*Liên quan đến “PHÁP và LUẬT” (Dhamma-vinaya),
-trước “SINH THÁI” (Parikkhepa), hay MÔI TRƯỜNG.
<>Nhìn theo góc độ “phân tích khoa học”, thì SINH THÁI hay MÔI TRƯỜNG (Parikkhepa) đối với nhà Phật, có liên quan đến TÁC DỤNG của “giáo lý ban đầu” do đức Phật thuyết ra, để làm “QUI TẮC” cho SỰ SỐNG của tăng đoàn (Saṅgha) giữa xã hội, gọi tổng quát là “PHÁP và LUẬT” (Dhamma-vinaya). Theo “giáo sử” ghi “hậu thời” Phật nhập diệt, thì QUI TẮC SỐNG CHUNG đó về sau này là TẠNG LUẬT (Vinaya piṭaka), hay “nền tảng” xây dựng hạnh kiểm (sobhana caraṇa) của mỗi “tỳ kheo” (bhikkhu), chủ yếu“hướng về” sinh thái, -cũng ám chỉ CÁCH SỐNG ĐÚNG PHÁP (Dhammena karanaṃ) đối với thiên nhiên !
*Do đó, “tác dụng” của TẠNG LUẬT trong nhà Phật vốn có “nét đặc biệt”, không giống như “giáo điều” của các tín ngưỡng khác. -Vì khi Đức Phật nêu ra những “qui củ sống chung” cho chư tỳ-kheo đệ tử, là lúc HẠNH KIỂM của tăng đoàn Phật giáo nói riêng, và của tín đồ giữa xã hội nói chung…đang làm phát sinh sự “phê phán” trong quần chúng. Như vậy, Phật “chế luật” không phải thuận theo “Ý MUỐN” của Ngài, mà là để nâng cao tính HÒA BÌNH cần thiết trong khung cảnh sống (=MÔI TRƯỜNG).
-Theo kinh điển chữ Pāḷī (tiếng nói của Đức Phật ngày xưa), bất cứ “điều răn” nào được Phật “chế định” và “ban hành”, cũng đều bắt nguồn từ tư cách của một tỳ kheo, vô tình hay cố ý tạo ra “tai tiếng” trong dân chúng. Nghĩa là Đức Phật “chế luật” trước tiên không phải nhất thiết chỉ nhắm đến “phẩm giá của bậc xuất gia”(=hạng người sống loại bỏ thói quen xấu của thế tục), mà là để “lành mạnh hóa hành động” của NGƯỜI TU PHẬT, đối với khung cảnh xã hội, hầu duy trì quan hệ “sinh hoạt”, cần an hòa trong nếp SỐNG THIỆN, -đặc biệt là tôn trọng “TÍNH TƯƠNG SINH” giữa đạo Phật và thiên nhiên !
<>Vì trong các bài trước, chúng tôi đã khiêm nhượng nêu ra những “nét khoa học” liên quan đến TẠNG KINH (Sutta piṭaka), và TẠNG VI DIỆU PHÁP hay LUẬN TẠNG (Abhidhamma piṭaka), nên xuyên qua bài nầy chúng tôi thiết nghĩ, cần nói về “bản sắc khoa học trong TẠNG LUẬT (Vinaya piṭaka) hayQUI TẮC TU HÀNH” (caraṇa niyama) của nhà Phật một chút. -Bởi TẠNG LUẬT trong Phật giáo, ngoài việc ám chỉ “HẠNH TU” của chư “tỳ kheo”, nó còn có nội dung “LIÊN QUAN” đến gìn giữ KHUNG CẢNH thiên nhiên. -Đây là đặc điểm đáng chú ý của các “LUẬT LỆ TU” theo nhàPhật.
-Và cũng như 8 bài trước, bái số 9 nầy không phải để trình bày chi tiết về TẠNG LUẬT, mà là để nêu ra những “nét sống tu sĩ” có chiều sâu tôn trọng MÔI TRƯỜNG hay SINH THÁI.
*Tưởng cũng nên nhắc lại rằng, toàn bộ Phật giáo thuở ban đầu chỉ gồm 2 phần, là PHÁP (Dhamma) và LUẬT (Vinaya). Nhưng sau khi Phật Thích-ca nhập niết-bàn, các Đại Thánh Đệ Tử nhận thấy “PHÁP diệt khổ cần được phân bổ, để thuận tiện cho việc học hành và truyền bá”, nên các Ngài đã “kết tập giáo lý” một cách có hệ thống. Theo đó, Phật ngôn nào có “tính cách” phổ thông, thì được gọi là KINH VĂN (Sutta), và Phật ngôn nào có “tính cách” thâm mật, thì gọi là “VI DIỆU PHÁP (Abhidhamma).
-Còn LUẬT (Vinaya) cũng vậy, điều cấm nào “giản dị” thì gọi là “LUẬT XUẤT GIA” (giải thoát = pātimokkha-saṃvarasīḷa), và điều cấm nào “phức tạp” (cần đến trải nghiệm tri thức để nắm bắt) thì gọi là “THANH TỊNH GIỚI” (Visuddhi-sīḷa). Các “luật sâu sắc” nầy, tiêu biểu như “13 pháp tu đầu đà” (dhutaṅga) không còn coi là “khổ hạnh” nữa, mà là “pháp đối trị dục vọng”, và được xem là một dạng “VI DIỆU PHÁP” (Abhidhamma), thuộc về phẩm cách THANH TỊNH ĐẠO (Visuddhi-magga).
-Đặc biệt kể từ lần “KẾT TẬP PHẬT GIÁO” lần thứ ba tại Hoa-thị-thành (Pātaḷīputta), kinh đô xưa của nước Ma-kiệt-đà (Magadha), tăng đoàn đã chính thức có hẳn “3 tạng kinh điển” (Buddhasāsanassa tipiṭaka), là Tạng Kinh (Sutta piṭaka), Tạng Luật (Vinaya piṭaka), và Tạng Vi Diệu Pháp hay tạng LUẬN (Abhidhamma piṭaka).
