Soạn phẩm liên đề : « Đạo Phật, Khoa học, Thiền pháp, Sức khỏe » Bài 4

Bài IV

Phật Pháp và Y học.

<>Kinh điển không nói đến điểm chung, hay sự tương đồng nào, giữa Đức Phật ngày xưa và Y HỌC thời ấy, cách nay hơn 2600 năm. Vì LIỆU PHÁP của Đức Phật nêu ra là các “tâm dược minh triết” (phi thời gian) để cứu giúp một số đệ tử bị bệnh, mà chưa đắc quả Thánh. «Tâm dược» ấy thiên hẳn về sự thanh lọc tinh thần và thực hành giải độc THAM SÂN SI trong tâm tư. -Từ đó các vận hành lý hóa thân xác sẽ được cải thiện nhờ dòng điện tâm linh tinh khiết, sung mãn, làm cho kháng tố diệt trùng khuẩn gia tăng (tức là giảm thiểu hay hết tâm bệnh cũng như thân bệnh).

-Nói một cách giản dị, là Đức Phật dùng năng lượng định tâm như “phương tiện” để đả thông các bế tắc lý hóa trong thân thể con người. -Đó là một dược liệu mà “hiệu năng” bao gồm kết quả các loại thuốc quí thông thường, chỉ dùng chữa trị những thân bệnh nhiễm trùng. Chúng ta hãy suy gẫm các Phật ngôn (được thoát dịch) sau đây :

«Do vướng mắc thân nầy mà phát sinh buồn phiền, và lo sợ».

«Tinh thần hết nô lệ xác thân thì buồn phiền, lo sợ sẽ không còn !»

«-Dứt vướng mắc vật chất, là thân chẳng mầm bệnh tật».

<>Tiêu biểu nhất ngày nay…là thuốc tâycó nguyên tắc khoa học, chữa trị theo đúng liều lượng”, và tùy bệnh trạng biểu lộ qua thân thể con người. Cách nầy tuy làm giảm cơn đau và có thể “hết bệnh” ngay hiện tại. Nhưng sự hết bệnhấy không bảo đảm vĩnh viễn, hay “chấm dứt nguồn gốc sâu xa của chứng bệnh đã được tẩy trừ”.

-Do đó, chẳng có gì chứng minh rằng, căn bệnh đã hoàn toàn giải quyết. -Trái lại, trị bệnh theo Phật giáo, là bệnh nhân tự thanh tịnh khám phá cảm giác tiêu cực, nhận diện “PHÁP DƯỢC”, rồi áp dụng THIỀN PHÁP để trải nghiệm sức mạnh giác ngộ, phục hồi TRI THỨC THIỆN, diệt trừ “nội độc” (tham sân si) của căn bệnh, từ căn rễ sâu sắc trong giòng điện tinh thần đến thể xác hiện tượng. Và đó là kết quả trị bệnh tận gốc cho sức khỏe cả thân lẫn tâm.

*Về mặt thể xác, những nhà khảo cứu Y học Tây phương, vẫn không ngừng làm việc, nhằm thu thập tối đa kinh nghiệm (thuần túy vật chất), trong các lãnh vực như dược phẩm chữa trị, phương tiện miễn dịch, và giải phẫu đoạn độc, song song với sự phát triển nhiều kỷ thuật tân tiến. Nhưng đáng tiếc về phương diện tâm linh, họ vẫn “hiểu lầm” một cách vô ý rằng, “Tôn giáo (nói chung) không thực nghiệm khoa học, để KHÁM PHÁ và diệt trừ mầm vật lý, là vi trùng (microbe) hay vi khuẩn (virus) gây ra bệnh hoạn”, nên họ cho rằng «tôn giáo bất lực trước vi trùng hay vi khuẩn». -Một quan niệm có thể xem là thiếu chiều sâu, -nếu không muốn nói “quơ đũa cả nắm”, vì đạo Phật vốn không phải như thế !

<>Phải chăng «do thiếu khách quan mà không phân biệt đạo Phật với các tôn giáo khác ?!» -Một số khoa học gia đã tiếp tục giữ khoảng cách với đạo Phật, vì họ không chú ý đến vấn đề “Phật giáo hiểu biết như thế nào về bệnh hoạn, nguyên nhân, và cách chữa trị, -nhất là kiến thức về mầm bệnh trong thân tâm con người”.

-Nếu chúng ta chỉ căn cứ trên ứng dụng bề mặt về các hiệu lực của thuốc, đơn giản là đối trị được vi khuẩn hay vi trùng gây ra bệnh, và lờ đi tiềm năng tinh thần (hùng hậu) của bệnh nhân, -không xem đó như “yếu tố gốc” để ổn định các “nhiễm độc” trong thân tâm con người…thì khó tránh sự lầm lạc.

