Bài III
HAI THỨ BỆNH HOẠN : Thân và Tâm.
A-Thân bệnh xảy ra như thế nào ?
<>Theo Phật học, THÂN BỆNH được “thành lập” bởi 2 mặt tương tác, BÊN TRONG và BÊN NGOÀI. -“Bên trong” là sự bất hòa giữa 4 nguyên tố «biệt nghiệp sắc pháp», tạm gọi tên qui ước…là đất, nước, lửa và khí (=TỨ ĐẠI). -“Bên ngoài” là sự mất thăng bằng giữa toàn thể thân người và 4 yếu tố (=tứ đại) «cộng nghiệp với xung quanh». Nói cách khác, đó là môi trường sống (TRONG lẫn NGOÀI). -Nghĩa là bệnh hoạn phát sinh khi MỘT trong BỐN ĐẠI nội thân và ngoại cảnh mất thăng bằng, hay xung đột, gây trở ngại qua tương tác, và do đó sự vận hành trở nên không bình thường. -Bậc tinh thông chân lý y học vẫn nói, “Tứ đại luôn luôn ở đó mà thôi. –Chúng ở dạng THÔ KỆCH (olārika=hữu hình) hay TINH VI (sukhuma=vô hình), đang CẤU KẾT hay DỪNG CẤU KẾT” với nhau trong thực tại. Từ đó sinh ra 2 loại vận hành tự nhiên là :
<>CẤU KẾT (sāmagga) thì trở thành nguyên tố vật chất (rūpadhātu), và thường xuyên tương tác 2 chiều, thuận và nghịch (sāmaggi-bheda). –Thuận (sāmaggi) thì bình an (khỏe mạnh), thăng bằng. –Nghịch (bheda) thì xung đột (chịu đựng rời rạc, suy tàn, bệnh hoạn), mất thăng bằng, bất ổn. -Cả hai THUẬN và NGHỊCH tao ra chu kỳ, bắt đầu bằng CÓ (atthi), và chấm dứt bằng KHÔNG (natthi). -Cát bụi sẽ HOÀN VỀ cát bụi (dhūti-paccāgamana) !
<>NGỪNG CẤU KẾT (asāmagga) thì tịch diệt (nirodha), tự do (nibbāna), siêu việt (lokuttara)…nhưng chẳng bao giờ “biến mất”, triệt tiêu, đoạn diệt ! -Xin đừng hiểu lầm “ngừng cấu kết” (hay phi cấu kết) là “phản hợp”, “cô lập”, hay “bất lực”.
*THÂN NẦY vốn đến từ DUYÊN TỨ ĐẠI (catu mahādhātu paccaya). Chúng vốn tùy theo NGHIỆP BÁO (kamma-vipāka), nên không thăng bằng và hằng xung đột (chịu đựng=“KHỔ”= DUKKHA), dưới các hiện tượng (diṭṭhivisaya=phenomena) như sau :
-Khi “phong đại” (vāyo mahādhātu) chuyển động mạnh thì “thân thể mệt nhọc, hơi thở không đều”.
-Khi “thổ đại” (paṭhavī mahādhātu) vận hành chậm (đào thải cặn bã bất thông) thì “thân thể nặng nề, trì trệ”.
-Khi “thủy đại” (āpo mahādhātu) gia tăng (=lấn lướt hỏa đại) thì “xác thịt nặng nề, mập phì”.
*Khi “hỏa đại” (tẹjo mahādhātu) thắng thế (=thủy đại bốc hơi, giảm lượng, yếu ớt) thì “thân thể gầy ốm”.
<>Dù cho kiến thức Y HỌC có xác nhận rằng, thân người đang bị bệnh vì vi trùng gì đi nữa, thì nguồn gốc nguyên thủy vẫn là sự bất hòa của tứ đại, tức mất thăng bằng mà thôi. Vì vậy trong sức khỏe sinh động vật (nhất là con người), thân bệnh không bao giờ vắng mặt (do sự lão hóa (do tham sân si) ngấm ngầm từng giây từng phút gây ra), và “bệnh hoạn” vẫn tàng ẩn đâu đó, chưa bộc lộ. -Muốn giảm thiểu thân bệnh, con người phải thăng bằng cải thiện nếp sống, bằng ăn uống lành mạnh, ngủ nghỉ đều hòa, nhất là tránh các hấp thụ gây nghiện, và vận động thể dục. -Còn tinh thần thì giảm thiểu tham sân si. -Tịnh tâm hay hành thiền !
