Archives quotidiennes : 30 avril 2024

Soạn phẩm liên đề :«Đạo Phật, Khoa học, Thiền pháp, Sức khỏe» Bài 2

———

Bài II

Đạo Phật qua nhận xét giới Khoa Học.

*Đặc biệt là phát biểu về đạo Phật của Cố Giáo sư Albert Einstein (1879-1955), người đã khám phá ra năng lượng hạt nhân (énergie nucléaire), chúng tôi xin nêu dưới đây nguyên văn Anh ngữ của ông, và thoát bản dịch Việt ngữ, để bước vào nội dung tập sách nầy :

The religion of the future will be a cosmic religion. It should transcend a personal God and avoid dogmas and theology. Covering both the natural and the spiritual, it should be based on a religious sense arising from the experience of all things, natural and spiritual, as meaningful unity. If there is any religion that would cope with modern scientific needs, it would be Buddhism”.

Xin thoát dịch ra Việt ngữ như sau :

« Tôn giáo của tương lai sẽ là tôn giáo toàn cầu, vượt lên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát 2 phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên tinh thần, đặt trên căn bản của ý thức luân lý đạo đức, phát xuất từ kinh nghiệm toàn vật, gồm mọi lĩnh vực vừa kể, trong cái nhất thể đầy đủ ý nghĩa. Phật giáo đáp ứng được các điều kiện kể trên».

(Đây là Ý KIẾN RẤT VÔ TƯ của một nhà Bác-học lừng danh).

***

-Và với phát biểu của Albert Einstein, chúng tôi xin vào “liên đề” :

ĐẠO PHẬT, KHOA HỌC, THIỀN PHÁP SỨC KHỎE.

<>Một trong bốn “lãnh vực” nầy là Đạo Phật, nhất là về “nhân cách” của vị “Giáo chủ”, tức Đức Thích-Ca Mâu-Ni (Sakya Muni Buddha), đã được chúng tôi mượn lời của những danh nhân thế giới bày tỏ ở “Bài I”. -Hiện tại là lúc soạn giả phải nói về nội dung tập sách. 

*ĐẠO PHẬT là 1 “tôn giáo” có THIỀN PHÁP là “khoa học thanh lọc tâm linh”. Nó không giống với “kỹ thuật” của “môn thần học” (théologie) của bất cứ đạo nào trên mặt đất. -Vả lại, thiền pháp” (bhāvanā) trong nhà Phật đã được nói đến từ lâu, chứ không phải đợi đến bây giờ chúng ta mới nêu ra. Nhưng “thiền pháp” trong soạn phẩm nầy lại là một “sự thật khác”. Còn KHOA HỌC đề cập ở đây, là trí tuệ được áp dụng tính khách quan trong đạo Phật, để khảo cứu về con người, về xã hội và về vũ trụ.

-Khoa học trong cái nhìn của đạo Phật, luôn luôn duy lý trong kiến thức, để ghi nhận rằng, con người hằng sống và sinh hoạt tuân lệnh “trí khôn”, -có sự phân tích theo tâm tư sáng suốtthích ứng với thực tại. Nghĩa là, khoa học càng tiến tới, thì mọi hình thứctrong vận hành lý hóa của đời sống vạn vật (-nhất là con người), càng cần đến sự phát triển quân bình (trung đạo) một cách liên tục, cụ thể và hiển nhiên (để được xác minh).

*Phật giáo quan niệm “sống là vận hành, là tạo nghiệp, là trở thành một cái gì đó”, nên đặt trọng tâm vào “năng lực thúc đẩy tiến hóa bên trong”, tạm gọi một cách qui ước là “giòng điện tâm chảy về phía trước” (-tạm gọi là hướng đến “tương lai”= kết quả). Từ đó, Phật giáo khuyến khích con người hướng vào “nội tâm” (citta-viññāna) để phát triển tinh thần, hầu làm cho cuộc đời nở hoa và tỏa hương thơm, -gặt hái HIỆU LỰC VĂN HÓA. –Nhựa sống của văn minh !