<>Đối với quan niệm thông thường, “luật lê tu hành” là “qui tắc hướng dẫn hạnh kiểm của tu sĩ”, hoặc nói chung là phương pháp sửa đổi tư cách cá nhân người noi gương Phật, từ XẤU ra TỐT. Điều nầy tất nhiên là điểm căn bản, nhưng “trong chiều sâu”của GIÁO LÝ CỘNG NGHIỆP của đạo Phật, thì mỗi cá nhân đại diện cho cộng đồng. Cá nhân tuy một sớm một chiều không thể thành Thánh, nhưng trước mắt, LUẬT TU ấy có thể “gìn giữ” thân tâm từng cá nhân sống vô hại, hòa đồng “LÀNH MẠNH”.
-Và xuyên qua những “điều răn” mà đức Phật đã ban bố, chúng ta thấy HIỆU QUẢ của TẠNG LUẬT có đặc tính “làm trong sạch thân tâm con người ngay thực tại” hơn là hiệu quả của sự sửa đổitừ XẤU ra TỐT trong tương lai. -Vì sao ?! -Vì “quan niệm” về tốt và xấu giữa cõi người luôn luôn tương đối. Cái tốt ở chỗ nầy có thể là cái xấu ở chỗ kia ! Còn giữ cho THỰC TẠI SỐNG TRONG SẠCH là một phẩm cách ở đâu cũng đem lại sự đồng thuận, AN VUI !
*Khi đọc qua những “ĐIỀU LUẬT” mà Phật khuyên tất cả tăng đoàn NÊN GÌN GIỮ, như tôn trọng SINH HOẠT CỘNG ĐỒNG, tôn trọngNƯỚC UỐNG và NƯỚC DÙNG, -đối xử bình đẳng vớiCÂY CỎ, THÚ VẬT, -quan niệm đúng về ĐẤT ĐAI hay SÔNG NÚI…v…v…chúng ta thấy nội dung TẠNG LUẬT của đạo Phật “nặng” về MÔI TRƯỜNG hơn là tôn giáo. -Bằng chứng là LUẬT TỲ KHEO ghi rõ “tu sĩ ở đâu thì cần giữ gìn sạch sẽ chỗ ấy” hoặc “trước khi đi nơi khác, tu sĩ phải dọn dẹp trú sở cũ”, -và các cách “xử dụng vật dụng thường xuyên” (như tọa cụ, y phục, bình bát thọ thực hằng ngày, đồng thời “cách đối xử giữa huynh đệ”, bao gồm tín đồ xung quanh cũng phải hòa thuận. Một tu sĩ nhà Phật mà hành động đúng, thì không phải để “được khen ngợi”, mà là để BÌNH AN TRONG cuộc SỐNG !
*Chúng tôi nhận thấy luật tu của đạo Phật có hiệu quả KHÔNG GÂY ô nhiễm cho MÔI TRƯỜNG, dưới mọi góc độ nhìn, và đương nhiên là NÓ mang đặc tính BẢO VỆ SINH THÁI. Nếu chúng ta không xem đó là “Bản Sắc Khoa Học”(nhân văn) trong LUẬT PHẬT, liên quan đến KHUNG CẢNH SỐNG, thì ấy là tính cách gì ? -Đặc điểm nầy không có trong “kinh điển” của các tôn giáo khác !
*Đã đành SẠCH SẼ BÊN NGOÀI (thân xác) có thể khác với SẠCH SẼ BÊN TRONG (tâm thức), nhưng giáo lý “nhân duyên tương tác quân bình” do Đức Phật thuyết minh, đã cho chúng ta biết rằng “THÂNvàTÂMtuy HAI mà là MỘT”. Chúng luôn luôn liên quan hành động, một cách có khoa học. -Trường hợp một số “tu sĩ nhà chùa” nào đó không giữ các luật ấy. Họ hằng ngày tranh đua, chạy theo danh vọng (do tham sân si lôi kéo), thì đó là “chuyện không thể tránh được”. Vì trong cuộc sống phàm tục, hiện tượng “con sâu làm sầu nồi canh”, ở đâu cũng có, –chỉ tùy theo nghiệp chung, xảy ra ít hay nhiều mà thôi !
*Đạo Phật là “tôn giáo duy nhất” có “LUẬT TU” đặt nặng việc LÀM SẠCH thân khẩu ý, không đặt nặng việc “cúng bái thần linh” để được “nhận ân sủng”. Theo triết học Phật giáo (Abhidhamma), “LÀM SẠCH thân khẩu ý” cũng có nghĩa là “tạo thanh tịnh cho cuộc đời”. -“LUẬT TU NHÀ PHẬT” mới nghe qua, người ta có cảm tưởng là chỉ “giữ sạch thân tâm cá nhân”. Nhưng trên phương diện “thực tế cộng nghiệp” “không ai có thể sống ngoài trần gian, chẳng liên quan và không trách nhiệm với xã hội”. Nghĩa là sau khi nghiên cứu đúng đắn giáo lý (PHÁP HỌC=pariyatta dhamma), thì người tin Phật sẽ tư nguyện thực hiện (PHÁP HÀNH=satipatti dhamma), để sống LÀNH MẠNH không những cho bản thân (=thể xác và tinh thần), mà còn cho CỘNG ĐỒNG đối với bên ngoài lẫn bên trong CẢNH VẬT. Và trước khi chết, dù muốn dù không…mỗi người vẫn là “một viên gạch” của “bức tường xã hội” vững chắc hay mục nát. “Phẩm cách nhập thế” đó của đạo Phật, tự nó không phải là “CHIÊU BÀI” để trang điểm danh phận cá nhân, mà là cái “công phu phải có” để giác ngộ thành Phật (PHÁP THÀNH=pativedha dhamma), -dứt sinh tử luân hồi !
Sau đây chúng tôi xin giới thiệu sơ qua 4 “bộ sách” lập thành TẠNG LUẬT :
I/Bộ PHÂN TÍCH (Vibhaṅga), gồm 2 sách là luật tỳ-kheo (bhikkhu vibhaṅga) chứa 227 điều, và luật tỳ-kheo-ni (bhikkhunī vibhaṅga) chứa 311 điều.
