BẢN SẮC KHOA HỌC Trong Phật giáo Bài 10

*Liên quan đến “TỨ VÔ LƯỢNG TÂM” (Catu mahāvihāra), gồm :

1/Từ (mettā). 2/Bi (karuṇā). 3/Hỷ (Muditā). 4/Xả (Upekkhā).

<>Trong chúng ta, hầu như ai cũng từng nghe qua và tự động nghĩ rằng, 4 tiếng TỪ, BI, HỶ, XẢ” (Pāḷī : Mettā-Karuṇā-Mudiṭā-Upekkhā) là “ngôn ngữ vừa phổ thông vừa minh triết…của nhà Phật”. Nhưng ít ai biết thêm “cái tên khác” của “4 phẩm cách ấy” là “TỨ VÔ LƯỢNG TÂM” hay “Bốn phạm trù thanh tịnh của bậc đại phạm hạnh” (Catu Mahābrahma-vihāra). Đó là 4 ĐỨC ĐỘ không thể đo lường của TỪ, BI, HỶ, XẢ, trong một Thánh nhân (Ariya puggala) đã giải thoát. NÓ là nền tảng không biên giới của tâm thức (appamaññatā) đức Phật.

*Tuy nhóm chữ Catu Mahāvihāra” có nghĩa tự điển là “tứ diện hướng ra vũ trụ”, nhưng theo Phật học thì nhóm chữ ấy ám chỉ “tâm cảnh vô biên” của “sinh thức tinh khiết” (vô sắc giới và siêu thế), -“trái hẳn” với “tinh thần mờ đục” của chúng sanh hữu tình thuộc cõi vật chất tứ đại, (gồm “địa”, “thủy”, hỏa” và “phong”), thiện ác lẫn lộn…có SỨC HÚT (=trọng lực)…“hằng cầm tù thân tâm”, nhất là môi trường chứa loài người (dục giới và sắc giới).

<>Kỳ nầy chúng tôi xin cống hiến đến quí vị nội dung của 4 ĐỨC ĐỘ không thể đo lường được ấy. Và TỨ VÔ LƯỢNG TÂM (Catu Mahābrahmavihāra) ở đây để mô tả “4 phương diện tâm thức vô hạn chế” trong một vị Phật, hay trong một “Thánh nhân đã diệt tận tham sân si”. -Phật học minh giải rằng, “do hết tham sân si nên tinh thần HẾT BỊ CẦM TÙ bởi vật chất tứ đại, hay sắc pháp hợp tan (rūpa dhamma=bhavaṅga=paṭicca-samuppāda), vì vậy biên giới không thể tồn tại !”.

*KHI BIÊN GIỚI KHÔNG TỒN TẠI thì CHẤM DỨT SINH TỬ LUÂN HỒI

(Hay đạt GIẢI THOÁT = TỰ DO = NIẾT-BÀN = NIBBᾹNA).

Liên quan đến “thời sự”:

<>Tín đồ hay thân hữu đạo Phật chúng ta, khi hành hương ở những quốc gia có truyền thống “Phật giáo nguyên thủy” (Theravāda), như Népal, Ấn-dộ, Tích-lan, Miến-điện, Thái-lan, Cao-miên, Ai-lao…hay du lịch tại một số CÁC hải đảo trong vùng Đông Nam Á (Mã-lai, Nam Dương), chúng ta thấy những dấu tích của các kiến trúc cổ xưa, gồm “cao tháp” hay “thạch đài”, được điêu khắc dưới dạng “tượng đầu” có “4 mặt giống nhau” hướng ra tứ phía. -Chẳng hạn như “tiền diện sư tử” (ở Ấn-độ) hay “đầu người” (ở Đế-thiên Đế-thích, nước Cao-miên) cũng có 4 mặt. Chúng ta không nhiều thì ít cũng tự hỏi “tại sao các nhà điêu khắc ngày xưa lại tạc hình như vậy” (?!).

<>Theo nghiên cứu của chúng tôi xuyên qua môn Khảo cổ (Archéologie), thì “tượng 4 mặt” tiêu biểu cho “tính vô biên tỏa rộng ra 4 hướng” (Đông Tây Nam Bắc) trong vũ trụ. -TÍNH VÔ BIÊN (Ᾱkāsānañcāyatana) ấy theo tinh thần đạo Phật, vốn cũng chứa nội dung tuyệt đối bình đẳng, không thiên về bất cứ phía nào, vì nét mặt ngó ra 4 hướng luôn luôn thanh tịnh như nhau. -Đó chính là SỰ SIÊU VIỆT của 4 đức tính TỪ BI HỶ XẢ trong nhà Phật, khi đạt đến mức tuyệt đỉnh….giải thoát !

*Đây chính là lý do mà từ trước đến giờ, chánh phủ Ấn-độ đã sáng suốt dùng hình sư tử 4 mặt, để tượng trưng cho “quốc uy dân tộc”, và khuôn dấu hành chính của họ là “ảnh tượng sư tử 4 mặt”, -chưa kể tại trung tâm lá cờ Ấn-độ cũng có “bánh xe văn minh” (ám chỉ tiến hóa vật chất cũng như tinh thần), giống như PHÁP LUÂN XA (Dhammacakkappavattana) của Phật giáo, ám chỉ Bát Chánh Đao (Atthaṅgika magga), -con đường duy nhất đưa đến GIÁC NGỘ TRỌN VẸN (Bodhi-paramattha-pāramī).