-Nếu khoa học bị “sự căn cứ trên tính hợp lý” đóng khung, thì Phật  giáo sẽ mở cái khung ấy (nhờ vô chấp), để giúp tư tưởng con người vượt qua “qui ước tương đối”. Đó là một đặc điểm tuyệt vời, đã đưa Đạo Phật đến tín dụng siêu việt, giải thoát cả đến các “vướng mắc vào thiện pháp”, dù cho hàm chứa “phẩm cách tích cực” nhưng ấy vẫn là một dạng của lòng tham (!), hầu có thể tiến hóa chung. -Nghĩa là Phật giáo vun xới tinh thần hợp trí, (ñānasampayutta) thiết lập tri thức thông thoáng…làm cho con người luôn luôn sống tỉnh thức, thấy rõ mọi ý nghĩ, hành động, cũng như cảm giác (thuận lẫn nghịch)…trong mục đích dấn thân vào sự thiết lập các sinh hoạt lý hóa toàn cầu, mang lại hạnh phúc cả THÂN lẫn TÂM cho mỗi cá nhân và cho tất cả.

<>Xuyên qua nghiên cứu các kinh sách nhà Phật, nhiều học giả đã “khám phá” một số lớn viễn ảnh tích cực, dưới dạng “những ẩn số”, nói về vũ trụ và các cõi có sinh linh…tương đương với các thống kê của quan sát không gian, đã được các nhà bác học thiết lập. -Dù cho nhìn bề ngoài, người ta chỉ thấy hầu hết kinh Phật luôn hướng đến cách tu tập, nhằm thoát khỏi các chịu đựng bất tiện (dukkha), liên quan đến đời sống…nhưng với một tâm thức sâu sắc, người ta vẫn thấy ấy là một giáo lý mô tả “bản sắc lý hóa” của thế gian và vũ trụ.

-Mặt khác, Phật giáo vẫn phát biểu rằng, mọi hiện tượng cụ thể hay trừu tượng (thấy được hay không thấy được), đang nằm trong tầm quan sát bắt đầu từ hình thức…đều chỉ là qui nạp của “hiện kiến”, dựa trên “luận cứ đã có”, -vốn hiển nhiên là “kết quả” của những yếu tố đã hoàn toàn tan rã, đến từ các CHU KỲ sống trước (hay nguyên nhân quá khứ), -nói theo nhà Phật !

-Đây là kiến thức vũ trụ, hằng thậtminh bạch trong sự sống thế gian, rằng hạt không thể mọc và nẩy nở, mà không có những điều kiện thích ứng tự nhiên (=trợ duyên), -dù cho ấy là hạt “rất tốt”! -Nghĩa là Phật giáo cũng như khoa học luôn luôn đặt ưu thế trên điều kiện tương tác trong hoàn cảnh thực tại. -Người học Phật không tùy thuộc vào sức mạnh “siêu nhiên”, mà phủ nhận thực nghiệm.

*Một khoa học gia vô tư, muốn tìm ra sự thật trong cuộc sống, chắc chắn sẽ được Phật học soi sáng. -Rằng mỗi khi con người có sự tỉnh thức thanh tịnh (đúng Phật pháp : dhammmena), thì niềm tin tôn giáo có thể sẽ không cần thiết trong tâm nữa, và “NÓ” cũng không phải là điều kiện tiên quyết. Họ sẽ khám phá ra nhiều điều mới lạ về sự Giác ngộ (bodhi), hơn là những giáo điều nhắm mắt tin mù. -Bậc trí thức chân chánh thì không tạo ra sự “cọ xát tư tưởng” một cách vô ích, với bất cứ tôn giác nào, vì lý do khác niềm tin. 

-Ngày nay, người Tây Phương có vẻ khá “say mê” tôn giáo Phương Đông, đặc biệt là đạo Phật. Hiện tượng nầy đang xảy ra với sự phát triển khoa học, và song song với sự nhàm chán các tôn giáo cổ truyền của họ. -Và khi khoa học tiến tới, thì “khủng hoảng tôn giáo” dường như gia tốc, không tránh được gây ra lủng củng giữa “tín ngưỡng” và “lý trí”. Lủng củng ấy không khéo sẽ làm cho tâm linh con người mất “điểm tựa”, nếu không có đạo Phật ngẫu nhiên đóng vai trò “xoa dịu” một số rạn nứt và chênh lệch…giữa vật chất và tinh thần !