<>Cũng may trong nhiều thập niên gần đây, KHOA HỌC và PHẬT GIÁO đã có nhu cầu “tương tác”, nhất là “trao đổi kiến thức về con người”, mở ra một giai đoạn “hành động mới” cho sự sống trên mặt đất, -nối kết công việc xây dựng và bảo vệ sinh thái, động vật…một cách sâu xa lẫn đồng bộ (=bảo vệ sức khỏe). -Chẳng hạng như chính phủ Hoa Kỳ, xuyên qua các Hội Thảo Hợp Tác Quốc Tế, đã tạo ra nhiều chiếc cầu “Tôn giáo và Sức khỏe”, do một số tổ chức «phi chính phủ» (ONG) đề xướng, trong đó có trường Đại Học Harvard, đã cống hiến một loạt bài, với nhan đề là “cốt lõi của thuốc trị bệnh”.

-Nghĩa là không phải chỉ ở Châu Á hay Châu Phi, mà ngay trong xã hội Tây Phương ngày nay, các bộ môn như «linh vật», «tâm lý», «tín ngưỡng», và «xã hội»…của tôn giáo…đã dần dần được «xem lại» một cách tích cực, bởi khoa học. -Từ đó, «pháp dược» với chánh kiến trong đạo Phật ngẫu nhiên đóng «vai trò nòng cốt» trong việc “kết hợp” tâm thanh tịnhthuốc trị bệnh. -Xem ra…đã từ lâu, «tín ngưỡng vốn cũng ảnh hưởng một cách sâu sắc đến sức khỏe con người», và có thể phối hợp với dược liệu, ngay tại những nước Tây Phương (=Âu-Mỹ), có tiến bộ khoa học khá xa !

<>Nhưng các “thầy thuốc” chuyên “Xử Dụng Y Học Cổ Truyền Phương Đông” thì chẳng bao giờ đặt vấn đề “quan hệ giữa tôn giáo trị liệu”, -vì đối với họ, hai lãnh vực xã hội nầy, tức tín ngưỡng và bệnh hoạn, đã TỰ NHIÊN “nhập vào nhau” từ nhiều ngàn năm qua. Đặc biệt là đối với đạo Phật ở Trung hoa và Tây tạng. -Một số người tò mò “giàu óc nghiên cứu lẫn quan sát”, đã ngẫu nhiên tìm thấy rải rác trong Kinh Điển Phật giáo địa phương, những văn tự bí truyềngọi là «dược khải», rồi họ mệnh danh đó là “thần chú trị bệnh”, -nhiều khi hợp lý, và nhiều khi biến thành hoang đường, mà họ không hay !

<>Ngoài ra, giáo lý do Đức Phật nói ra, sau đó lan truyền đến các quốc gia tiếp cận về phía Đông, như Lào, Miên, Thái, Miến, Việt Nam v.v…thì các nét đặc thù của Phật giáo Nguyên thủy (từ thuở Phật) đã phải chan hòa vào “văn hóa sở tại”, biến thành “pháp bí truyền”, rồi được coi là “linh dược”. -Và chính các thiền sư danh tiếng trong Phật giáo, quá khứ cũng như hiện tại, cũng đã tích cực truyền thừa qua nhiều thế hệ, bao gồm cả bổ túc và nâng cao giá trị theo nhu cầu thế gian. -Rồi bất kể là Phật giáo trải qua bao nhiêu thăng trầm, và biến dạng ra hình thức nào, các thế hệ tiếp nối vẫn bảo thủ như thế, nên biến thành một dạng “mê tín, dị đoan” (thậm chí ngu dân), mất hẳn tính hợp lý khoa học ! -Đây có thể xem là «hình thức phật giáo tiêu cực, thụ động, mất thực chất khai trí !».

<>Nhưng khi đọc kỹ kinh điển (Pāḷī) Phật Giáo Nguyên Thủy, chúng ta vẫn thấy rằng, sứ mạng Đạo Phật là loan truyền thông điệp tiến hóa (=TRÍ TUỆ), từ bi và hỷ xả…của Bậc Toàn Giác (Sammā Sambuddho) , xuyên qua phương pháp cải thiện thân tâm, làm sao cho tham sân si phải được dũa mòn từ bên trong, để đạt đến ý thức thanh tịnh (maṇavisuddhiyā), –tiền đề của thân thể lành mạnh ! -Và công việc đáng ghi nhớ đó, là đóng góp của những “Như lai sứ giả” (Dhammaduta), các bậc truyền thừa PHÁP QUANG của Phật.