-Còn “tượng đầu” có 4 MẶT mô tả “thần đức” của vua trời “Đế-thích” ở “Angkok watt” xứ Cao-miên, thì cũng không ngoài ý nghĩa ấy. Theo Phật học, NÓ “chuyên thở” 4 NỀN TẢNG SIÊU THOÁT (=vượt ra tam giới) của Đạo Phật. Đó là TỪ (mettā), BI (karuṇā), HỶ (muditā) và XẢ (upekkhā). Nói cách khác đó là 4 tâm trường tinh khiết (visuddhiyācitta), không hạn chế, (ākāsānañcāyatana), VÔ LƯỢNG (Catu mahāvihāra-appamaññā).  

<>Nhưng xem lại sự thật trong quan niệm dân gian thì chúng ta thấy khác. Ngày nay “4 phẩm tínhTỪ BI HỶ XẢ đang được người đời “ý thức” một cách tương đối “biến cải”…nếu không muốn nói là “bất định” -Nghĩa là đối với dân gian, “TỪ BI HỶ XẢ” tuy mang “ý nghĩa tốt và phổ thông”, nhưng không chuyên chở đầy đủ “4 phẩm cách siêu việt” của nhà Phật. Vậy trước khi tìm hiểu chiều sâu CỨU CÁNH trong từ bi hỷ xả, chúng ta tạm diễn tả “4 phẩm tính” ấy theo quan niệm “thông thường” như sau :

-“TỪ BI” là có lòng thương người”, không “vui” khi thấy kẻ khác chịu khổ, nhưng đối với một phàm nhân, “nội tâm” vẫn còn nằm trong điều kiện (tham sân si, thiên vị), thì đối tượng được cứu giúp bằng “từ bi” phải là kẻ không thù oán với mình!

-“HỶ XẢ” là tính vui vẻ dễ dãi” trước “cái vui” (=hạnh phúc) của người khác, nhưng đối với một phàm nhân, “nội tâm” vẫn còn nằm trong điều kiện (tham sân si, thiên vị) thì đối tượng được cư xử “vui vẻ dễ dãiphải là kẻ không chống lại ta !

<>Đây chính là lý do mà chúng tôi xin thật thà nói rằng, “dân gian quan niệm TỪ BI HỶ XẢ một cách tương đối”, vì nội tâm vẫn còn bị ảnh hưởng bởi tính phàm có tham sân si chi phối. Trái lại TỨ VÔ LƯỢNG TÂM trong nhà Phật là một thành tựu ba-la-mật (Bhavapāramī) có nghĩa ĐỘ TẬN (Pāramattha pāramī), nên TỪ BI HỶ XẢ không bị chi phối bởi bất cứ ĐIỀU KIỆN nào hết, -kể cả khi sinh mạng của Phật bị đe dọa, Ngài cũng chẳng lung lay. -Chúng tôi xin mượn câu chuyện dưới đây, để mô tả nội dung của TỨ VÔ LƯỢNG TÂM (Catu mahāvihāracitta) trong một bậc đại phạm hạnh hay Phật :

-Giả sử có 1 người mỗi ngày dùng 3 thời (sáng-trưa-tối) đến trước mặt Phật, để phỉ báng Ngài một cách cố ý và nặng lời. Rồi 1 người khác cũng dùng 3 thời (sáng-trưa-tối) mỗi ngày đến trước Phật, để tán dương Ngài một cách chân thành và tôn kính. Nhưng khi Phật thấy 2 người ấy lâm hoạn nạn (như rơi vào hoàn cảnh đói khát chẳng hạn). Và nếu trong tay Phật có 1 chén cơm và 1 ly nước, thì Ngài liền thanh tịnh chia đôi cho mỗi người 1 nửa chén cơm lẫn 1 nửa ly nước ngang nhau. Phật không bao giờ chần chờ hay cân nhắc, để có thể thể cứu giúp bên nầy ít, hay bên kia nhiều…vì lý bất cứ do nào hết ! -Ngài không bao giờ hành động như một kẻ phàm phu (bị ảnh hưởng bởi thương hay ghét), và đó chính là biểu lộcủa TÂM TỪ (Mettā Mahābrahmavihāra) vô lượng,TÂM BI vô lượng (Karuṇā Mahābrahmavihāra) của Đức Phật nói riêng, hay “biểu lộ” của TỪ BI HỶ XẢ trong Chư Phật nói chung !

*Tuy nhiên, sống giữa cõi đời tục lụy nhiều khổ đau nầy, trong đại đa số phàm nhân chúng ta…cũng có không ít người đang noi gương Phật. Họ đã thường xuyên “cải thiện tâm mình”, bằng cách giúp đỡ đồng loại (hay cứu nạn chúng sanh) theo “cảm tình của họ”, thì ẤY cũng vẫn là những nghĩa cử cao đẹp. Chúng ta không nên căn cứ vào bản chất phàm phu, mà xem thường “THIỆN NGHIỆP (kusala kamma) mà họ làm. -Và cũng nhờ dựa trên “tâm lý tình cảm chung” ấy, mà chúng ta mới có thể nhận ra sự khác biệt sâu sắc, giữa từ bi hỷ xả theo quan niêm thế gian và TỪ BI HỶ XẢ vô lượng của Chư Phật (hay của Chư Thánh nhân không còn tham sân si).

-Nghĩa là xuyên qua bài phát biểu khiêm nhượng nầy, chúng tôi xin phép được làm nổi bật ĐẶC TÍNH của VÔ LƯỢNG TÂM trong Đức Phật, lẫn trong Thánh nhân đã đạt “niết-bàn”.

-Như trên đã nói “hết tham sân sihết vướng mắc vật chất, hay hết bị ràng buộc bởi sắc pháp giới hạn (rūpa). Và theo Tri Thức Bát-nhã (Pañña-viññāna) thì đó là “hoa trái” của “bản sắc khoa học trong đạo Phật”, với TOÀN XẢ…khai thông, GIẢI THOÁT (Nibbāna) !