-Xem ra sự có mặt của đạo Phật ở Phương Tây trong hiện tại, đang là kết luận của giai đoạn, gọi là “Hậu Darwin”, cần đến một tôn giáo có niềm tin dựa trên bản sắc khoa học.

<>Phải chăng tiến bộ lý hóa (bao gồm không gian) đã trở thành “tôn giáo” của Tây phương, -một “tiêu chuẩn có vẻ tuyệt đối” để khám phá sự thành lập vạn vật như thế nào. Và khoa học là cái “lãnh vực” quan trọng nhất, đối với cuộc sống ngày nay. Đồng thời Đạo Phật là một “giá trị khác” mà khoa học không thể bỏ qua, vì tính soi sáng đa chiều của giáo lý giác ngộ. Cùng lúc ấy, các khoa học gia còn thấy rằng, những ĐỐI CHIẾU giữa khám phá khoa học và “hệ thống các pháp” được Đức Phật thuyết minh, cũng rất “khế hợp” (=ăn khớp), -mặc dù trên bề mặt, ưu điểm ấy chưa nổi bật lắm, để cho số đông chú ý.

-Và đáng mừng thay, đã có không ít những nhà khoa học lỗi lạc, quan tâm đến “nhiều tiết lộ” trong Kinh Phật, nhất là trong văn bản nguyên Thủy (chữ Pāḷī). Từ đó, tư tưởng Phật giáo chợt trở thành quí báu (trong cái nghĩa thực dụng) trước những khảo cứu khách quan của giới trí thức, và không còn bị coi là “cổ điển” hay lỗi thời, -mà trái lại, “nếu trân trọng thì Phật giáo có thể là phân bón tốt nhất” cho khoa học, trên mọi phương diện !

<>Thử nhắc lại các công đoạn của khoa học, như quan sát, luận giải, kiểm chứng, và qui nạp (rút kinh nghiệm). Chúng ta thấy, QUAN SÁT cần đến 5 giác quan (mắt để thấy, tai để nghe, mũi để ngửi, miệng hay lưỡi để nếm, và tay hay làn da để sờ). Luận giảikiểm chứng là cân nhắc, đòi hỏi khả năng của tinh thần. Qui nạpkinh nghiệm cái cảm giác thực tế, khi kết thúc một công việc.

-Các vai trò của 5 giác quan và bộ óc khi đã tương tác rồi biến đổi ra thể dạng nào, vẫn tùy theo các nguyên tắc khoa học, Phật giáo gọi là “đúng pháp” (dhammena). Và trong khoa học thực nghiệm, sự quan sát của “tâm thức” xuyên qua 5 giác quan đóng vai trò then chốt, ngay trong giai đoạn đầu của mọi khám phá.

*Archimedes đã tìm ra tính đẩy của nước, Newton tìm ra sức hút của quả đất, và Franklin tìm ra điện trong không gian (biểu lộ bằng những tia chớp, trước con mắt của người quan sát, đồng thời xuyên qua “phản ứng của bộ óc”. Khoa học cho rằng, bộ óc đóng vai trò chủ yếu thành lập giả định lý thuyết, dẫn đến thí nghiệm và hành động. Và dù cho thoạt đầu người ta dựa trên “quan sát dây chuyền”, hay dựa trên “kinh nghiệm cũ”, nhưng trọng tâm của qui nạp khoa học, vẫn là tính khách quan, để có thể trình bày, kiểm chứng, và thực hiện một cách không thiên lệch. Vì khoa học không có sự tin tưởng như tín điều, mà chỉ là những giả định được thực nghiệm trực tiếp hay gián tiếp, -tương tự như PHÁP HÀNH (vô chấp) trong Đạo Phật.

-Các “qui nạp lý hóa” được kiểm chứng nhiều lần bởi những khoa học gia, vốn rất đa dạng và phức tạp trước khi chung kết. -Nhưng SỰ THẬT của một vật thể, khi đã được khoa học kiếm chứng và “nắm vững”, thì nó không còn phức tạp, và chỉ cần tượng trưng bằng một công thức đơn giản (simple formule) hay một định lý (théorème), trong vài câu nói. Phật giáo gọi đó là “thật pháp” (sacca-dhammā).

CÔNG THỨC tư duy vô tư, soi sáng trong kinh KᾹLᾹMA.