*Đồng thời với thân tâm thanh tịnh (=đức hạnh), họ không bị ảnh hưởng bởi thế sự thăng trầm, đã luôn luôn làm tròn bổn phận mà không cạnh tranh với bất cứ đối tượng nào, để tùy duyên độ đời, giúp xã hội sống thiện, -đúng như bản chất của đạo «xuất thế bằng công phu nhập thế», rằng chẳng bao giờ có những tu sĩ hay sa-môn, đệ tử Như-lai (Tathāgata), mang tiếng trốn tránh trách nhiệm, hay nhiễm theo hoàn cảnh thế tục. -Nói cách khác, tham lam (lobha), ganh tị (issā, macchariyā), hận thù (vera, pakativirodha), và si mê (moha) không bao giờ dược dung túng trong nếp sống tăng đoàn nhà Phật.

-Nhưng đáng tiếc là thế giới ngày nay, vẫn còn quá nhiều đau khổ, và bị quá nhiều vấn đề xã hội (=ngu dân, cuồng tín, và cực đoan tín ngưỡng) quấy nhiễu, nên «Phật Giáo Nguyên Chất» không được phát triển một cách vô tư và thuận lợi.

-Thay vì dùng minh tín để «chính trị con người», và toàn dân sống trong hòa bình, tiến hóa với nhau…thì dùng cuồng tín (hay chủ nghĩa cực đoan, ngu dân), để cai quản xã hội, một cách tham lam vô độ, và tạo quyền lực ưu thế, khiến cho các mục đích cao đẹp của tôn giáo vị thalãnh đạo vì dân bị lu mờ, -đạo đức xuống cấp. -Từ đó, «bổn phận hướng dẫn tâm linh» của một số «tăng sĩ», biến thành «hành động cai trị tư tưởng» và «khai thác lợi lộc vật chất», -nếu không muốn nói là «bóc lột tín đồ», đồng lõa với nhà nước tà trị !

*Vả lại, bản chất của Phật giáo trong chiều sâu, là ÔN HÒA mattāyutta), vô hại (ahiṃsa) hay bất bạo động, không đối khángvới mục đích triệt hạ bất cứ đối tượng nào…lại bị hiểu lầm là «trung lập», hay «thành phần thứ ba», tránh nghịch cảnh…đồng nghĩa với nhu nhược («ba phải»), gián tiếp tạo thuận lợi cho kẻ ác ! -Kết quả, THÔNG ĐIỆPđầy BI TRÍ DŨNG của Đạo Phật, đã không được trân trọng, và chẳng được xem như tiềm lực hộ trì cho bình an nhân loại.

-Tuy nhiên, những nhà truyền giáo chân chánh của đạo Phật, trong đầu thế kỷ thứ 21 đi đến đâu vẫn còn được quần chúng địa phương đối đãi thân thiện, chứng tỏ đạo Phật tiếp tục có mặt tại nhiều nơi trên thế giới, không phải nhờ vào sức mạnh (kinh tế hay quân sự), mà là nhờ đạo hạnh HỶ XẢ, vị tha, vì con người !

Phẩm cách của Phật giáo.

<>Theo nghĩa lý căn bản, Đạo Phật là “con đường giác ngộ và thoát khổ” (bodhimagga = > nibbàna), hay phương pháp sống đúng sự thật, đưa con người đến văn minh, chấm dứt ngu si lạc hậu. -GIÁC NGỘ và THOÁT KHỔ thì đoạn trừ cột trói tư duy (dẹp tà kiến), phát huy trí tuệ. -Còn SỐNG ĐÚNG SƯ THẬTlà biếtxác thân ngũ uẩn nầy chỉ là kiếp sống tạm thời, để thực hiện hành động thích hợp, lạc quan, sáng suốt…luôn dùng NÓ như phương tiện hữu hiệu để tiến hóa, tránh sa đọa ! -Ngược lại với như thế là lạc hậu, ngu dân, bi quan, cuồng tín “ôm cứng 6 căn”, hành động bất thiện, để nhận chịu QUẢ XẤU…rồi sinh tử, lang thang trong Tam giới (Tiloka).

*Và xuyên qua sự thực hành Bát chánh đạo (samma-atthaṅgika-magga), người tu Phật còn được soi sáng và thấy rằng, thân-tâm nầy vốn đã do vô minh (avijjā) (ẩn trong ngũ uẩn) gây ra, và che mờ tri thức…nên đã không tránh khỏi hành động lầm lạc, “vô ý đóng góp” vào việc xây dựng cõi đời nhiễu nhương, đầy tham sân si, vướng mắc, tiếp tục gây đau khổ luân hồi…để khó thức tỉnh quay về nẻo sáng !