*Khi nghe phát âm 4 chữ TỨ VÔ LƯỢNG TÂM, người hướng thiện nói chung, có cảm tưởng đó không những là sự trình bày “PHẨM CÁCH TÍCH CỰC” của TRI THỨC (=trực giác thanh tịnh), trước mộtthực tại cần cải thiện trong một động cơ có hạn chế (như cứu giúp người khổ nạn hẳn hạn), -mà “âm thanh của 4 tiếng” ấy còn có thể chuyên chở một đặc tính siêu việt, -dù cho kẻ hướng thiện kia chưa nắm bắt rõ ràng “đặc tính đó là gì”, nhưng họ vẫn có thể “tự chiêu cảm” TỨ VÔ LƯỢNG TÂM…một cách “trí tuệ”.

-Quay lại quan niệm phổ thông về “TỪ BI HỶ XẢ”, đứng trước một “thực tại khổ, cần đến sự xoa dịu của đạo đức” thì hiển nhiên ai cũng xem tổng quát “TỪ BI HỶ XẢ”, là “lòng thương người”, và “không vui thấy kẻ khác chịu khổ”, –đồng thời cần quên đi điều kiện CẢM TÌNH…để tiêu biểu cho LÒNG TỪ BI, -hay “tính vui vẻ dễ dãi chia xẻ hạnh phúc của kẻ khác, -mà không chú ý đến biên giới phàm phu, để biểu lộ SỰ HỶ XẢ. -Thái độ cởi mở, nhìn nhận “những hành động từ-bi-hỷ-xả” như thế…vẫn là điều TÍCH CỰC !

*Nhưng khi đi sâu vào lãnh vực “siêu việt” của “TỪ BI HỶ XẢ” thì ẤY chính là “tiền thân” của tứ vô lượng tâm, một phẩm cách GIẢI THOÁT của TRI THỨC. Còn nếu muốn “nắm vững vấn đề”, chúng ta phải trông cậy vào Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) của nhà Phật. Từ đó, chúng ta may ra có thể “soi sáng chính mình” được. -Rồi Phật học sẽ giúp cho chúng ta thấy rõ rằng “TỪ, BI, HỶ, XẢ” vừa rất gần đối với tư duy phàm phu hướng thiện, và cũng vừa rất xa đối với tâm tánh những ai còn u ám, nhiều dục vọng (taṅhā) !

<>Tất nhiên…4 đức tính “TỪ, BI, HỶ, XẢ”vẫn được tiếp tục “tùy tiện lưu hành” trong dân gian như một PHÁP CHỈ NAM giúp phàm nhân “sống hướng thiện”, đóng góp đạo đức (bằng cứu giúp theo cảm tình) vào cuộc đời, đồng thời hộ trì chư Thánh nhân “sống tự tại” trong kiếp luân hồi cuối cùng, như một phẩm cách giải thoát …giữa bất cứ hoàn cảnh nào (-văn minh hay lạc hậu) !

-Sau đây, chúng tôi xin diễn tả “TỪ, BI, HỶ, XẢ” theo ngôn ngữ qui ước, xuyên qua 3 loạinhận thức”, tạm gọi là “bình dân” (A), “triết lý” (B), và “Phật học” (C).

A/ NHẬN THỨC BÌNH DÂN.

<>Như vừa được “đề cập” trên đây… Nếu chúng ta đã tìm hiểu “một cách trải nghiệm tâm lý” thì “TỪ BI HỶ XẢ» của người phàm, là 4 đức tính hướng thiện, muốn vượt qua “bản tính bẩm sinh của chính mình”. -Tức là “TỪ BI HỶ XẢ» của người phàm được thể hiện dưới dạng “LÒNG TỐT có điều kiện” và “bị giới hạn bởi hiện nghiệp” (thực tại). -Trường hợp dễ chứng minh nhất, là “bản năng đối xử theo cảm giác” của đa số động vật. -Nhất là nhân loại, trong đó có người mẹđiển hình của 4 tính “từ bi hỷ xả”đối với con cái, -đặc biệt là từ khi thụ thai và sau lúc chào đời. -Nhưng khi con khôn lớn dần…trở thành người, thì 4 đức tính ấy trong cha mẹ sẽ giảm xuống tùy theo nghiệp cảnh (kammāyatana). Đây là lý do tại sao nhà Phật kết luận rằng “con làm hại cha mẹ thì tội rất lớn”, nhất là các hàng cha mẹ nào có đạo đức.

*Dĩ nhiên “TỪ BI HỶ XẢ” của phàm nhân chưa phải là TỨ VÔ MƯỢNG TÂM (Catu mahāvihāra) mà chúng tôi nêu ra hôm nay. -Và chỉ khi nào TỪ BI HỶ XẢ trong BỒ-TÁT (Bodhisatvā) hay “phàm nhân đại phạm hạnh” (Mahābrahma) đã được phát triển,  thanh tịnh tối đa (visuddhiyā), thì đó mới là TỨ VÔ LƯỢNG TÂM (Catu mahāvihāracitta) thật sự. Vì chỉ có “4 ĐỨC TÁNH CAO THƯỢNG” ấy của Thánh nhân đã giải thoát (hay của Phật), mới đủ năng lực đoạn tận vòng sinh tử luân hồi, không để nó lôi kéo tâm thức của các Ngài nữa.