<>Khi nghiên cứu kinh Kālāma, chúng ta tự nhiên sẽ xác nhận rằng, 2 đặc điểm là hợp lý (takkasattha) và khách quan (kammavācaka) của Phật giáo rất khoa học. Đức Phật đã thấy trước sự lệch hướng sẽ xảy ra trong truyền thống tôn giáo về sau, nên Ngài đã chỉ cách để tránh cái “thói quen thiên lệch” ấy. -Kinh KᾹLᾹMA, còn có tên là lời Phật nói với dân chúng KᾹLᾹMA”, tại địa phương Kesaputta…như sau :

<>Nầy cư dân cư Kālāma, có 10 điều nên thận trọng trước khi tin, là : 1/nghe nhiều người thuật lại, 2/huyền thoại được chấp nhận, 3/truyền thống, 4/kinh văn, 5/vẻ hợp lý, 6/ tài liệu (=chứng cứ thư tịch), 7/nhận xét tương đồng, 8/luận điểm thịnh hành, 9/sự cố gần đúng, và 10/nhiều ưu thế (tiền bạc, địa vị, nổi danh).

<>Nầy cư dân Kālāma. -Chỉ khi nào chính quí vị biết rằng “những rao giảng ấy là thiện pháp, là không thể chê trách, là được những bậc phạm hạnh khuyến khích. Nhất là sau khi quí vị chấp nhận áp dụng rồi, quí vị tự nghiệm khách quan thấy xứng đángvô hại, chừng đó quí vị mới tin, hay ghi nhớ và chia xẻ, vì lợi ích chung !

*Kinh Kālāma (Kālāma Sutta) xác nhận ĐẠO PHẬT là tôn giáo của TÍNH KHÁCH QUAN (bāhiratta). Đó là nền tảng của một niềm tin thông thoáng, không đóng khung, và là phẩm cách của sự khai phóng. NÓ hoàn toàn khác với các tín ngưỡng đương thời. -Vì sao ? -Vì đạo Phật luôn luôn nhìn nhận sự ưu việt của tri thức, hay lương tâm của con người. -Khi một cá nhân bỏ mất lương tâm ấy, để cuối đầu vâng dạ, hay chấp nhận một điều gì, mà tự mình không hiểu biết, thì họ đã mất phẩm cách làm người

<>Phật giáo nhắc nhở mỗi cá nhân cái ÁNH SÁNG của kiến thức vô tư (sammā-diṭṭhi). Từ đó, con người có thể “bào mỏng” màng vô minh, đã từ lâu phủ lên tâm thức họ, và làm lệch lạc hiệu lực của nghiệp quả, đang ảnh hưởng kiếp luân hồi. Từ đó, mỗi cá nhân có thể “thấy gần đúng sự thật” một cách thông thoáng. -Nói cách khác, tâm thức mỗi sinh linh luôn cần những “ánh sáng thanh tịnh”.

-Bài kinh KᾹLᾹMA trong nhà Phật quả thật đã giới thiệu quan điểm tiến hóa của Phật giáo, mở đầu cho sự THỰC HÀNH và TRẢI NGHIỆM các đức hạnh GIỚI ĐỊNH TUỆ, “tiền thân” của TỪ BI và HỶ XẢ, hay vị tha, bao dung, và hướng về hạnh phúc chung…! (Cộng nghiệp). -Vì vậy, chúng ta mới xác nhận ra rằng, vì sao không có một giọt máu nào đổ ra, trong suốt thời gian hơn 2500 năm Phật giáo truyền thừa trên thế gian. Và với tính thông thoáng của kinh Kālāma, tất nhiên Phật giáo không thể gây ra “thánh chiến”, “truy sát ngoại giáo”, hay “tấn công bất cứ ai không theo đạo Phật”.

*Cụ thể hơn nữa, Phật giáo dứt khoát phủ nhận hệ thống giai cấp theo truyền thuyết Bà-la-môn (Brahmanism), ưu đãi một lớp người (gọi là “thầy tu”) độc tôn cai trị xã hội, dựa trên “ảo tưởng” cho rằng “giáo sĩ là hạng ưu tú” (?), có quyền giảng giải “thánh điển”, và đại diện cho “thần linh” ban phát “may mắn trong nhân gian.