II/Bộ ĐẠI PHẨM (Mahāvagga), nói về “kết hợp giới luật”, liên quan đến “nguyên nhân” (hay động cơ) với sự nêu ra nhiều nhân vật, nhiều địa điểm, nhiều hình thức, và những thời gian chế luật khác nhau, và lý do của “việc vi phạm để chế luật”, bằng 513 thuật sự chia làm 2 tập. Tập 1 chứa 252 câu chuyện. Tập 2 chứa 261 câu chuyện.
III/Bộ TIỂU PHẨM (Cullavagga), nói về “các cách suy xét, qui nạp, giải quyết”, liên quan đến “ấn định mức độ vi phạm”, “giàn xếp và trừng phạt” (dựa trên thú nhận hay từ chối của cá nhân hoặc tập thể liên hệ). Và nội dung sau cùng của TIỂU PHẨM là “chế tài một cách ôn hòa”, dù cho thiếu xác định trước sự cứng đầu, không chân thành hợp tác của đương sự. Trường hợp bế tắc thì tăng đoàn có thể dùng biện pháp “bất hợp tác” (=tẩy chay). Bộ TIỂU PHẨM cũng gồm 2 tập. Tập 1 gồm 694 thuật sự, và tập 2 có 664 thuật sự. -Sau cùng là…
IV/Bộ CƯƠNG YẾU (Parivāra), “nêu ra các cách giải quyết, dù cho việc chưa sáng tỏ” hay còn thắc mắc cần thẩm vấn, để làm rõ những điểm chính trong trường hợp VI PHẠM, hầu đi đến kết luận “tương đối minh bạch”. Bộ CHÁNH YẾU cũng có “2 quyển” là : Quyển 1 gồm “917 qui nạp sau thẩm vấn” dưới nhiều hình thức, như “giáo kệ nhận xét” hay “ngụ ngôn khuyến thiện”. Quyển 2 gồm “1365 qui nạp” cũng dưới nhiều “dạng đạo ngôn” như quyển 1.
Nói về các “sự vi phạm” GIỚI CẤM, chúng tôi chỉ xin lược kê như sau :
<>TỘI XẾP HẠNG NẶNG NHẤT, đối với nam tỳ-kheo (bhikkhu=khất sĩ) hay nữ tỳ-kheo (bhikkhuni=nữ khất sĩ) trong đạo Phật, là 4 giới BẤT CỘNG TRỤ (Pārājika). -Gọi là “4 bất cộng trụ” vì 4 điều ác nầy mỗi khi cố ý vi phạm thì “đương sự” sẽ trọn đời “mất phẩm hạnh tỳ-kheo”. Dù cho sau đó thành tâm ăn năn hối cải, thì họ chỉ có thể “tái xuất gia” làm Sa-di (sāmaṇera) mà thôi. Bốn giới BẤT CỘNG TRỤ đó là 1/Cố ý giết người. 2/Cố ý hành dâm. 3/Cố ý trộm cắp, 4/Cố ý khoe phẩm vị chưa đạt tới, tức là làm cho người khác tin rằng “mình đắc chứng, quả nầy quả kia, hay có thần thông…v…v…”
<>TỘI XẾP NẶNG THỨ NHÌ, đối với 2 hạng TỲ KHEO nam nữ (bhikkhu & bhikkhunī) trong đạo Phật, là vi phạm 13 giới TĂNG TÀN (Saṅghādiseasa). -Hai chữ “tăng tàn” ám chỉ tu sĩ khi được tín đồ tôn kính hộ trì đầy đủ, sống an ổn trong tu viện…mà KHÔNG PHÁT TRIỂN HẠNH KIỂM, tâm thức thường xuyên buông lung, thả trôi theo dục vọng, để viện cớ“không cưỡng nổi” rồi vi phạm, -hoặc vì nghĩ rằng “ta không toan tính trước, sự kích thích do hoàn cảnh xảy ra, không ai có thể nghịch lại “bản năng”, -do đó ta chẳng đáng trách…”. Và họ cứ “thường xuyên phạm giới”.
-Gọi là TĂNG TÀN vì 13 hành động xấu nầy khi vi phạm thì “đương sự” trở thành “nguyên nhân làm SUY ĐỒI” đời sống PHẠM HẠNH của tăng lữ. -Và cũng vì 13 điều xấu nầy thuộc về “dục vọng cố hữu” trong mỗi con người (thiếu cảnh giác), nên sự ẤN ĐỊNH mức độ vi phạm rất phức tạp, khiến cho Tăng Đoàn phải có “nhiều phán quyết khác nhau” một cách thật tế nhị và hợp lý. -Chúng tôi không chép đầy đủ mọi trường hợp ở đây, vì chủ yếu của bài viết nầy là nêu ra “NHỮNG NÉT KHOA HỌC” trong TẠNG LUẬT (Vinaya piṭaka). -Do đó, chúng tôi chỉ ghi tóm lược 13 giới TĂNG TÀN (Saṅghādisesa) :
1/THỦ DÂM đến độ “xuất tinh” để thỏa mãn tình dục, do đương sự đơn thân hành động, hay có đồng lõa với một hay nhiều người khác khác.
2/XÚC CHẠM người khác phái đến độ “xuất tinh”, để thõa mãn tình dục bằng nhiều dạng khác nhau, như vuốt ve, sờ mó, hôn hít…v…v…
3/NHÌN NGẮM một hay nhiều đối tượng khiêu dâm đến độ “xuất tinh”, để thỏa mãn tình dục và cảm thấy sung sướng một cách mê muội.
4/NÓI LỜI DÂM ĐẢNG, đối đáp qua lại bằng nhiều câu gợi tình với người khác phái đến độ “xuất tinh”, để thõa mãn tình dục và cả hai đồng cảm giác.
5/LÀM MAI MỐI và tưởng tượng mình là cô dâu hay chú rễ trong đêm giao phối, rồi thích thú đến độ “xuất tinh”, để thỏa mãn tình dục.