  Bây giờ thử tìm hiểu “ngữ nghĩa” TỪ-BI-HỶ-XẢ theo Pāḷī, tiếng nói của Phật tổ Thích-ca :

<>Đầu tiên là chữ “mettā” (=Pāḷī) hay “maitra” (=Saṅskrit), tạm dịch ra “hán việt” là “TỪ”. Âm thanh “từ” người bình dân nghe qua có thể cảm thấy ít nhiều “sâu sắc đạo đức” khó hiểu, và nếu họ “hiểu” thì nó chỉ chuyên chở một “ý tưởng tương đối” là “thích sự ban vui”. Nhưng theo “căn ngữ gốc”, thì “maitra” ám chỉ cái tính tương tác bất vụ lợi. -Rồi một dạng khác của “maitra” là “mitra” tương đương với chữ “mitta” trong tiếng Pāḷī, có “nghĩa qui ước” thường  phỏng dịch ra tiếng Việt, là bạn hữu” hay “kẻ đồng hành(=người đi chung đường). -Riêng theo Phật học, thì “bạn hữu” hay “kẻ đồng hành” ám chỉ người “có bẩm sinh cộng nhiệp”.

-Vậy danh từ “MITTA” hay “bạn đồng hành” (=có sẩm sinh cộng nhiệp) ngụ ý gì ?!  

-Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) thuộc nhà Phật cho chúng ta biết rằng, đó là người “sinh ra cùng cảnh giới” (mà cái khung nhỏ nhất là gia đình). -Như thế, CỘNG NHIỆP có nghĩa là “luôn luôn liên đới gánh chịu vui cũng như khổ, trong cuộc sống tiếp cận”. -Do đó, hoàn cảnh thuận hay nghịch đối với bên nầy, cũng là hoàn cảnh thuậnhay nghịch đối bên kia ! -Nói cách khác, cái gì xảy ra cho “người đồng hành” (=bạn ta) đương nhiên là xảy ra cho bản thân ta, -chỉ có trực tiếp hay gián tiếp mà thôi !

-Và hiện tượng cả hai luôn luôn tự động hổ trợ lẫn nhau là điều dĩ nhiên”, -không xem ấy là sự “hy sinh” hay “điều kiện” chi cả ! -Giống như quan hệ mật thiết giữa 2 cánh tay, hay giữa 2 mắt trên một con người, –không có chuyệnbên nầy bị trở ngại mà bên kia chẳng chịu ảnh hưởng !”. -Nếu so sánh, chúng ta sẽ tự thấy “sự tương tác” của các bộ phận trong một cơ thể, xem ra chẳng khác nào “tính vận hành chung” trong bộ máy vật lý. -Và khi nói rộng ra thì “bộ máy xã hội” hay “bộ máy cuộc đời” cũng tương tự, -chỉ khác ở chỗ “giòng điện trong bộ máy vật lý thì tự do”, còn “giòng điện (hay tinh thần) trong một một con người, thì bị ràng buộc bởi năm uẩn (hay nhân thể)”. Đó là lý do nhà Phật chú trọng đến việc “Cần phải tiến hóa quân bình cả THÂN lẫn TÂM” ! -Thử viết ngắn ra như sau :

*Vượt qua THAM SÂN SI, tùy duyên làm tốt cho “kẻ khác” giữa xã hội, hay trong cõi người, thì…gọi là “ban vui” (=lòng TỪ có điều kiện là trở ngại thiên vị).

*Không tham sân si, TỰ DO làm tiện lợi cho “xung quanh” để vận hành nhịp nhàng (như trong bộ máy vật lý), thì gọi là “vô tư, bình đẳng, tự động” (=“lòng TỪ” nằm ngoài trở ngại, không hạn chế, ám chỉ vô lượng).

<>Thứ đến là “karuṇā”(=Pāḷī=Saṅskrit)…có thể dịch ra “hán việt” là “BI”. Và âm thanh của chữ “bi” ai không phải là tín đồ đạo Phật, thông thường khi nghe sẽ hiểu một cách tuy trân trọng nhưng lờ mờ. Và nếu họ tiếp nhận nhiều lần, trở thành quen tai…người ta dù có “hiểu” đi nữa, thì cái “hiểu” ấy cũng chỉ chuyên chở một “ý tưởng tương đối”, đồng nghĩa với nhóm chữ “có lòng trắc ẩn”. -Nhưng theo “căn gốc”, thì “Karuṇā”, vì chứa ngữ căn “KR” với “r” với chấm ở dưới, vẫn ám chỉ cái nội dung “vượt qua tính bẩm sinh” (ceto vimutti), nên được tạm “qui nạp” là “muốn lấy đi khổ sở và buồn lo của kẻ khác”, đồng nghĩa với CỨU KHỔ. -Đặc biệt là điều nầy lại ngẫu nhiên “ăn khớp” với các câu kinh Phật, như “hita sukhāpanāya kāmatā”, hoặc “paradukkhe saṭi sādhūnaṃ hadayakampanaṃ karotī’ti” (Theo sách Visuddhimagga = Thanh tịnh đạo, và theo các kinh văn khác)…v…v…

-Nhất là khi 2 chữ “METTᾹ” và “KARUṆᾹ” được ghép lại thành một danh từ kép là “mettā-karuṇā”, tạm dịch ra Việt ngữ là “TỪ BI”, để chuyên chở 2 phẩm tính bao gồm : “TỪ là ban vui”, và “BI là cứu khổ”, thì trong cái KHUNG CẢNH CỘNG NGHIỆP, đầy duyên hệ tương tác và “BUỒN không tách khỏi VUI” (điều kiện), vẫn có những “ảnh hưởng vi tế”, -dù cho theo Phật học không có chuyện bảo rằng “nghiệp quả của 1 cá nhân chẳng liên quan gì đến kẻ khác”. Ấy là một tư tưởng “nghịch chiều với Pháp Phật” (adhammena).