B-“Tâm bệnh”phát sinh ra sao.
<>Theo Phật giáo, bệnh tinh thần phát sinh trước tiên bởi VÔ MINH (không biết trước kết quả của mọi vận hành), và bởi tư tưởng cố chấp vào những gì THUẬN hay NGHỊCH, đã xảy ra và chấm dứt, rồi tư tưởng bám chặt vào “quan niệm” của “cái ta tạm thời”, không ý thức rằng NÓ (=ta) chỉ là sự sống biến đổi liên tục, chẳng bền vững (vô thường). -Nói cách khác, đó là ảo giác do dục vọng trong vô minh gây ra, và phản ứng của con người là chống lại tình trạng bấp bênh ấy.
*Đây là nguyên nhân căn bản của các xáo trộn tinh thần…-như căng thẳng thần kinh, -áp huyết cao, -sợ sệt tất cả, -lo âu gặp trở ngại, -hy vọng bâng quơ, -giận hờn vô cớ, -tâm trí bế tắc, -tinh thần thương tổn, -không có khả năng tiết chế mọi hành động ngu xuẩn (kể cả ăn uống)… -chồng chất thành “tập khí” (khandha) hay thói quen nhục dục, nghiện ngập, buông xuôi, bất lực, hướng ngoại, liều lĩnh…-và rất nhiều những hiện tượng xấu khác (añña akusala diṭṭhivisaya) !
-Tuy nhiên, những nguyên nhân tâm lý cũng không phải là nguồn gốc duy nhất của bệnh hoạn tinh thần, mà trên thực tế, còn nhiều yếu tố vật chất bên ngoài, cũng làm cho con người vô minh bất an, cảm thấy không hài lòng với sự sống, -như thiếu thốn thực phẩm, vật dụng…và chịu đựng thời tiết nóng lạnh, -nói chung là các nghịch cảnh thiên nhiên, -như tai trời ách nước…v..v…hằng dự phần vào khổ não ấy.
*Và theo Phật giáo, sự đòi hỏi không ngừng…dẫn đến khao khát liên tục, là yếu tố căn bản của bệnh tinh thần…-nặng hay nhẹ tùy theo độ sâu của của VÔ MINH và VỌNG ĐỘNG (vì tham lam). -Do đó, Phật giáo khuyên mỗi cá nhân nên hạn chế hay chỉ huy tật đòi hỏi, giảm thiểu tính bất mãn, buông đi các ảo vọng, -nhất là cố gắng vun xới tịnh tâm, để sáng suốt hóa giải những trở ngại, và sẵn sàng hòa hợp với xung quanh…đồng thời tương trợ kẻ thất thế…hầu cùng nhau tạo niềm vui, được an ổn chung !
<>Sự thực hành đó sẽ làm cho căng thẳng thần kinh giảm dần, và năng lực tâm linh tự gia tăng. -Đây là một HƯỚNG DẪN hoàn toàn ăn khớp với khám phá của “Tổ chức Sức khỏe Thế giới” (World Health Organisation=WHO), -là phương pháp thiết lập sự lành mạnh thân tâm và tình cảm của con người. Vả lại, khảo cứu và phân tích khoa học gần đây nhất, còn chỉ ra rằng, khi tâm trí con người tập trung vào việc thiện, trở thành “mẫu sống xứng đáng”, thì hệ thống tiết chế “ót-môn” (hormone) trong não bộ sẽ giúp tinh thần nhẹ nhàng, lạc quan, bình yên, ít hay không căng thẳng.
“Sống thanh tịnh trong thiện pháp, không hành động thấp hèn., nuôi mạng chân chánh, thì được hạnh phúc kiếp nầy và kiếp sau”.
<>Khi có chánh kiến (sammādiṭṭhi), chánh tư duy (sammāsaṅkappo), có tinh thần vị tha, và biết noi gương Đức Phật, đồng thời tôn kính Tam bảo, thì con người sẽ tích cực thực hiện các nghiệp lành sau đây :
-Giúp cơm áo đến người nghèo khó,
-Hiến tặng chỗ ở cho kẻ không nhà,
-Cứu mạng các sinh linh yếu thế trước cái chết,
-Phụng dưỡng cha mẹ và phục vụ những bậc lão thành,
-Nghe chánh pháp, hiểu đúng và chia sẻ nội dung Phật ngôn đến xung quanh, để cùng nhau tạo nghiệp lành qua 3 nơi thân, khẩu, và ý.