-Trái ngược với các Bậc Giác ngộ đã hết tham sân si, “sống trong thanh thịnh tự do”, không còn bị “nô lệ, ràng buộc, tù ngục” bởi vọng tưởng, vì đã triệt tiêu phiền não, xung đột, dứt hẳn chịu đựng đau khổ. Các Ngài hy sinh quãng đời còn lại để hướng dẫn nhân loại thoát ra lưới tham sân si (lobha, dosa, moha).

-Hoa trái của Bát Chánh Đạo là kết quả siêu thoát, có “thân khẩu ý trọn lành” (arahaṃ) hay Giải thoát (nibbāna). -Phật giáo có thể ví như cây đuốc soi đường cho những kẻ lạc lõng giữa rừng sâu (vô minh), hay ví như chiếc thuyền bát-nhã (pañña-yana) cứu vớt những kẻ nổi trôi giữa ba đào vượt qua “biển khổ” (saṃsāra), để đến bờ bình an vĩnh viễn và hạnh phúc.

<>Theo NGÔN NGỮ GIÁC NGỘ, Phật giáo vốn là lý lẽ anh minh của TỈNH THỨC NỘI TÂM nơi mỗi con người. Nhờ TỈNH THỨC mà Thánh nhân biết rằng “không có gì đã được tạo ra, và cũng không có gì sẽ bị tuyệt diệt”. -Vạn vật trong các «cõi tứ đại» thô (olārika) hay tế (sukhuma), thuộc dục giới (kāma loka) và sắc giới (rūpa loka) chỉ là các uẩn kết hợp để tan rã, chiêu cảm để vướng mắc. -Từ đó, 2 vận hành xoay vần ĐẾN rồi ĐI (theo chu kỳ bất tận), cứ tiếp tục tạo ra luân hồi (saṃsāra), sinh và tử, sống và chết (jātijarāmaranaṃ)  xoay vần mãi mãi.

-Tâm thức nào đã giác ngộ rốt ráo, thì tự nhiên nhận rõ điều ấy ngay thực tại. Và tất cả chúng sanh (dù cho căn cơ khác nhau) vẫn có ít hay nhiều khả năng đạt tới TỈNH THỨC (sati-sampajañña). Nhưng đáng tiếc là trong kẻ phàm phu, Tuệ căn đang bị che mờ, chôn sâu bởi TAM ĐỘC tham sân si…giống như nước trở thành nhơ đục, do những làn sóng dơ bẩn nhô lên và chìm xuống. -Nghĩa là trong chiều sâu, hình ảnh yên lặng tạm thời của bề mặt đại dương, vẫn chứa vô số làn sóng ngầm, sẽ hung hãn nổi lên lúc có gió bão. -Nhưng cũng với cái bề mặt mênh mông đó, khi gió ngừng sóng tan, thì mặt nước tự nhiên yên lặng, trong veo, thượng tầng thanh khiết !

-Muốn đạt phẩm cách ấy, Phật giáo khuyên «phải hành THIỀN», nhất là phát triển CHÁNH THIỀN (sammājhāna-bhāvanā), -một diệu pháp mang lại THANH TỊNH, đủ khả năng ngăn chận toàn thể gió bão tham sân si, chứ không phải chỉ khổ hạnh, mù quáng ruồng bỏ xác thân tứ đại nầy là đủ ! -Vì sao ? -Vì khổ hạnh (attakilamathā) là vô minh (avijjā), còn chánh thiền (sammā bhāvanā) là «dụng cụ duy nhất  để tạo nghiệp lành» nhằm tiến hóa !

(Lưu ý, cần phân biệt rõ giữa «KHỔ HẠNH mù quáng hành hạ thân thể nầy», và «PHẠM HẠNHsáng suốt giảm thiểu sự nuông chiều đòi hỏi xác thân» (còn gọi là 13 pháp tu «đầu-đà»), để được thanh tịnh, tự do, tiến hóa, giải thoát !

*Hay nói theo ngụ ngôn, thì SỰ TỈNH THỨC (sati-sampajañña) giống như “vàng ẩn trong quặng kim”. -Muốn có vàng tinh anh, người ta phải vui vẻ và kiên nhẫn thanh lọc quặng mỏ, cũng như muốn có TỈNH THỨC người ta phải tinh tấn TU THIỀN (bhāvanā) !