-Theo Phật Giáo Bắc Truyền, có một kinh khác, gọi theo tàu âm là “Duy-ma-cật” (Vimālakirti Nirdesa), nêu tên một “cư sĩ phạm hạnh”, vượt hẳn những đồng đạo. Ông đề cao sự dấn thân cứu đời của Bồ-tát (Bodhisatvā). Nhưng trên thực tế, Vimalakirti không phải là nhân vật duy nhất, -mà trong số đông đảo người theo Phật thuở xưa, đã có nhiều bậc thiện trí thức, xứng đáng đóng vai gương mẫu, -chẳng hạn như Đại bá hộ “Tu-đà” (Sudatta), được dân nghèo xưng tụng là “Cấp-cô-độc” (Anāthapindika) hay nữ đại thí chủ “Thiện Chi” (Visākhā), có thể dịch là “Nguyệt trang đài”…v…v… -Và họ vẫn không tự xưng là giai cấp ưu tú, xứng đáng đóng vai trò gì cả, dù cho họ thực sự được coi trọng trong hạnh kiểm phục vụ nhân quần xã hội, chúng sanh. -Thế gian đề cao đức hạnh của họ vốn chỉ nói lên PHÁP tôn hiền đức trị, đầy ý nghĩa bác ái, dân chủ, bình đẳng.

<>Phật giáo vốn gắn liền với thật tế tương tác liên tục, quá khứ và tương lai nằm trong hiện tại. Nhưng vô số những hiện tượng thiện ác luân hồi, vượt khỏi tầm tri thức của người phàm…vẫn chi phối các nguyên tắc tu hành (=NHÂN), nhắm đến mục tiêu lành mạnh (=QUẢ), không khéo có thể làm lệch hướng con đường đưa đến SỰ THẬT, nên Phật pháp phải bao gồm các “chiều sâu giáo lý siêu hình”, kể cả những luận thuyết về vũ trụ, như “mặt trái triết học” của kinh tế, của văn hóa, của giáo dục…v…v… vốn vẫn chứa tham sân si, trong đời sống làm người. Đặc biệt là Phật giáo luôn luôn khuyến khích tiến bộ khoa học, tập trung năng lực trong sạch (THANH TỊNH) vào sự phát triển xã hội…cho cả 2 phương diện vật chất, và tinh thần.

-Tuy nhiên trên phương diện “siêu hình”, Phật giáo sau khi Phật tịch có vẻ nặng về “nghi thức cúng bái”, làm cho người ta hiểu lầm rằng, khuynh hướng của đạo Phật là “tất cả cho kiếp sau” hay “giải thoát trong tương lai” (?!), không chú trọng đến “vật chất hiện tại”, thậm chí quan niệm “kiếp nầy đi tu là phải khổ hạnh mới mau đạt cứu cánh”. “Sự hiểu lầm” vô cùng đáng tiếc nầy, sẽ mang lại 2 điều hại :

*Thứ nhất, tín đồ có thể in trí rằng, “tất cả tu sĩ trong chùa đều là những bậc thật sự ly gia cắt ái, xứng đáng với việc vái lạy, cúng dường”. Đây là một loại “ngu tín” tạo dịp cho những phần tử bất hảo, tìm cách gia nhập “tăng đoàn”, và làm bộ khổ hạnh để thu lợi.

*Thứ hai, “tăng lữ” thay mặt Phật để hướng dẫn tín đồ, sẽ chỉ lo tô điểm nghi lễ (hình thức) mà không nghiêm trì giới luật (nội dung), vốn là nguyên nhân suy đồi đạo giác ngộ, giải thoát. -Cũng xin phân biệt rằng, Sa-môn trong nhà Phật tự nguyện sống “đạm bạc và tri túc tối đa” (hay “hạnh đầu-đà=Dhutaṅga”) là để thanh tịnh huấn luyện thân tâm, chứ chẳng phải là “tu hành” với hậu ý thu hoạch lợi lộc! -Vì “hành hạ xác thân một cách đui mù với mục đíchđược trọng vọng”, là rơi vào tà mạng, VÔ MINH, bế tắt !”. -Người theo Phật không nên căn cứ vào bề ngoài có vẻ giống phạm hạnh mà dễ bị lầm lạc !

Sự phát quang của thức tánh khi đạt thanh tịnh (hay tuệ tâm).