*Giữa vạn vật vô thường, ngay cả khi xác thân đang chịu đựng bệnh hoạn, đau đớn, già nua, tàn tạ, sắp chết…người tu Phật thuần thục trong thiền, cũng nhờ NĂNG LỰC thanh tịnh…có thể giảm bớt hay vượt qua những bất an tinh thần, và làm gia tăng hiệu quả của thuốc men (dược liệu). -Có khá nhiều trường hợp những sa-môn trưởng lão và một số cá nhân thực hành Pháp Phật, đã duy trì được thân thể quân bình, tinh thần trong sáng, và sống ngoài vòng quấy nhiễu của các thân bệnh lẫn tâm bệnh…mà ít chịu đựng nỗi khổ vật lý. -Rồi cái chết đối với họ chẳng còn là điều đáng sợ nữa !
*Để vượt qua cả hai lãnh vực, KHỔ THÂN (lão, bệnh, tử), và KHỔ TÂM (lo âu, sợ hãi, tối tăm), việc tất nhiên là dùng đúng thuốc, hấp thụ thực phẩm sạch, và tuân thủ các phương pháp trị liệu khoa học. Nhưng về mặt tinh thần, tâm thanh tịnh vẫn đóng một vai trò rất quan trọng, nhờ giữ giới hằng ngày, vànhất là tu thiền…để giúp tâm thức trở nên tự tin, mạnh mẽ, và tư duy thăng hoa…tự động hướng đến cảnh giới bình an. -Đó vốn là một hỗ trợ nòng cốt vào sự sống.
*Công phu tu thiền trong nhà Phật, có khả năng “cô đọng năng lượng” (khỏi bị phân tán xuyên qua phóng tâm vô ích), đồng thời phẩm cách thấm nhuần sự thanh tịnh, sẽ tự nhiên tạo ra hiệu lực trị liệu cho “thân bệnh” một cách kỳ diệu, vượt lên trên các vận hành lý hóa thể xác (phàm tục), để cảm thấy thoải mái trong sự sống cộng nghiệp với vạn vật xung quanh, một cách chan hòa, sáng suốt, và dung nạp. -Mỗi người tuy có thể chọn lựa pháp thiền khác nhau, nhưng cứu cánh vẫn là HỶ XẢ, hòa đồng. -Và đó là sự mầu nhiệm !
<>Trong Tập Bộ Kinh (Saṃyutta-nikāya) cuốn IV có ghi một số khá nhiều các câu chuyện về đệ tử Phật bị bệnh nặng, và có thể vượt qua khổ đau thân xác, khi nghe PHÁP THIỀN rồi tinh tấn áp dụng. Chẳng hạn như Trưởng lão Đại Ca-diếp (Mahà Kassapa) bị bệnh nặng, Đức Phật đến thăm và thuyết cho ông nghe “Thất Bồ-đề Phần” (Satta Bojjhaṅga = Bảy Yếu Tố Giác ngộ). Nghe đến đâu, Trưởng lão thực hành hấp thụ đến đó, xong bài Pháp Ngài giảm hẳn đau khổ. -Điều nầy nói lên rằng, nếu tinh thần bệnh nhân trở nên bình an thanh tịnh, thì thọ cảm sẽ phát sinh tích cực và nhẹ nhàng.
-Chính cái “bình an tinh thần” kỳ diệu đó đã “tác động” vào hệ thống thần kinh trong thân thể, làm tiết ra chất ót-môn chống đau hùng hậu (hormone dopamine) và chống nhiễm độc (anticorp=immunity) rất tích cực…làm cho cả thân và tâm của người bệnh quân bình, phục hồi sức khỏe tự tại.
*Trường hợp khác, là Sa-môn Girimānanda cũng vậy. Sau khi nghe PHÁP xong, tinh thần của bệnh nhân đã hoàn toàn cải thiện. Thay vì tiếp tục quan tâm một cách ràng buộc vào xác thân ô trược vô thường nầy, tâm linh Ngài Girimānanda chợt bừng sáng…phá chấp, thông thoáng, thanh tịnh…nở ra “hoa giác ngộ”, giảm thiểu và hóa giải hết sự đớn đau (do tham chấp và sân si), sức khỏe tự nhiên phục hồi.