6/HAM MÊ TRÚ SỞ TỐT (đáp ứng dục vọng sướng thân), dưới hình thức “yêu cầu” mà không biết ngượng miệng, khi gặp gỡ tín đồ rộng rãi ngoan đạo, chẳng hạng như xin xỏ nhiều vật liệu tốt để xây cất liêu cốc.
7/TỰ DO CHẶT CÂY ĐẼO ĐÁ để tạo chỗ ở mới (đáp ứng dục vọng tấm thân), quên mình là một tỳ kheo, cần sống phạm hạnh, tri túc, và gìn giữ giới luật.
8/ĐỐI XỬ THIÊN VỊ (đáp ứng dục vọng qua sự tiếp đãi), khi có bổn phận đưa đón khách đồng đạo, ỷ vào “địa vị” của mình, và không làm tròn bổn phận một cách vô tư, đồng thời đối xử thiên lệch, trong thực phẩm, cũng như trong đồ dùng và phòng ốc.
9/CẶP ĐÔI NAM NỮ (đáp ứng tình cảm tay ba), vì ngầm thích đối tượng nào, rồi “nói phong tình”, hướng đến đối tượng ấy với một kẻ khác, để thỏa mãn dục vọng riêng tư của mình.
10/KHÔNG AN PHẬN và YÊU SÁCH, -là một thành viên trong tăng đoàn mà tỳ-kheo không biết thân phận mình, muốn làm “người có ảnh hưởng” trên tập thể…nên đưa ra nhiều đề nghị. -tiêu biểu là Đề-bà-đạt-đa (Devadatta), -người đệ tử muốn thay thế Phật lãnh đạo Tăng đoàn, đã yêu cầu Phật ban hành 5 điều luật do ông đặt ra. -Đáp ứng dục vong quyền lực.
11/LY KHAI GIÁO HỘI. Tương tự như Đề-bà-đạt-đa (Devadatta), một số ít tỳ-kheo tối tăm khác, đã ủng hộ Đề-bà-đạt-đa, không vâng lời Phật…rời bỏ tăng đoàn, và họ đã phạm tội TĂNG TÀN (Saṅghādiseasa), để đáp ứng tật tiền khiên vô minh lậu.-Tất nhiên là Đề-bà-đạt-đa chính là một tu sĩ phạm tội ấy “đầy đủ” nhất.
12/CỨNG ĐẦU KHÓ DẠY. Thời Phật còn tại thế, có tỳ-kheo Sa-nặc (Channa), thường xuyên ỷ lại “mình là người thân” của hoàng gia (cựu nô bộc vua Tịnh Phạn (Suddhodanarājā), nên chỉ chịu nghe lời khuyên bảo của Phật. Ông không phục tùng bất cứ ai khác, kể cả các Thinh Văn Ưu Tú trong Tăng Đoàn Phật giáo, như Đại Ca-diếp (Mahākassapa), Mục-kiền-liên (Mahā Ṃoggallāna), Xá-lơi-Phất (Sārīputta). -Cứng đầu là đáp ứng dục vọng phẩm vị bản ngã.
13/KHÔNG HỔ THẸN TỘI LỖI. Một tỳ-kheo hay một nhóm tỳ kheo vì DỤC VỌNG “thúc đẩy”, coi thường hạnh kiểm người tu, và hành động thấp hèn, mê thích hưởng thụ ngũ trần. Họ DÙ đã được Tăng đoàn khuyên bảo cảnh cáo, nhưng không thức tỉnh. Khi bị hội chúng điều tra thì họ phản đối. Nghĩa là KHÔNG HỔ THẸN TỘI LỖI mà vô minh phạm giới TĂNG TÀN ! Đáp ứng dục vọng lì lợm.
<>TỘI XẾP HẠNG BA đối với các hàng tỳ kheo (nam hay nữ), được gọi là BẤT ĐỊNH (Aniyata). “Sự bất định” nầy ám chỉ “tỳ kheo nam hay nữ nói chuyện với người khác phái trong chỗ thiếu minh bạch”. -Gọi là “THIẾU MINH BẠCH” vì nơi gặp gỡ có thể “kín đáo” hay “không kín đáo”, nhưng trước con mắt 1 người dân bàng quan ngẫu nhiên nhìn thấy nhiều lần, thì sự thắc mắc có thể phát sinh. Từ đó, UY TÍN của tu sĩ đạo Phật sẽ bị hoen ố. -TỘI BẤT ĐỊNH này gồm 2 điều :
1/Nếu TỲ-KHEO (nam hay nữ) BỊ NGHI NGỜmà không thành thực nói rõ lý do cuộc gặp gỡ, thì Tăng Đoàn không thể công bố SỰ THẬT để “đánh tan dư luận”.
2/Nếu “NGƯỜI BÀNG QUAN TỐ CÁO” có dụng tâm riêng (hay ác ý), không vô tư trình bày những gì họ thấy, thì Tăng Đoàn cũng không thể tìm ra SỰ THẬT được.
<>TỘI XẾP HẠNG TƯ đối với các hàng tỳ kheo (nam cũng như nữ), gọi là ƯNG XẢ ĐỐI TRỊ (Nisaggiya pācittiya). -Tội nầy nếu ăn năn XẢ BỎ thì hết tội. Đây là những “VI PHẠM có thể HÓA GIẢI” khi biết phục thiện, gồm 3 phần A, B, C như sau :
A-Nhận Y CÀ-SA không đúng Luật ĐẠO nên vi phạm ƯNG XẢ ĐỐI TRỊ, có 10 ĐIỀU : 1/Nhận y phụ trội (nhiều hơn luật định), 2/Nhận y đã cũ, 3/Nhận y ngoài hạn kỳ, 4/Nhận y dơ chưa giặt, 5/Nhận y do tỳ-kheo-ni tặng đặc biệt, 6/Nhận y nhờ nói bóng gió là “mình thích”, 7/Nhận y do tạo duyên cớ, 8/Nhận y nhờ nói khích thí chủ, 9/Nhận y do khôn khéo “chọn người cho”, và 10/Nhận y do đã nhận tiền để mua.