-Một cách tương tự, chúng sanh vì tiền nghiệp bất thiện, mà “luôn luôn có mặt” trong biển khổ luân hồi. Nhưng tất cả vốn «như nhau», trước “TÌNH TRẠNG”, tạm gọi là vùi dập trong “sóng gió” tham sân si. Và nếu muốn bình yên, phải thoát ra ngoài vùng nước tam độc ấy. -Do si mê (=vô minh=avijjā) thúc đẩy tạo nghiệp quá khứ (atìta karma), mà loài người mang thân ngũ uẩn hiện tại ! -Thân ngũ uẩn ấy chắc chắn phải luân hồi trong ba cõi, vì “khả năng tỉnh thức” hoàn toàn bị bạc nhược, mơ màng nhận lầm ngũ uẩn giả tạo (ngắn hạn) là “ngã”, -giống như nạn nhân BỊ SÓNG nhận chìm tin tưởng là «ta» BỊ NƯỚC nhận chìm ! -Nhưng thực tế nước không làm hại ai cả !

<>Khoa học đã chứng minh “chất lỏng là sự sống, là khởi nguồn của sinh vật”. Bậc Giác ngộ nói “nước tâm thanh tịnh là phẩm cách an vui” (tiến hóa). Và thiền pháp soi sáng rằng, “ngoài nước không có bão tố”. Muốn tìm ra chính mình hãy quay về với nước tâm, hay với «an chỉ trong thân». -TU THIỀN là “hóa giải” những đợt sóng tham sân si phá hoại nước tâm, bằng “tỉnh thức thanh tịnh”, tức là bằng thực hành Tứ Niệm Xứ (Catu satipaṭṭhāna = nhận thức THÂN THỌ TÂM PHÁP),để biết rõ vô thường không ở ngoài thân tâm nầy.

-Chỉ có «1» trong «2» pháp tính là “GHI NHỚ” (chánh niệm) trong THỰC TẠI, hay “QUÊN MÌNH” (phóng tâm) LANG THANG trong vô minh mà thôi. -Chánh niệm làm cho tâm chúng sanh AN TRÚ, định tỉnh, siêu thoát. -Còn phóng tâm, lang thang, thì sa đọa, luân hồi ! -Đừng đổ thừa “thân thể già nua, suy tàn lý do để không nhớ thiền pháp” ! -Đúng ra, chính tình trạng sức khỏe yếu dần hình ảnh báo động cụ thể nhất, để chúng ta sớm buông bỏ chuyện đời, cố gắng quay về với thiền pháp, càng sớm và thường xuyên càng tốt…may ra tạo được cái phao cứu giúp kiếp nầy và các kiếp sau !

<>Tưởng cũng nên nhấn mạnh rằng, “thanh tịnh tỉnh thức” (đưa đến giác-ngộ) trong Đạo Phật, không phải là một “pháp hành huyền bí”, mà chính là thói quen thiện hạnh, hay THUẦN THỤC buông bỏ vọng động, THÂN TÂM vô tư, CHỈ BIẾT THỰC TẠI, –không suy tưởng quá khứ…để vướng mắc vui buồn với chuyện đã qua, –không tưởng tượng tương lai…để lo âu cơ hội chưa đến, –không phung phí năng lượng…để làm mệt mỏi tinh thần. -Và sau cùng, THANH TỊNH TỈNH THỨC (visuddhi sati sampajañña) càng không phải là “đạt đến cảnh giới cực lạc” xuyên qua pháp thiền, -mà chỉ là AN TRÚ, VÔ CHẤP, NHẬN THỨC THỰC TẠI ! 

*Vì VỌNG ĐỘNG mà Chúng sanh nói chung và loài người nói riêng, đã mất đi KHẢ NĂNG “thấy đúng”. Do bị VÔ MINH che mờ, làm “nhiễm độc”, mà con người không ngừng sống trong phân biệt, lẫn lộn, ôm chặt tất cả trần cảnh vô thường, vướng mắc mọi ảnh tượng quá khứ lẫn hiện tại vốn luôn luôn thay đổi ! -Và khi những độc khí THAM SÂN SI gây sóng gió trong “nước tâm”, thì ánh sáng của “trí khôn bẩm sinh phàm phu” không đủ sức để chiếu rọi, nên bị “loạn kiến”, chẳng còn thấy một cách có “định hướng thanh tịnh” để phân biệt đúng/sai, tội/phước…đưa đến hành động bất thiện.