<>PHẬT GIÁO và KHOA HỌC đã song hành phục vụ nhân loại, bằng nhiều cách…trong suốt quá trình có mặt. Tiến bộ khoa học mà nhân loại ngày nay đang thụ hưởng, tạm gọi là văn minh lý hóa, còn Phật giáo thì gọi là “tuệ quả tâm thức”. -Đó chỉ là “hoa trái của SỰ PHÁT QUANG trong THỨC TÁNH. Và khi sưu tầm những trạng thái “linh hoạt” của “tinh thần”, khoa học trước tiên chú ý đến các cấu trúc thuộc hệ thống thần kinh, và những vận hành sinh hóa của khối óc. -Nhưng ngoài những “vật chất” (hữu hình) ấy ra, khoa học đã không khám phá gì khác, đặc biệt là trong lãnh vực “siêu hình”.

*Còn Phật giáo thì khác, Đạo Phật xem những điều khoa học tìm ra, là kết quả tất nhiên của “trí thông minh con người”, và để “bổ túc” Phật giáo cũng tiết lộ xa hơn rằng, THỨC TÁNH là “kết tinh” của “ánh sáng đưa đến CÁI BIẾT trong giòng điện nghiệp” (thanh tịnh). Nói cách khác, KHỞI ĐIỂM của các khả năng phản chiếu kỳ diệu trong bộ óc con người, là tâm định tỉnh, hay là nguồn gốc của tri thức. Đây mới là chủ lực của tất cả khám phá và phát minh.

<>Theo Phật giáo, sự “linh động tương tác” giữa TÂM và VẬT, hay gọi là 2 YẾU TỐ DUYÊN KHỞI, không có nguyên nhân nhất định, để luôn luôn thành lập một “trạng thái lôi kéo, mất thăng bằng” (=BIẾN ĐỔI), và từ đó phát sinh giòng xung động, phóng túng, bấn loạn (hay tâm thức vọng ngoại, mang tính vô thường, đưa đến bạc nhược). Vì “bản chất nguyên thủy” của CẢ HAI (tâm vật) vốn vô động. -Ấy là một “bộ hạt nhân có năng lực kỳ diệu”, khi “cô đọng thì phát quang”. Và đó cũng là nguồn gốc của TUỆ TRI.

*“Bộ hạt nhân” (TÂM và VẬT) ấy khi về nguồn, tự có khả năngtái kết hợp” xuyên qua định tĩnh, đểdần dần trở thành hùng hậu, rồi chiêm nghiệm trong môi trường đối tượng (như tiến trình tu tập thiền pháp). -Nó có thể được diễn tả như một tiềm lực “khảo cứu”, hay theo dấu các biến thiên của mục đích nào đó. -“Dụng cụ” của nó là các “mạch điện lý hóa”, gồm cảm giác, suy nghĩ, và biểu lộ thói quen, tương đương với tư cách từng cá thể. Nó không phải GIẢ ĐỊNH như phân tích tâm lý triết học, dựa trên “hùng biện” từ nhu cầu tham sống của con người. -Chúng ta gọi ấy là “khoa tư duy”, do các “triết gia cố chấp” (phàm phu) lập ra. 

*Nhưng THIỀN HỌC trong Phật giáo (gồm chánh địnhminh sát) thì khác. NÓ là MẶC KHẢI, đưa dần tâm thức đến “HOÀN TOÀN TỰ DO”, một mặt tương đồng với “khoa học lý hóa”, mặt kia có “hoạt trường vô biên”, bao gồm cả động (saṅkhāra-niyāma) và tĩnh (acalavatthu-niyāma). -ĐỘNG thì tiến hóa hữu lậu, duyên theo chu kỳ “nhân quả hoán vị”, nhập xuất xoay vòng, luôn luôn bị ràng buộc bởi chênh lệch thiệnác, hay xấu tốt lẫn lộn. -TĨNH thì phát quang, tiến hóa vô lậu, để chấm dứt chu kỳ, GIẢI THOÁT, triệt tiêu mọi vướng mắc thiện ác, Niết-bàn (nibbāna).