B-Nhận TƠ TẰM hay các loại SỢI (vật liệu dệt y và tọa cụ) không đúng Luật ĐẠO, có 10 ĐIỀU : 1/Xin nhiều kén, 2/Xin nhiều lông cừu, 3/Xin y hay tọa cụ có viền và nhuộm màu gì, 4/Lấy cớ bị chuột cắn để xin 2 thứ vật liệu ấy, 5/Khi dùng vải liệm người chết ghép lại làm y, mà quên kết nạp y cũ vào thì phạm tội, 6/Nhận lông cừu gói trong y, 7/Nhận y sau khi đã nhờ tỳ-kheo-ni giặt , 8/Nhận tiền bạc hay vật có giá trị, 9/Nhận đồ vật quí tính theo hiện kim, 10/Nhận y cà-sa căn cứ trên giá trị vật dụng.
C-Nhận BÌNH BÁT không đúng Luật ĐẠO, có 10 ĐIỀU : 1/Nhận bình bát phụ trội (=nhiều hơn mức cần dùng), 2/Nhận nhiều bình bát, 3/Nhận người giúp việc trong tu viện, 4/Nhận nhiều y tắm mưa, 5/Tái nhận y đã tặng đến người khác , 6/Nhận thêm vật liệu để dệt y cho đẹp, 7/Nhận y đã dệt theo ý muốn, 8/Nhận y trước rồi thông báo hội chúng sau, 9/Dùng y do mình đã dấu tại một nơi, 10/Nhận y nhờ nói bóng gió rằng “mình thích y ấy”.
<>TỘI XẾP HẠNG NĂM gọi là ƯNG ĐỐI TRỊ (Pācittiyakaṇḍa). Những tội nầy “nếu đương sự “khai thiệt” với huynh đệ…có thể hóa giải”, gồm 92 điều, chia ra nhiều lãnh vực như sau :
*Do KHẨU NGHIỆP : 1/Cố tình nói hàng hai, xác nhận rồi phủ nhận, hứa không giữ lời…v…v… 2/Chửi rủa, lăng nhục, chê bai…, 3/Đâm thọc, kích thích “hai đầu” tạo ra tranh cãi…, 4/Nói xấu đồng đạo, bắt bẻ hạnh kiểm… làm cho người đời xem thường tỳ-kheo…, 5/Cố ý “bình thường hóa” những thói quen thô tục, như ngủ ngáy, chung chạ với người trần thiếu tư cách, không biết xấu hổ khi thân thể lõa lồ, thất niệm…v…v…, 6/Tỏ lời muốn gần gũi người khác phái…, 7/Nói pháp thì thầm, làm cho người nghe có cảm giác “lạ thường”…, 8/Nịnh thí chủ bằng cách làm việc giúp họ, viện dẫn “để xứng đáng sự cúng dường”…,9/Lấy sự “phạm tội và nhận lãnh trừng phạt (parivāra)” làm lý do rêu rao cho mọi người biết mình là “kẻ phục thiện”…,10/Loan truyền sự phê phán của quần chúng, làm gia tăng tội của một số tỳ kheo phạm lỗi…đang bị phạt. -Tổng cộng 10 điều.
*Do CẢNH VẬT : 1/Phá hại sự sống của thảo mộc…, 2/Chối quanh, không nhận các hành động tổn hại môi trường mà mình đã làm…, 3/Phân bổ sự xử dụng cảnh vật theo cảm tình cá nhân…,4/Bỏ bừa bãi đồ dùng giữa khung cảnh…5/Không nhờ người khác thay mình dọn dẹp môi trường…6/Không cải thiện cảnh vật, chỗ nào chẳng thích thì bỏ đi nơi khác…, 7/Không khuyên đồng đạo tu bổ chỗ ở… 8/Nằm ngồi vô ý làm hư cảnh vật, rồi bỏ qua không sửa chữa… 9/Chủ quan…cứng đầu tu bổ cảnh vật một cách thiếu thăng bằng, làm sụp đổ., 10/Dùng nước dơ tưới lên cảnh vật, gây thiệt hại. -Tổng cộng 10 điều.
*Do DẠY LUẬT : 1/Lợi dụng việc “dạy luật” đến đối tượng, cố ý chỉ nói pháp ít, rồi dành thì giờ luận đàm nhảm nhí…2/“Dạy luật” mà tuyên bố rằng “việc nầy không hữu ích bằng nghe tôi thuật cảm hứng của tôi”, -rồi tỳ-kheo đem điều cảm hứng ra ngâm nga, bất kể giờ giấc…3/Lấy cớ “dạy luật” để rủ ren các tỳ-kheo-ni hội họp…, 4/Tỳ-kheo “dạy luật” vì lợi lộc…5/“Dạy luật” để điềm chỉ cho tỳ-kheo-ni mà mình thích, biết chỗ khất thực được nhiều “đồ tốt”…6/“Dạy luật” để nịnh tỳ-kheo-ni nhờ “làm đẹp” y cà-sa của mình…, 7/“Dạy luật” rồi rủ tỳ-kheo-ni đi dạo…, 8/“Dạy luật” và khuyên tỳ-kheo-ni lên thuyền ngắm cảnh…tạo thói quen xấu. Hậu quả có tỳ-kheo-ni đi thuyền ngắm cảnh một mình, và bị ác nhân làm nhục…, 9/Đề-bà-đạt-đa nhờ “dạy luật” mà tìm ra tỳ-kheo-ni làm “môi giới”, khuyên thí chủ cúng dường đồ ăn ngon….10/Viện cớ “dạy luật” để gặp tỳ-kheo-ni…trước kia là vợ cũ ! Tổng cộng 10 điều.