-Nhưng khi cả ba thứ gió độc tham sân si kia, được thiền pháp hóa giải…thì năng lực của TUỆ CĂN, «một» trong 52 tâm sở thiện (kusala cetasikā) sẽ phát sinh hùng hậu, đồng thời soi sáng…làm cho mọi hành vi từ thân khẩu ý của con người trở thành lành mạnh. -Đó ví như cảnh “mây tan trong đêm trăng rằm”, người ta sẽ thấy rõ mặt trăng cả trên bầu trời,dưới đáy nước, tuy HAI mà chỉ là MỘT ! Đây là hình ảnh «ngụ ngôn» rất minh triết của THIỀN !

<>Hơn nữa, sự tinh tấn tu tập chánh thiền (sammā bhāvanā), để chấm dứt “gió bão tham sân si” (trong nước tâm), và tiêu trừ tật phân biệt cố chấp, vốn là một thành tựu củaTHỰC HÀNH, chứ không phải của «luận thiền» qua LÝ THUYẾT. -Nhờ đó, “người vô phiền não tham sân si” sẽ tự chứng “niết-bàn” (nibbāna), “buông bỏ bản ngã tạm thời” một cách tự tại siêu thoát, chứ chẳng phải “đạt kỳ công gì cả”, để tự hào rằng «mình» hay «ta» là Thánh. -Và tuy là trở thành VÔ NGÃ (anatta), nhưng THÁNH NHÂN (ariya puggala) không đoạn kiến (na-ucchedadiṭṭhi), không cho rằng “chết là hết”, -mà chỉ biết «chết là dứt luân hồi» ! -Đặc biệt là Thánh Nhân không bao giờ rơi vào “tà thiền” (akusala jhāna)…cầu cạnh tha lực, dựa trên lý do “thành tâm niệm Phật sẽ thành Phật”.

-Vì «thiền nào» bị thúc đẩy bởi lòng tham, vốn là bất thiện và mê muội, luôn luôn săn đuổi các huyền năng cứu giúp linh thiêng vô định. -Nên biết rằng, tâm thanh tịnh thăng hoatâm chuyên chú vào huyền lực hoang đường, ban phước xá tội, là 2 loại tâm hoàn toàn khác nhau, nếu không muốn nói là nghịch chiều. -Một bên siêu thoát, một bên phiêu lưu sa đọa !

<>Như chúng ta đã biết, Đức Thích-ca Mâu-ni (Ariya Sakya Muni) trước khi thành Phật, là MỘT CON NGƯỜI,nhờ thanh tu toàn tịnh mà đắc chứng trí tuệ siêu thoát (lokuttarapaññā-sammāvisuddhi puggalo). “Giáo lý nguyên thủy” mà Ngài để lại cho dân chúng Ấn-độ ngày xưa, vốn KHÔNG CHỨA «tính huyền hoặc» (=mặc khải), của một tín ngưỡng nô lệ thần linh…luôn luôn mù quáng đề cao lãnh vực độc tôn siêu hình. -Và mặc dù sống trong một xã hội hoàn toàn phong kiến Bà-la-môn, giáo lý quí báu ấy cũng rất ít đề cập đến các «năng lực thiên chúng» (deva). -Phật giáo càng không rao giảng về một hay nhiều thần tượng cứu thế” với nội dung huyền ảo ! -Vì chắc chắn Bậc Giác Ngộ vẫn cho rằng, đó là nguồn gốc của mê tín dị đoan, hay tà kiến (micchādiṭṭhi). -Nói cùng mà nghe, Phật không bao giờ muốn tín đồ nhắm mắt tin Ngài !

<>Đối với Phật giáo, “NGU TÍN” (moha saddhā) là cố tật trong phàm nhân, cần phải được hóa giải, và biến nó thành “niềm tin lành mạnh” (sammā saddhā). Người tin Phật phải luôn luôn có sự bình tĩnh (nếu không muốn nói là độc lập) trước«thần tượng cứu giúp». Nhưng trường hợp nếu để xứng đáng với niềm tin hướng về thần tượng cao thượng nào đó, thì ấy phải với mục đích thanh lọc tinh thần, thuận chiều với tiến hóa lành mạnh, giải thoát.

-Hai chữ “ĐỨC TIN” trong Phật Giáo, theo tiếng Paḷī mà Phật dùng nói Pháp ngày xưa, là “Samma-saddhā”, ám chỉ “sự sáng suốt tôn kính” trước một đối tượng đầy đủ thánh đức (brahmāriyaguṇa). “Đức tin” trong Phật giáo có thể ví như “sự tín nhiệm của bệnh nhân đối với vị lương y có khả năng trị lành bệnh, -hay như “cảm giác chân thành của một học trò đối với ông thầy đầy đủ kiến thức và đức hạnh”, đã trao cho mình nhiều nhiều hiểu biết hữu dụng, giá trị.