-TÂM THỨC (citta-viññāna) trong THIỀN HỌC Phật giáo, là nhận diện sự thật, một cách trải nghiệm có hệ thống, hết bị che mờ bởi tham sân si. Mục đích để đạt “kiến tánh tịch không” (vô chấp), hay “tuệ thức toàn xả”, không đóng khung tinh thần, không nhằm ấn định nó phải hoạt động như thế nầy hay như thế khác…mà chính xác hơn, nhận diện đúng các “NGUYÊN NHÂN” (xung đột), để cải thiệnhóa giải hậu quả, -tức là giảm thiểu sự chịu đựng(=đau khổ), nhất là “các loại cảm giác biến thiên” (vô thường), đồng thời thanh lọc nó.

*Theo Vi Diệu Pháp (Abhidhamma), “Tâm” (citta), “tâm sở” (cetasika), và các vận hành vật chất (rūpasaṅkhāra) vốn có nền tảng cũng như khởi điểm tương duyên (paccaya). Tâmtâm sở thuộc về TINH THẦN hay danh pháp (nāma-dhammā). THỂ XÁC gồm mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thuộc về thể VẬT CHẤT hay sắc pháp (rūpa-dhammā). Chúng luôn luôn tùy thuộc lẫn nhau (paṭicca samuppāda). Nói một cách đầy đủ hơn, Vi Diệu Pháp (abhidhamma) đặc biệt khảo sát cái gọi là “tiến trình nhân duyên”, của rất nhiều cảm giáctình trạng tinh thần khác nhau, là những trải nghiệm chủ quan, và những ảnh hưởng của nó trên mọi ý nghĩ, cũng như tư cách của mỗi cá nhân. -Vi Diệu Pháp ở đây, là khoa học tinh thần (maṇo-vịjjā), phối hợp kỳ diệu của “tâm lý chủ quan” (ajjhattavijjā mānasika) và “hiện tượng khách quan” (acchariyāvaha kammavācaka).

<>Ngoài ra, “Triết học Phật giáo” (nói chung) cũng là một “khoa nghiên cứu” và “phân tích bản chất của hiểu biết”, có “hổ trợ” của các khía cạnh nhận thức, để “phối hợp với khả năng phát triển tri kiến”, xuyên qua cái gọi là “tâm thức”…, -và sau cùng qui nạp ra “cấu kết” dưới dạng tư tưởng (=ý nghĩ) hay tình cảm.

-Đồng thời Vi Diệu Pháp vẫn xử dụng cái thấy tâm lý ấy, vào những kỷ thuật đào luyện (cải thiện hiện hữu, kể cả thực hành YOGA) trong những khóa tu thiền nghiêm túc, để hóa giải “tính cố chấp trước khi nhập vào đạo đức” của phàm phu…hầu “chuyển hóa” các khổ não và sự bất lực mang thân người, xác nhận nó là một thực tại không trường tồn, không độc lập…đối với “tinh thần vọng động”. -Nghĩa là cần đạt tới một TRI KIẾN THĂNG BẰNG ở mọi tình trạng bình thường, và trong hiệu lực cải thiện (=tốt hơn), để trải nghiệm và chịu đựng dễ dàng các “bất tiện” trong thể xác cũng như trong tinh thần !

*Hơn nữa, sự đóng góp của VI DIỆU PHÁP (Abhidhamma) nhà Phật, là một nghiên cứu phân tích tâm thức, đặt nền tảng trên TU TẬP (hay áp dụng=āyācanā), để nắm vững các vận hành của thân tâm thực tại, là “phương pháp” giảm thiểu những đau khổ, mà tâm thức chúng sanh đang chịu đựng. -Đó chính là lãnh vực, mà “Trí Tuệ trong nhà Phật”, khi  phát triển đến đỉnh điểm (bát-nhã=prajña), có thể biến thành đắc dụng để đồng hành với khoa học…hầu phục vụ loài người hữu hiệu hơn, trong việc xây dựng cuộc sống nhân sinh, là bình an tinh thầnsức khỏe thể xác, -giống như mục đích chung đã không hẹn mà đề ra của khoa học và Phật giáo !  

-Nhưng đáng tiếc, xưa nay khoa học, vẫn nghiêng hẳn về vật chất, còn Phật giáo thì chú trọng cả hai mặt (vật chất và tinh thần) – Đặc biệt là phải dựa trên kết quả trải nghiệm, không dùng lý thuyết để ĐỘ ĐỜI !