*Do VẬT THỰC, 1/Vì sợ khất thực không đủ ăn, một tỳ-kheo đi thẳng đến “phước xá”, nơi dành cho tu sĩ bị bệnh, có tín đồ thường xuyên bố thí…, 2/Sợ khất thực không đủ ăn, những tỳ-kheo theo Đề-bà-đạt-đa không ngừng yêu cầu tín đồ cúng dường…, 3/Đã khất thực xong, nhưng nghe có thí chủ làm phước lớn, với sự hiện diện của Đức Phật, nên tỳ-kheo thô tục liền đến dự…., 4/Nhận vật ngon rồi đề cao, khiến một nữ thí chủ phải dâng cúng nhiều lần, làm cho người chồng khó chịu, bỏ vợ cũ kiếm vợ mới…, 5/Cùng thời gian mà thọ thực tại nhiều chỗ khác nhau, để nếm nhiều món lạ…., 6/Ăn xong phần mình, tỳ-kheo còn tiếc rẻ ăn thêm thực phẩm dư của các vị khác…., 7/Nhận vật thực sái thời, viện lẽ là đồ ăn có thể để lâu…, 8/Tích trữ vật thực bằng cách thu nhận rồi phơi khô…v…v…, 9/Yêu cầu tín đồ dâng vật thực thượng hạng…, 10/Tìm kiếm thực phẩm tại các nơi cúng tế vong linh, hay “thí thực cô hồn”. Tổng cộng 10 điều.
*Do ĐẠO LÕA THỂ : 1/Tỳ-kheo trong đạo Phật không thọ thực sau 12 giờ trưa, nhưng gặp người thành tâm dâng đồ ăn có thể để lâu thì nhận. Vì luật Phật không cho phép, nên giả bộ đem tặng cho các tu sĩ đạo lõa thể, và gây ra lời phê phán không tốt. 2/Tại “vùng đạo lõa thể” nếu khất thực trễ thời, thí chủ không còn gì để dâng. Lại nói đùa rằng “đến trễ thì không được cúng dường và bị mời đi chỗ khác”. Khẩu nghiệp nầy không lành mạnh, gây bất an…, 3/Tỳ-kheo vô ý thức đứng chờ xin thực phẩm ở chỗ không thích hợp. 4/Tỳ kheo thiếu tự trọng ngồi chờ nhận thực phẩm nơi nữ thí chủ tại địa điểm kín đáo, bị người chồng phê phán. 5/ Tỳ kheo mê nữ giới chỉ muốn nhận thực phẩm từ tay bà chủ. 6/Khi cùng huynh đệ được mời dùng cơm trưa tại nhà thí chủ, tỳ-kheo không nên tách ra đi giao thiệp xung quanh, làm cho huynh đệ chờ đợi. 7/Nhân cơ hội có người thiện tâm muốn biếu thuốc (1 trong 4 vật dụng), tỳ-kheo yêu cầu “bơ lỏng” để giữ lâu, rồi hối thúc họ đưa ngay, làm mất niềm tin của tín đồ. 8/Tỳ-kheo thích tiếp xúc với quân đội, viện cớ đến thăm thương binh, bị dân chúng phê phán. 9/Tỳ-kheo cố ý lai vãng khu gia binh để kiếm lợi, và bị dân chúng đàm tiếu. 10/Tỳ-kheo thích xem tập trận…bị trúng tên đổ máu, khiến cho chúng bàn tán. Tổng cộng 10 điều.
*Do UỐNG RƯỢU : 1/Tỳ-kheo (ở Kosambī) thích rượu, nói bóng gió để được uống rượu ngon, và say sưa đến độ té ngã, đầu óc mất tỉnh táo, không biết tôn kính thầy tổ. Kết quả bị dân chúng chê trách. 2/Tỳ-kheo thích đùa giỡn, thọt lét lẫn nhau để vui cười. Một tỳ-kheo vì cười ngất mà chết…tạo thói xấu tai hại. 3/Tỳ-kheo mê chơi nước sông Acivaratī gần kinh đô Kiều-tất-la (Kosāla). Vua Ba-tư-nặc (Pasenadi) và hoàng hậu Mallikā trông thấy và không hài lòng. 4/Tỳ-kheo ở chùa Ghosita coi thường các vị có đức hạnh, đã bị Phật quở trách và chế luật điều chỉnh tư cách. 5/Tỳ-khưu thích hù nhác đồng đạo, đã làm cho các tỳ-kheo sợ ma kinh hãi bất an. 6/Tỳ-kheo đốt cây to để sưởi, phá chỗ ở rồng rắn, khiến sinh vật nầy tấn công đồng đạo. 7/Tỳ-kheo ngâm mình lâu trong sông hoàng gia Tapodā, làm cho nhà vua phải chờ và tắm trễ, không vào thành thành trước khi trời tối. 8/Tỳ-kheo mặc y-áo sặc sỡ đi đường xa, lôi kéo sự chú ý của bọn cướp, làm cho dân chúng đồng hành bị lây. Quan quân bắt được bọn cướp với vật chứng và chất vấn tăng đoàn, thì họ trả lời “y-áo kia không phải của họ”. Đức Phật hay tin liền thuyết pháp dạy đệ tử “khi đi xa nên mặc y phục thích hợp màu gì”. 9/Tỳ-kheo xử dụng chung y-áo với huynh đệ mà không “xả bỏ” y-áo riêng. 10/Tỳ-kheo giấu bình bát của vị khác, làm cho “nạn nhân” phải van xin. Tổng cộng 10 điều.
*Do SINH VẬT : 1/Dù cho bị thú vật luôn luôn quấy nhiễu, tu sĩ trong Phật giáo không được sát hại, nhưng tỳ-kheo Ưu-bà-li (Udāyi) trước kia là người giỏi bắn cung, đã giết quạ, và bị dân chúng phê phán… 2/Biết trong nước có sinh vật mà tỳ-kheo ngu muội vẫn dùng, làm chết sinh vật. 3/Tỳ-kheo phàm tục thích nhắc lại điều sai trái cũ đã được giải quyết, gây tranh cải trong tăng đoàn. 4/Vì thiên vị và nể lời “bạn thân”, tỳ-kheo đã không vô tư loan tin, cố ý giảm thiểu độ xấu của đồng đạo. 5/Vì cuồng tín lời nhận xét “đời tu là hạnh phúc” (của các bậc tôn trưởng), nên sau khi xuất gia, một số tỳ-kheo không kiên nhẫn lúc đói khát, và than van không ngừng…làm cho dân chúng phê phán. 6/Biết dân lái buôn thường di chuyển hoàng hóa tránh thuế, nhưng tỳ-kheo vẫn chung đụng để bị liên lụy. 7/Thiếu cảnh giác đi chung đường với người vợ bất hòa trong gia đình, một tỳ-kheo bị người chồng hành hung. 8/Tỳ-kheo Ariṭṭha (cựu huấn luyện viên chim ưng) không hiểu chiều sâu lời Phật dạy, rằng “pháp chướng ngại sẽ gây nhiều khổ lụy”. 9/Biết tỳ-kheo Ariṭṭha bị Phật quở trách, nhưng các tỳ-kheo khác vẫn thân cận. 10/Một tu sĩ bậc thấp là sa-di Kaṇḍaka cũng tà kiến giống như tỳ-kheo Ariṭṭha, nên Phật dùng luật ấy để hướng dẫn. Tổng cộng 10 điều.