-Một thiện nam (upāsaka) hay một tín nữ (upāsika) đặt niềm tin nơi Phật-Pháp-Tăng (Buddha-Dhamma-Saṅgha), vì Ba Ngôi ấy đã chỉ ra con đường trong sáng bình an, tiến tới mục đích cải thiện hiện tại…và được xác nhận bằng thực nghiệm. Niềm tin TAM BẢO vốn có nghĩa là 1/tín nhiệm Bậc Toàn Giác, 2/quyết tâm thực hành giáo lý thoát khổ(=Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo), và 3/cố gắng noi gương cộng đồng Tăng lữ, sống tinh tấn dập tắt toàn bộ phiền não, làm khuôn mẫu cho nhân quần, xã hội.

<>Một người tin vào CHÁNH PHÁP do Phật nói ra, vốn không tìm kiếm sự “cứu rỗi”, xuyên qua “quyền năng” của Ngài. -Vì chính Phật đã chẳng bao giờ khuyến khích như vậy. -Trái lại, Phật còn nhấn mạnh rằng, “dù với lòng từ bi vô lượng Ngài vẫn không thể làm cho tâm thức chúng sanh, còn chứa nhiều ô trược (tham sân si) trở thành trong sạch, để giải thoát”. -Chẳng những thế, Ngài còn quả quyết rằng, “Không ai trong tam giới có thể làm được chuyện đó”.

<>Nói cách khác, đức Phật là một vị thầy, một «thiên nhân sư» vô cùng thanh khiết, siêu thoát, -Ngài không bao giờ đóng vai “tạo hóa toàn năng” để “ban phước, xá tội” hay «trừng phạt», hoặc “giáng họa” đến bất kỳ ai. -Dù Phật có rất nhiều năng lực siêu nhiên (thần thông trên cả đại thần linh) đi nữa, Ngài vẫn luôn luôn hành động theo chân lý «nhân-duyên-quả», vì đó là qui luật muôn đời trong 3 cõi (=trời, người, và đoạ cảnh), -mà một Bậc Đại Giác Ngộ (sammāsambhuddha) chắc chắn đã  hoàn toàn nắm vững !

-Và mỗi chúng sanh phải gặt hái «nghiệp quả nào» do mình đã tạo, không thể nhờ thế lực thần linh hoang đường giải quyết. -Đồng thời mỗi chúng sanh cũng có quyền chọn lựa con đường mình đi, bằng tuệ căn bẩm sinh hay tuệ căn đã phát triển. -Đại đồng hơn nữa là phương pháp tiến hóa, do Phật thuyết ra, không giữ độc quyền cho những tín đồ của Ngài.-Ai noi gương Phật bằng hành động hướng thượng, sẽ hưởng thụ kết quả lành mạnh, hạnh phúc, và giải thoát. -Ai sống nghịch lại thiện pháp, thì tạo nghiệp nào sẽ nhận quả nấy, nếu không phải trong kiếp nầy, thì chắc chắn…sẽ ở các kiếp sau !

*Cái mà đức Phật từ bi, hằng có thể “ban cho” tất cả chúng sanh, -nhất là nhân loại, là phẩm cách hướng thiện, khai trí, tự do,bình đẳng tuyệt đối. Như Phật ngôn sau đây :

Hãy sống đời sống thiện hạnh, đừng hành động thấp hèn, vì đời sống chân chính, lành mạnh sẽ làm cho một động tử (chúng sanh) có hạnh phúc đời nầy và nhiều đời sau”.

<>Nói chung, tất cả những lời dạy khác của đức Phật, đều có nội dung xây dựng không kém. Nó luôn luôn tập trung vào “TỰ DO TƯ TƯỞNG”. Vì Phật giáo nhắm đến giải thoát chúng sanh (trong đó có nhân loại), ra khỏi ảnh hưởng huyền bí, tương đương vơi ngu dân, (bất thiện) của “Thần linh ma mỵ”, hay ra khỏi các “cột trói vào quyền lực siêu hình” rồi “phải chịu khuất phục bởi tín điều” (=mù quáng, cầm tù tư tưởng), bởi văn hóa tham sân si.

-Vào thời Phật còn tại thế, đã có không ít giáo thuyết huyền bí tràn ngập dân gian. -Và xã hội cổ Ấn-độ là “môi trường tín ngưỡng đa thần nhất”, để lôi kéo tín đồ nhẹ dạ. -Một số giáo chủ cố ý gieo rắc khá nhiều giáo điều mê hoặc. -Một số khác lấy các mẫu ấy sửa lại, đồng thời thêm thắc “thần năng mặc khải” vào, và xác nhận thần linh đã giao cho họ trách nhiệm truyền đạo, để “cai quản thế gian”…một cách “vĩnh viễn” (?!). Rồi giáo phái nào cũng tuyên bố “chỉ có họ mới xứng đáng được lập đạo”, và tín điều họ nêu ra là “đúng nhất” !

