở đây, không ám chỉ “xem tiểu ngã là một phần của đại ngã” -xin chớ nhầm lẫn ! -Vì “cá nhân gắn liền với toàn thể” là hòa thuận để xóa ngăn cách, thông thoáng hay «TOÀN XẢ» (sabbupekkhā) ! -Còn hiểu lầm “tiểu ngã là một phần của đại ngã” là dựa vào thế lực vũ trụ để củng cố cái “tôi” một cách hoang đường !
Chung qui, “tư tưởng Phật giáo trong đời sống tân tiến” là hiệu lực của minh triết BÁT-NHÃ (Prajña).
——–