*Do PHÁP HÀNH :1/Tỳ-kheo thiển cận chỉ vâng theo điều răn, sau khi đã “hỏi kỹ” các vị “thông thuộc luật”. Phật xác nhận “thông thuộc luật không phải là điểm chính, mà là biết áp dụng để được an vui”. 2/Một số tu sĩ mới tu còn tà kiến, thường không tin pháp luật. 3/Viện lý do chưa tụng giới bổn nên không nhớ và vô ý vi phạm thì không sao. 4/Tỳ-kheo phàm phu thường sân hận ẩu đả lẫn nhau, tưởng rằng “sức mạnh có thể giải quyết tranh chấp”. 5/Tỳ-kheo cộc cằn khi sân si thì hay đánh người, nếu không…thì “hăm dọa” làm cho đối thủ trong tăng đoàn bất an. 6/Ỷ mình chưa có lỗi thì có quyền làm nhục tăng sĩ phạm tội, gây ồn ào trong sự hành phạt. 7/Viện cớ “chưa được 20 tuổi không thể thành tỳ-kheo”, các tu sĩ ác ý đã gây hoang mang trong những tỳ-kheo trẻ mới thọ giới. 8/Các tỳ-kheo vọng động thường tìm cách xung đột với những tỳ-kheo hiền lành, làm cho nhiều bậc phạm hạnh bị quấy rầy. 9/Tỳ-kheo ham lam (nhóm lục sư) thường dành quyền chỉ huy khi có pháp sự chung, gây bất mãn trong tăng đoàn. 10//Tỳ-kheo thiếu ý thức (thuộc nhóm lục sư) thích giao quyền ưu tiên cho tu sĩ nào được họ thích, gây chán nản những vị khác. 11/Nhân vụ tỳ-kheo Dabba Mallaputta mặc y cà-sa quá cũ, và nhận được y mới, nhóm lục sư liền bàn tán với ác ý. 12/Nhân việc “đại hội tín đồ làm phước”, sau khi cúng dường thực phẩm có dâng y cà-sa, các tu sĩ tham lam (nhóm lục sư), liền thuyết phục các thí chủ “chỉ nên dâng y cà-sa cho họ thôi”. Tổng cộng 10 điều.
*Do KHUNG CẢNH CAO SANG hay do CÁC VẬT QUÍ GIÁ : 1/Đối với cung cấm của nhà vua, tỳ-kheo khi được mời đến thuyết pháp, thì phải báo trước giờ giấc làm việc. Nếu tự do ra vào hoàng cung, có thể gặp 10 điều nguy hiểm là : -bị hoàng gia nghi tư tình với cung nữ, -bị hoàng gia nghi là tác giả nếu cung nữ có thai, -bị hoàng gia nghi là kẻ trộm bảo vật đã mất, -bị hoàng gia nghi là dọ thám tin tức để tiết lộ ra ngoài, -bị hoàng gia nghi là kẻ sát nhân nếu có người chết, -bị các quan chức thịnh thời nghi là có ảnh hưởng đến nhà vua, -bị các quan chức thất thời nghi là nói xấu họ với nhà vua, -bị nhà vua xuất quân thất bại, nghi lý do không thắng trận là sự có mặt của tỳ-kheo, -bị nhà vua xuất quân thành công, bận tâmvề việc đền ơn. -Nguy hiểm sau cùng là sẽ say mê bởi cảnh tượng sang trọng của hoàng gia. 2/Tỳ-kheo thấy vật quí ở chỗ công cộng, không nên lấy để trả lại chủ nhân, vì hành động ấy sẽ đưa đến chuyện cảm tạ, có thể ảnh hưởng đến tu tập (-ngoại trừ một vài trường hợp đặc biệt!). 3/Một nhóm tỳ-kheo không dám vào làng lúc trái thời, và bị cướp hết tư trang. Trường hợp khẩn cấp mà cố chấp, thì phạm tội. 4/Lợi dụng lòng hộ trì, nhiều tỳ kheo tham lam đã yêu cầu một thợ làm “ống sừng” (để đựng kim khâu vá y cà-sa), đến độ người ấy không còn thì giờ để sản xuất nuôi thân. 5/Tỳ-kheo nằm giường sang trọng mà còn khoe…bị Phật quở trách. 6/Tỳ-kheo (nhóm lục sư) độn bông gòn cho nệm giường và ghế nằm ngồi êm ái, bị dân chúng phê phán. 7/Tỳ-kheo ham hưởng thụ, đã tạo tọa cụ quá kích thước xử dụng trước mặt những bậc có giới hạnh, bi dân chúng phê phán. 8/Tỳ-kheo bị bệnh lở ngoài da được Phật cho phép tạo “y đắp ghẻ”. Nhóm lục sư lạm dụng chuyện nầy may nhiều “y che thân”, có “tua viền” xum xuê. 9/Tương tự như thế, các tỳ-kheo trong nhóm lục sư, đã chế tạo “y tắm mưa” quá kích thước, và bị dân chúng không ngớt phê phán. 10/Tỳ kheo Nanda, con trai dì ruột của Phật đã mặc y cà-sa, giống như y phục bậc Thế tôn. Tăng chúng bàn tán… Tổng cộng 10 điều.