*Nhưng Đức Phật đã công khai tuyên bố trước công chúng : “Hãy đến đây, quí vị cần tự do tư tưởng, để chấm dứt bế tắc trong giáo lý”. -Và tiếp theo Ngài khuyên quần chúng cẩn thận trước 10 điều, như kinh Kālāma trong đoạn trước đã nói, một lần nữa xin lập lại :

«1-Đừng tin những gì do tường thuật. 2-Đừng tin những gì gọi là “truyền thống” hay “văn hóa”, do các thế hệ trước áp đặt. 3-Đừng tin những gì chỉ vì nó là “kinh điển”. 4-Đừng tin những gì thế gian xem là của “thần thánh”. 5-Đừng tin những gì vì người nói là “đạo sư”. 6-Đừng tin những gì đến từ cấp trên. 7-Đừng tin những gì do một số người bàn tán, đồn đại (ngày nay gọi là “dư luận viên”). 8-Đừng tin những gì gọi là ý kiến chung, hay do cộng đồng phỏng đoán như thế. 9-Đừng tin những gì tạm xem ra hữu lý để chấp nhận. Và 10-Đừng tin những gì có văn bản làm chứng».

*Và quan trọng hơn hết, sau cùng Phật quy nạp, «tốt nhất là bản thân mỗi cá nhân sau khi nghe, hãy khách quan phân tích, rồi áp dụng thấy có kết quả thực tiễn…cho mình và cho người, đồng thời cũng được các bậc phạm hạnh khen ngợi khuyến khích. Sau đó có thể giữ lại trong tâm như cách sống».

<>Đây là 1 trong “NHỮNG BÀI PHÁP” từ Đức Phật, mà không một giáo chủ nào khác trên thế gian đã thốt ra, có thể xem là KHAI TRÍ, liên quan đến “TÍNH ĐỘC LẬP”, mở rộng, thông thoát…của con người, -theo đó mỗi người cần quan niệm ĐÚNG về 2 chữ “TỰ DO” để tranh thủ và đạt được mục đích ! -Ấy cũng là nguyên tắc, đã nâng cao tinh thần Phật giáo vượt không gian và thời gian, làm cho Đạo Phật trở thành KHOA HỌC (vijjā) hơn ! -Và «GIÁO LÝ» nầy có thể xem là «văn học đòn bẩy» đưa tri thức phàm nhân lên cao, thăng hoa.

<>Nhìn vào lịch sử nhân loại chúng ta thấy, trước khi đạt tới “sự tiến bộ” ngày nay, những triều đại phong kiếncác chủ nghĩa độc tôn đã tạo rất nhiều trở ngại, KHÔNG để cho con người có khái niệm đúng về các chữ «văn hóa», «độc lập». Nhất là tự do tư tưởngvà “bình đẳng chọn lựa nguyên tắc sống chung” (hay thể chế chính trị), trong đó “khai trí cộng đồng” là NỀN TẢNG.

Xã hội phong kiếncác chủ nghĩa độc tôn, đã cố ý ngu dân, không cho con người biết cái gì là thiện pháp (nên làm), vàcái gì là ác pháp (phải dẹp bỏ)”. Họ vẫn cố ý gieo rắc cuồng tín rằng, «muốn được bình an phải tuyệt đối tin tưởng vào thần linh do họ đặt ra, và ngoan ngoãn phục tùng mệnh lệnh của họ». -Nhưng Đức Phật đã nêu ra một GIẢI PHÁP khác, rằng «TỰ DO khỏi DỤC VỌNG (=tham sân si) mới là phương cách giảm khổ, tiến tới bình an vững chắc nhất». -Vì ít dục vọngnhiều trí tuệ, và đó là nguồn gốc của văn minh, tiến hóa, hạnh phúc.

-Nói rõ hơn, “tự do tư tưởng trong mỗi cá nhân, phải VÔ ÁC Ý, không phương hại đến kẻ khác”, -hay gọi là TỰ DOtrong luật lệ hòa thuận chung ! -Bài học về TƯ TƯỞNG TỰ DO (trong kinh Kālāma) vừa được chúng ta nêu ra đến lần thứ hai, phải nên xem là “nguyên tắc muôn đời” của nhân loại !

——–

Laisser un commentaire