<>Tiếp theo, “muditā (Pāḷī=Saṅskrit) ở dạng khác là “MUDUTᾹ”, cũng có thể tạm dịch ra “hán việt” là “HỶ” (hay hân hoan). Và tương tự như trên, âm thanh của chữ “hỷ” nầy đối với người bình dân, khi nghe qua nó gợi lên một “ý tưởng đại khái” là vui vẻ. Và nếu một người “cảm nhận” được “VUI VẺ như thế nào”, thì “cái cảm nhận” ấy cũng chỉ chuyên chở một “hiểu biết tương đối”, như nội dung của nhóm chữ “có lòng hưởng ứng” trước “niềm vui xung quanh”. Nhưng theo “nguyên ngữ học” (gốc Pāḷī), thì “Muditā”, do chứa ngữ căn “Mud” vốn có “hàm ý” là “bản tâm tốt”, “tư thức lành”, hay “có thiện cảm”, thì nghĩa chính của Muditā là “hoan nghênh niềm vui của kẻ khác” (không cầu mình có phần=disinterested love). -Như kinh văn Pāḷī “…modanti vata bho sattā modanti sadhu sādhū’ti ādinā mayena hita-sukkh’āvippayoga-kāmatā muditā…” (Theo SnA 118).

-Nếu qui nạp ý nghĩa theo ngôn ngữ bình dân…thì “HỶ” (muditā) là “nhất thời thuận tâm chia xẻ và trân trọng niềm vui của người khác”, một cách không dị ứng !

<>Sau cùng là “Upekcũng viết “Upekk (Pālī) hay Upeksā, (Saṅskrit), xưa nay thường được dịch ra “hán việt” là “XẢ” (=buông thả, không bám chặt, bình đẳng). Và tương tự như trên, âm thanh của chữ “XẢ” đối với người bình dân khi nghe qua, trong đầu họ liền gợi lên một “hình ảnh tổng quát” là “cho qua” hoặc“không chú ý lâu”. -Nhưng nếu một người phàm đang hướng thiện tự xét lại “XẢ ẤY như thế nào” trong tâm họ, thì “cái hình ảnh tổng quát” kia chỉ chuyên chở một “ý tưởng tương đối”, đại khái như “bỏ đi cho đỡ phiền” hay “thử tha thứ để được yên” (vì không có cách nào tốt hơn) trước một “thực tại đối lập”.

-Rồi theo “ngữ nguyên học” gốcSaṅskrit, thì “Upeksā” do chứa “ngữ căn” “Upa + īks” có nội dung là “tách rời tham sân si”, hay “tư thức vượt trên phe phía thiên vị”, hoặc “ứng xử bình đẳng”, thì “nghĩa nền” của “Upeksā” (Saṅskrit) hay Upekhā = Upekkhā (Pāḷī) là “vô nhiễm”, không thấm hút, hoàn toàn chẳng bị ảnh hưởng bởi thực tại. -Tương đương với kinh văn “…adukkhaṃ asukha-vedanā…” (Theo Saṭi parisuddhi, anubrūhanā, upekkhā-brahmavihāra).

*Từ “4 nguyên nghĩa” nêu trên, chúng ta “bổ sung” PHẨM CÁCH VÔ LƯỢNG vào nữa, chúng ta sẽ có TỪ BI HỶ XẢ là “4 tâm nguyên chất không giới hạn”, luôn luôn  LY THAM, LY SÂN,  LY SI, và bình đẳng tuyệt đối” (trước mọi hoàn cảnh) ! -Vì ngược lại, nếu tâm còn bị đóng khung bởi nội cảnh hay ngoại cảnh (bao phủ bởi tham sân si), thì tâm KHÔNG XẢ !

B/ NHẬN THỨC theo TRIẾT LÝ.

<>Đây là cái hiểu”về TỪ BI HỶ XẢ…nằm trong lãnh vực thuần túy TƯ DUY, -nghĩa là “lập trình”của“NÓ” làm choTỪ BI HỶ XẢ chỉ vận hành theo suy nghĩ minh triết” (tương đương với lý thuyết) trong tri thức con người. TỪ BI HỶ XẢ trong nhận thức triết lý nầy vốn không dựa trên trải nghiệm qua THÂN KHẨU Ý (tức là không duyên theo thọ uẩn), mà chỉ xuyên qua tư tưởng. Do đó TỪ BI HỶ XẢ tự nó “tách rời” hành động thực tế.

-Nhiều người thường nói một cách “lý tưởng” rằng TỪ BI HỶ XẢ trạng thái hướng thượng của“tâm thanh cao”, không chịu ảnh hưởng bởi chuyện đời “thấp hèn” (tốt trộn lẫn với xấu). Và “từ bi hỷ xả” theo triết lý là một “trình độ thoát tục” của tâm linh. Nó là một “thăng hoa thuần túy tư tưởng”, luôn luôn nặng về “khuynh hướng tinh thần vượt trên cõi tục”, và đương nhiên nằm ngoài “phẩm cách bản thân”, -khỏi cần liên hệ đến xã hội. -Nghĩa là trong nhận thức triết lý, có “từ-bi-hỷ-xả” trong “tâm” là đủ, không quan hệ đến vật chất phát ra hành động !(?)