<>Chữ PHÁP (Dhamma) trong VI DIỆU PHÁP còn ám chỉ “hướng dẫn cách thực hành” (hay ứng dụng lành mạnh, cụ thể), chứ không phải là “luận thuyết hợp lý”, (thuận với khuynh hướng suy tư),nghe để thõa mãn tự ngã, hay thảo luận nhằm trang trí “văn chương trí thức”. Do đó, mỗi “PHÁP” trong nhà Phật là một loại thuốc, một “chất liệu” đặc trị “bệnh nội tâm”, nhất là tinh thần con người đang bạc nhược, tối tăm, phiền não…hoặc khi TƯƠNG TÁC THÂN TÂM rơi vào bế tắc, TIÊU CỰC.

-Có lẽ ngay từ đầu, Đức Phật đã biết rằng “bệnh thể xác hành hạ tinh thần con người như thế nào, thì bênh tinh thần cũng dày vò thể xác con người như thế ấy”, nên Phật đã hiến trọn phần đời còn lại của mình, để soi sáng hạt giống tỉnh thức, tự lực giải khổ, dưới dạng PHÁP GIÁC NGỘ, nhằm đưa đến “khai trí” cho mỗi cá nhân, để tự khám phá nguyên nhân của thân bệnh cũng như của tâm bệnh, một cách không nhầm lẫn, và không trông cậy vào ngoại năng.

-Tuy hiên, khi Đức Phật nêu ra cách chữa “bệnh thân lẫn tâm” cho con người, Ngài đã đặt sức khỏe tinh thần lên hàng đầu. Và chính Ngài cũng đã thực hành Pháp Bảo ấy, để hóa giải các xung đột,do tham sân si gây ra trong vô lượng quá khứ, và trong kiếp chót (hiện tại) một cách triệt để ! -Vì xung đột tinh thần cũng là nguyên nhân chính phát sinh thân bệnh. -Và “pháp dược” (dhamma osadha) của Đức Phật là thứ “đánh thẳng vào gốc rễ” của THAM SÂN SI, bổ túc vào sự thiếu sót trong cách trị liệu của các bác sĩ phân tâm học, ngành “y khoa tâm lý” ngày nay. Nhưng đáng tiếc là “mục tiêu” của Phật giáo và của “phân tâm học” lại khác hướng, nếu không muốn nói là “chủ ý phân kỳ”!

-Một bên kỷ luật cái tôi (=thanh lọc tâm thức), để vi trùng tham sân si không có môi trường tồn tại. Còn bên kia nuông chiều cái tôi (an ủi), gián tiếp giúp điều kiện để cho vi trùng có đất mầu mỡ mà phát triển, ngay trong tinh thần ! -Môn phân tâm học nếu may mắn “trị hết bệnh” thì đó chỉ là “ngẫu nhiên”, và quaẢO GIÁC !

<>Theo Phật giáo, sức mạnh tâm linh con người rất quan trọng, và thân thể chỉ là dụng cụ để thực hành thiện pháp, tiến hóa. Cả hai tinh thần và thể xác luôn luôn tùy thuộc lẫn nhau một cách cơ cấu, giống như tất cả những tương tác sinh hoạt khác trên thế gian. -Tinh thần là “dòng điện” của thể xác. -Thể xác là “bình điện” của tinh thần. Nghiệp là “điều kiện cơ bản” để thể xác hiện hữu và “tương tác với tinh thần. Sự ảnh hưởng song phương xuyên qua vận hành của NGHIỆP, là một điều chắc chắn. -Và chỉ với một thân tâm lành mạnh, THIỆN THỤC, con người mới có thể phát triển tâm lành, và có một đời sống ít bệnh hoạn, đầy văn hóa, bình an.

-Nghĩa là khi tâm thức được nuôi dưỡng đầy đủ bằng sự THANH TỊNH, thì tinh thần con người mới “phát quang” để nhu nhuyễn, “hòa thuận dễ dàng” với thân thể chính mình, thấy rõ bản chất của mọi vấn đề, đồng thời có hành động xứng đáng…nhằm giải quyết trở ngại, từ đó làm nhẹ đi đau khổ vật chất cũng như tinh thần, và có đời sống khỏe mạnh THỰC !