<>Thuật sự trong kinh còn nói rõ rằng, khi Ngài Girimānanda bệnh nặng, Đức Phật đã khuyên ông hãy tinh tấn quán niệm về tất cả nhận thức, như vô thường, vô ngã, bất tịnh, hiểm nguy, thoát ly, nhàm chán, buông bỏ, và diệt độ…Phật dạy ông chú tâm trên hơi thở VÀO lẫn RA (ānāpāna sati), để hợp nhất với NÓ mà cảm giác toàn thân (sabba kāya sampajañña) “thấy rõ” thực trạng “từng tế bào sau khi sinh phải già nua, tự đào thải qua mỗi sát-na”(=đơn vị thời gian ngắn nhất=“khana”, khoảng 1/1000 giây, theo Phật học). -Quả nhiên, căn bệnh và sự chịu đựng (KHỔ) của Ngài Girimānanda đã duyên theo đó mà thuyên giảm, tùy theo mức độ thanh tịnh và chuyên cần.
-Tuy Đức Phật đã chia bệnh hoạn thành 2 loại, là thân bệnh (kāya roga) và tâm bệnh (citta-roga). Ngài nói rằng, chúng ta có thể từng gặp một số người, tự cho là mình không bị THÂN BỆNH suốt nhiều năm, hay trong cả 100 năm. Nhưng Ngài nói tiếp, “rất khó tìm ra một phàm nhân KHÔNG TÂM BỆNH (hay chẳng chịu khổ vì tham sân si, phiền não tinh thần), dù chỉ trong chốc lát !”.
-Còn các Thánh nhân đã hoàn toàn HẠNH XẢ (sabbupekkhā), tâm không bị cột trói bởi bất cứ việc gì thì khác. Các Ngài khi còn sống có thể chịu một số thân bệnh theo vận hành vật lý tự nhiên, nhưng tâm bệnh thì nhờ đã tận trừ tham sân si, do sự tròn đủ giác ngộ và giải thoát. Chúng ta có thể nói, các Ngài đã đạt được phẩm cách giảm thiểu thân bệnh và hoàn toàn vô tâm bệnh.
-Nói chính xác hơn, là chư Thánh nhân trong kiếp chót, chỉ còn chịu đựng các đau yếu thuần túy thể xác (vật lý), nhưng không “gánh vác” những rối loạn tinh thần (hay phiền não). Vì vậy, Thánh nhân và phàm nhân tất nhiên có “2 ứng xử” khác nhau, khi “đối đầu” với thân bệnh, -một bên thanh tịnh chấp nhận (vì liễu ngộ), -trong khi đó thì bên kia nguyền rủa, nóng giận, trách móc…với tinh thần hỗn loạn.
Hãy đọc lại Pháp cú (=Phật ngôn) nói về “bảo vật” dưới đây :
“Sức khỏe là sự sống quí nhất”.
“Tâm hài lòng là tài sản quí nhất”. “Thân nhân có thể tin cậy, là quyến thuộc quí nhất”. “Niết-bàn là hạnh phúc cao nhất”.
<>Đức Phật là một THANH TỊNH Y VƯƠNG. Ngài ưu tiên chú trọng đến lành mạnh tinh thần. Vì Ngài đã nắm vững nguyên nhân chính của tất cả bệnh hoạn là PHIỀN NÃO (kilesa hetu). Rồi với lòng từ bi Ngài nêu ra DƯỢC PHÁP (bhesajja-dhamma) có mục đích đối phó hữu hiệu với cả thân bệnh lẫn tâm bệnh, để cứu khổ chúng sanh nói chung, và nhân loại nói riêng, chứ Ngài không như một y sĩ phàm phu, luôn luôn tìm cách “giải quyết bệnh hoạn”…dựa trên tâm lý !
<>Đề tài mà chúng ta đang thảo luận ở đây, cố ý nói đến sự đóng góp của Phật giáo, vào kiến thức con người về sức khỏe, về bệnh hoạn, và về các cách phối hợp chữa trị, -nhờ đó, chúng ta có khả năng duy trì BÌNH AN THÂN TÂM, -nhất là khi phải đối diện với các “thách thức” của bệnh hoạn do vi trùng hay vi khuẩn nguy hiểm gây ra.
————