<>Quay lại “nhận thức bình dân”, thì TỪ BI HỶ XẢ phản ảnh của “đạo đức xã hội”, mặc dù 4 tính tốt ấy, khi được một “thường nhân hướng thiện” thực hiện, vẫn còn bị giới hạn bởi sự thiên vị (cố tật phàm tình do tham sân si gây ra). Và mặc dù chúng tôi đã cố gắng mô tả tính khác biệt, giữa TỪ BI HỶ XẢ tương đối, và TỪ BI HỶ XẢ tuyệt đối (tương đương với TỨ VÔ LƯỢNG TÂM). Nhưng coi chừng…một số “nét tương đồng rất tinh vi” trong TỪ BI HỶ XẢ qua “nhận thức bình dânvà trong TỪ BI HỶ XẢ qua “nhận thức triết lý”, có thể “phản ảnh tính ngấm ngầm biến hóa”, làm cho rất nhiều phàm nhân lẫn lộn…

*Họ tưởng rằng “TỪ BI HỶ XẢ qua “nhận thức triết lý” của tinh thần, cũng có thể “thăng hoa” trở thành TỨ VÔ LƯỢNG TÂM như trong đạo Phật. -Và để “phân biệt” 2 trường hợp nầy, người trí thức hướng thiện chỉ cần quán xét, rồi nghiệm chứng một cách thanh tịnh lẫn khách quan, xuyên qua thân-khẩu-ý của chính mình…để “nhận ra” rằng “TỪ BI HỶ XẢ qua “nhận thức triết lý” chẳng khác gì “con dao hai lưỡi”, thuận và nghịch đều dùng được, -do “phía xấu có thể trở thành phía tốt” bởi “tư duy lý luận”.

-Chưa kể trong vận hành thuần túy tinh thần, “LÝ TƯỞNG tuy cũng là một nhận thức,nhưng NÓ không bao giờ là hiện thực được”! -Đây chính là lý do mà chúng tôi không nêu từng phần và không đi sâu vào 4 chữ “TỪ BI HỶ XẢ” xuyên qua “triết lý”, như 2 loại nhận thức kia, vì choán thì giờ vô ích !

C/ NHẬN THỨC theo PHẬT HỌC.

<>Đối với nhà Phật, “TỪ-BI-HỶ-XẢ” là “KẾT TINH” (Antosāra=quintessence) của 4 đức hạnh đối xử siêu thoát, được phát triển qua rất nhiều chu kỳ sống (trải nghiệm thực dụng), từ hữu hạn đến vô hạn…gồm :

1/Không muốn thấy đối tượng chịu khổ (TỪ=Mettā),

2/Không làm ngơ trước cảnh khổ của đối tượng (BI=Karuṇā),

3/Chân thành hài lòng khi thấy đối tượng bình an hạnh phúc(HỶ=Muditā), và

4/Không chịu ảnh hưởng bởi tính phân biệt (=đánh giá), hay luôn luôn xem mọi đối tượng (thân cũng như sơ, thuận cũng như nghịch, xa cũng như gần, cao cũng như thấp) bình đẳng, vô tư(XẢ=Upekkhā).

(-Hai chữ “đối tượng” (Ᾱlambaṇa=người hoặc “nội-ngoại cảnh”) ở đây ám chỉ toàn thể chúng sanh “hữu tình” lẫn “vô tình” (=vạn vật), -nghĩa là tất cả những gì có sự sống).

*Ngoài ra, TỪ-BI-HỶ-XẢ trong nhà Phật tự nó cũng có nội dung TỊNH TIẾN vững chắc, như Pháp tu BA-LA-MẬT (Pāramī dhammā) trong một BỒ-TÁT (Bodhisatvā) trước khi thành Phật vậy, -chẳng hạn như…a/vì lòng TỪ mà ngài hy sinh tất cả những gì ngoại thân, b/vì lòng TỪ mà ngài hy sinh một phần thân thể, c/vì lòng TỪ mà ngài hy sinh luôn tính mạng. Cả 3 mức độ hy sinh nầy, phải được thực hiện ra hành động, chứ không phải chỉ trong ý tưởng hay tư duy. -Nhà Phật còn gọi TỪ-BI-HỶ-XẢ trong một BỒ-TÁT, đầy đủ 3 bậc phạm hạnh như thế là TỪ VÔ LƯỢNG TÂM (Mettā mahābrahmavihāracitta) !

*Nhưng cần biết rằng, dù khi “TỪ BI HỶ XẢ” còn ở mức độ thấp trong tinh thần người hướng thiện, NÓ cũng có thể tùy năng lực, chế ngự phần nào tham sân si, để cảnh giác và ngăn cản một phàm nhân lành mạnh, ít xem kẻ khác là “kẻ thù phải tiêu diệt” khi cần cạnh tranh giữa xã hội đầy nhiễu nhương vật chất. -Chưa kể “ý thức cộng nghiệp của người tu Phật làmột giáo lý có hiệu lực hòa giải, do tính biết ơn, không nghịch lại người thân”. -Nhiều đoạn kinh há đã chẳng gián tiếp hay trực tiếp nói rằng, “tất cả sinh linh trong quá khứ, hiện tại, và vị lai đều ĐÃ TỪNG LÀ hay SẼ TRỞ THÀNH thân quyến xa gần cưu mang ta(=cộng nghiệp) đó sao” ?!

*Khi nêu lại “2 trình độ”, là NHẬN THỨC BÌNH DÂN (nhập thế) và NHẬN THỨC PHẬT HỌC (xuất thế), về 4 đức hạnh TỪ-BI-HỶ-XẢ luôn luôn tương quan …là để thấy rằng “pháp xuất thế phải bắt đầu bằng công phu nhập thế”, hay “pháp chấm dứt luân hồi phải bắt đầu từ trải nghiệm sinh tử xoay vòng” một cách khoa học. -Đó là con đường duy nhất (ekāyana magga) mà bước đầu phải là CHÁNH KIẾN (Sammādiṭṭhi) !

-Nếu đạo Phật không có “bản sắc khoa học” (do BÁT-NHÃ soi sáng) thì giáo lý giải thoát của bậc Giác Ngộ, đã không dựa trên “vận hành tiến hóacảTHÂNlẫnTÂM” một cách hợp lý (quân bình), để khai thông vòng luân hồi sinh tử, bế tắc, và lẩn quẩn…nhằm đạt đến “tự do hoàn toàn” hay Niết-bàn. -Vì sao ?! -Vì bế tắc lẩn quẩn đồng nghĩa với trường kỳ sa đoa !

-Thử dựa trên cụ thể mà nói, thì “KHAI THÔNG” ở đây vốn có hiệu lực làm giảm khổ và đưa đến diệt khổ trên cả 2 mặt thân và tâm, một cách có phương pháp, tương tự như khoa học hiện đại”, đang dựa trên LÝ HÓA, để sáng tạo và cung cấp sản phẩm cho đời sống hưởng thụ vật thể. Nhưng đáng tiếc là “khoa học hiện đại” đã duy vật, chỉ thỏa mãn dục vọng con người, và coi thường các nguyên nhân gây ra ô nhiễm đời sống, trên cả 2 phương diện THÂN và TÂM.

<>Còn đạo Phật thì luôn luôn chú trọng đến việc thiết lập một nền “văn minh TÂM VẬT quân bình”, để thăng hoa cả 2 mặt vật chất lẫn tinh thần, -tức là tiến bộ vật chất phải song song với tiến bộ tinh thần (=đạo đức thấm nhuần, chứ không phải đạo đức biểu diễn). -Trong trường hợp nầy, “TỪ BI HỶ XẢ” qua “nhận thức nhà Phật”, chính là “hoa trái” của KHOA HỌC NÂNG CAO TÂM LINH để “hóa giải và duy trì tính cân bằng”cho sự an vui trong bản chất của mỗi cá nhân, trước khi tiến tới HÒA BÌNH XÃ HỘI !  -Đại đồng !

*Hơn nữa, khi “Ý THỨC CỘNG NGHIỆP” (hay tinh thần sống chung có CHÁNH KIẾN) được phổ biến rộng rãi trong cộng đồng mỗi quốc gia nói riêng, và trong nhân loại nói chung, để soi sáng tư duy một cách giáo dục, chứ không phải nhằm nhồi sọ, thì những ác pháp như thiên vị hay riêng tư do “tham sân si cố hữu” gây ra (làm chướng ngại cho hành động thiện), sẽ tự giảm thiểu hoặc bị nhổ rễ. -Từ đó, “TỪ BI HỶ XẢ” trong người lành phải tự nhiên trở thành TỨ VÔ LƯỢNG TÂM (Catu mahāvihāracitta), để TRI THỨC của họ sẽ mở rộng ra 4 phạm trù không biên giới (catu brahma-mahāvihāra), vượt thắng mọi điều kiện thiên lệch phàm phu.

*Khi xem lại 25 tâm sở thiện (kusala) lẫn tịnh quang (sobhaṇa) trong Vi Diệu Pháp (Abhidhamma), chúng ta thấy cả 4 tâm TỪ-BI-HỶ-XẢ được “cô đọngthành 2 TÂM SIÊU THOÁT (là từ bi,hỷ xả) mà tiếng tiếng nói của Phật ngày xưa gọi là “phẩm cách an trú vô lượng” (Appamaññā mahāvihāra=Pāḷī). Và để cho có “mạch lạc thăng hoa” dễ nắm bắt, sách Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) còn xếp 2 phẩm cách an trú nầy trên cả “3 tâm sở tiết chế” (virati), gồm chánh ngữ (sammā-vācā), chánh nghiệp (sammā-kammantā), và chánh mạng (sammā-ājīvā) của Thánh nhân.

-Sau 2 phẩm cách an trú SIÊU THOÁT hay VÔ LƯỢNG (appamaññā) ấy là đỉnh điểm của thiện pháp, vì ở đó chỉ có duy nhất tâm sở trong suốt gọi là TUỆ CĂN (Paññiṅdriya), -tiền thân của BÁT-NHÃ (Bodhi-paññā), hay TRI THỨC Toàn Giác.

-Nhắc lại 4 TÍNH TỐT của một THIỆN NHÂN (kusala manusso) trong khi còn luân hồi, là 1/“muốn làm cho người khác được hạnh phúc”, 2/“không đành thấy kẻ khác khổ đau”, 3/“thích chia xẻ niềm vui của xung quanh, và 4/“yêu chuộng sự tha thứ ”. -Bộ tứ ĐẠI HẠNH nầy có thể xem như “4 tiền hành” (pubbaṅgamatā) của “ban vui” (TỪ=Ṃettā)), của “cứu khổ” (BI=Karuṇā), của “chân hỷ” (HỶ=Mudiṭā) và của “tịnh xả” (XẢ) sau nầy. “Bốn tiền hành” đó khi phát triển đến cực đại, sẽ có khả năng triệt tiêu mọi hạn chế (=điều kiện), để trở thành TỨ VÔ LƯỢNG TÂM.

*Ngoài ra, TỪ-BI-HỶ-XẢ” khi bị thiên vị ảnh hưởng, hành động còn tùy theo cảm tình, trong vòng tương đối, thì Phật học gọi là “hạnh nhập thế”. Còn “TỪ-BI-HỶ-XẢkhi hết bị thiên vị ảnh hưởng” hành động không ngăn ngại, tuyệt đối tự do (=vô lượng), thì Phật học gọi là “hạnh xuất thế”. -Và “XUẤT THẾ” ở đây có nghĩa là “viên tròn nghĩa vụ vị tha”, chứ không phải bỏ mặc kẻ khác chịu khổ, chạy trốn vì ích kỷ”, -như một số người lầm tưởng !

*Hơn nữa, trên phương diện thực nghiệm, chỉ trong tam giới thăng đọa mới có tình trạng nghiệp quả thiên vị, để giúp một thiện nhân TU TẬP ĐẦY ĐỦ 4 đức tánh ấy. Vì vậy CẦN LƯU Ý ý rằng, “kết quả xuất thế” sẽ không thành tựu, nếu một người chưa viên dung công hạnh nhập thế, hay nhu nhượcchủ trương “quay lưng trước khổ đau của thế gian” (do cộng nghiệp), hoặc cố tình trốn tránh phận sự trong duyên hệ cuộc sống, và cố ý trở thành bi quan tiêu cực trước mọi hoàn cảnh. -Vì sao cần lưu ý ?!

*Vì 4 đức tính TỪ-BI-HỶ-XẢ vốn có “tiềm lực quí giá” là BI-TRÍ-DŨNG (Mettā-Ñāna-Nibbhayā). Nó không cho phép một đại thiện nhân lùi bước, khi gặp chướng ngại trên con đường tiến hóa. Trái lại, kẻ sống với tham sân si, trở thành bi quan tiêu cục, là tự đánh mất “tiềm lực quí giá” ấy, thì làm sao có bi trí dũng ?!

<>Vả lại, trong ngôn ngữ nhà Phật, nhóm từ BI TRÍ DŨNG, tuy là một “phát biểu chuyên biệt”, nhưng ngày nay cũng có khá nhiều người biết đến. Và tương tự như TỪ-BI-HỶ-XẢ, cái gì được “phổ thông hóa” thì phải chịu ít nhiều lệch lạc. Do đó, chúng ta cần quay về kinh điển Pāḷī, để “nghiên cứu” hầu củng cố niềm tin ! -Sau đây là trình bày khiêm nhượng về BI TRÍ DŨNG :

*“BI” là dạng viết ngắn của cặp chữ “TỪ-BI” (Mettā-Karuṇā), TỪ = ban vui, BI = cứu khổ.

*“TRÍ” là sáng suốt, được dịch từ chữ ÑᾹNA (kết quả của định tâm) tỉnh biết khi nhận thức.

*“DŨNG” là vô úy, gốc dịch từ chữ NIBBHAYᾹ, nghĩa Việt ngữ là chẳng sợ khi tâm thường xuyên an trú vững vàng trong THIỀN PHÁP. Và hiệu lực của “DŨNG” (Nibbhaya) là SỰ TỰ TIN, tâm tư biết cách đối phó một cách an toàn, không hoang mang, không mù mờ, không chao đảo trong mọi hoàn cảnh. -Vì vậy lúc đối diện một “trở ngại”, CÁI DŨNG không cho phép tật sợ sệt có thể phát sinh. Từ đó, “DŨNG” đáng được xem tương đương với “thần thông”, -một hiện tượng bình an phi thường của TỨ VÔ LƯỢNG TÂM (từ-bi-hỷ-xả), ở cả 2 mức độ “nhập thế” cũng như “xuất thế”, trong “tiến trình hùng mạnh tinh thần”. -Nghĩa là :

<>“Anh dũng nhập thế” thì chinh phục đối tượng phàm phu, tâm tánh chứa đầy tham sân si.

<>“Anh dũng xuất thế” (có “thần thông”) thì “hóa giải hạn chế tứ đại”, xóa tan vận hành của vật chất, làm cho đối tượng bất lực, không thể gây thiệt hại.

<>Nhưng cụm từ “BI TRÍ DŨNG”, khi đã được “phổ thông hóa” trong nhân gian, thì người ta chỉ có thể hiểu một cách khái quát rằng, “đó là phong độ của một nhân vật xuất chúng, đáng tôn kính”. -Hay ấy là một người vừa có lòng từ, vừa có tinh thần minh mẫn, và vừa tràn đầy can đảm. -Đương nhiên nội dung của BI TRÍ DŨNG (theo Phật học) vẫn chưa được mô tả rõ rệt, nên bài viết nầy nhắm đáp ứng phần nào tình trạng đó !

(-Mời quí vị đọc lại 2 bài số 7 số 8 (=> Bản Sắc Khoa Học Trong Phật Giáo), “Liên quan đến THIỀN HỌC” “Liên quan đến THẦN THÔNG”), để thấy nguồn gốc của DŨNG (vô úy, chẳng sợ) do đâu mà có.

*Theo Vi Diệu Pháp (Abhidhamma), thì “biểu lộ” của “DŨNG” (hay anh dũng) là “thần thông” do thành tựu PHÁP THIỀN. Nó phát sinh không phải nhằm đánh bại hay tiêu diệt đối tượng, mà là chỉ “hóa giải” (hay chinh phục)đối tượng một cách song toàn. Nhưng nếu đối tượng vô duyên, không “được cảm hóa”, thì dù đối tượng có hung bạo đến đâu, cũng không thể gia hại bậc đại định. -Vì sao ?! -Vì “năng lượng kỳ diệu” của pháp thiền (đại định vô sắc) đã biến tất cả sức mạnh vật chất hữu hạn của “đối thủ” thành vô dụng, không thể xúc phạm mục tiêu nào đã hoàn toàn nằm ngoài “tầm xung đột tứ đại” (=triệt tiêu bạo động).

<>Nói tóm lại, “TỪ BI HỶ XẢ” xưa nay thường được nhiều người xem như “một đức hạnh” đáng đề cao trong đời sống văn minh xã hội. Nhưng đối với đạo Phật thì TỪ BI HỶ XẢ không những như thế, mà NÓ còn là một KHOA HỌC, vượt thắng tất cả các khoa học vật thể khác, nhất là khi TỪ BI HỶ XẢ cũng là TỨ VÔ LƯỢNG TÂM, hóa giải mọi giới hạn !

Cư sĩ Tuệ Lạc (NĐ) -Pháp quốc. Paris tháng 01/2021.

(Ghi lại tri kiến…phát sinh nhờ CHỈ QUÁN trong mùa «tịnh thất kéo dài»).

Laisser un commentaire