*Do LUẬT ƯNG PHÁT LỘ (Pāṭidesanīya niyama) : 1/Tỳ-kheo biếng nhác không đi khất thực mà muốn no bụng, chỉ chờ tỳ-kheo-ni nhiều tâm từ đem thực phẩm về rồi xin hết. Tỳ-kheo-ni có phạm hạnh sau đó bị đói, không còn gì độ nhật, đến nỗi té ngã ngoài đường. Dân chúng đến cứu cấp mới biết lý do nên phàn nàn. 2/Khi thí chủ mời tăng đoàn dùng cơm thì thường giao cho các tỳ-kheo-ni phân phối đồ ăn. Các tỳ-kheo phàm tục trong nhóm lục sư liền khuyên họ nên làm theo cảm tình, không hướng dẫn họ hành động vô tư. 3/Một gia đình đầy tín tâm, có thực phẩm gì cũng đem dâng chư tăng trước, phần còn lại họ dùng. Nhưng các tỳ-kheo tham lam (nhóm lục sư) cứ nhận hoài không từ chối, nên gia đình ấy đã cho hết…phải nhịn nói. 4/Các nô bộc thường ghét ngầm chủ nhân, nên nhân việc được lệnh cùng với nhiều tiểu thư, mang thực phẩm cúng dường các tăng sĩ tu trong rừng. Đến chỗ vắng bọn nô bộc làm loạn, và nhóm cận vệ của gia chủ đã can thiệp kịp thời. Dân chúng thắc mắc rằng “tại sao các tăng sĩ không cảnh giác, để báo trước cho đại thí chủ biết để ngăn ngừa?!”. Phật biết dư luận liền chế luật tổng quát khuyên “không nên trai tăng trong rừng”. -Lợi dụng luật nầy, các tỳ-kheo ác ý (trong nhóm lục sư) liền “xác nhận” với tín đồ rằng “Phật cấm cúng dường các tu sĩ ngụ trong rừng, kể cả khi họ đau ốm”. Phật hay tin phải chế “luật ngoại lệ” bổ túc cho điều học thứ tư của ƯNG PHÁT LÔ. Tổng cộng 10 điều.
*Do ƯNG HỌC PHÁP : Phần nầy chúng tôi chỉ nêu chung, gồm :
-26 ĐIỀU mô tả tất cả OAI NGHI TẾ HẠNH, như -cách ăn vận y phục (gồm cả đầu cổ và bàn chân bị bệnh phải đội khăn, mang dép như thế nào), -cách nhìn ngó (=ánh mắt), -cách cử động tay chân (gồm cả chống nạnh), -cách cười nói giữa cộng đồng, -cách đi đứng nằm ngồi, -cách hả miệng ăn uống (bao gồm cả kiểu vắt cơm, húp canh, cắn rồi nhai vật thực), -cách nhận đồ ăn từ tín đồ khi vào làng xóm khất thực.
-16 ĐIẾU hướng dẫn cách THUYẾT PHÁP (Dhamma desanā) phải luôn luôn thanh tịnh trang nghiêm, không được nói đùa trên pháp tọa. Và…
-3 ĐIỀU linh tinh…hướng dẫn các tỳ-kheo có bệnh đặc biệt, cần ngồi hay đứng khi làm vệ sinh và đại tiểu tiện…gọn ghẽ như thế nào.
<>Nói chung, LUẬT TỲ-KHEO trong đạo Phật chỉ có thể được chúng ta “hiểu” một cách tương đối về SỰ VI PHẠM (nặng hay nhẹ), thuộc về 4 giới BẤT CỘNG TRỤ và 13 giới TĂNG TÀN mà thôi, -vì chúng “xác chứng phẩm vị của một tỳ-kheo””. Nhưng kể từ 2 giới BẤT ĐỊNH (được xếp hạng ba) về sau….các “MỨC ĐỘ PHẠM TỘI” vốn ‘tùy thuộc vào một số yếu tố dẫn đến qui nạp” (thường rất “lơ lửng”), nên ngoài 4 điều BẤT CỘNG TRỤ (Pārājika) ra, thì 13 giới TĂNG TÀN phải tùy trường hợp. Nghĩa là có KHI thì “đương sự” phạm “tội đơn”, như TĂNG TÀN (Saṅghādiseasa), TRỌNG TỘI (Thullajaya), ƯNG XẢ ĐỒI TRỊ (Nisaggiya pācittiya), ƯNG ĐỐ TRỊ (Pācittiyakaṇḍa),haynhẹ nhất là TÁC ÁC (Dukkata).Và cũng có KHI “đương sự” phạm “tội kép”, như vừa phạm TĂNG TÀNvừa phạm TRỌNG TỘI, hay vừa phạm TĂNG TÀN vừa phạm ƯNG XẢ ĐỒI TRỊ, hoặc vừa phạm ƯNG ĐỐ TRỊ vừa phạm TÁC ÁC …v…v…một cách “bất định” !
*Xin nhắc lại, ở đây chúng tôi chỉ xin trình bày ngắn gọn về GIỚI LUẬT TỲ-KHEO TĂNG (Bhikkhu-vinaya). Còn sách “PHÂN TÍCH GIỚI TỲ-KHEO NI” (Bhikkhunī-vibhaṅga), thì chúng tôi mạn phép thông qua. -Và dựa theo GIỚI LUẬT TỲ-KHEO TĂNG, quí vị cũng có thể nắm bắt được nội dung của sách “PHÂN TÍCH GIỚI TỲ-KHEO NI” ấy.
<>Ngoại trừ các đoạn vừa nêu vắn tắt về LUẬT TỲ KHEO, các phần trình bày khác của chúng tôi chỉ là những LƯỢC DẪN về nội dung 4 bộ tài liệu chính. -Và nhờ đó chúng tôi mới tìm ra “các nét khoa học nhân văn” trong TẠNG LUẬT (Vinaya piṭaka) của Phật giáo để cống hiến đến chư độc giả. -Đối với chúng tôi, “giới hạnh trong nhà Phật” quả thật có liên quan đến việc “bảo vệ MÔI TRƯỜNG hay SINH THÁI”.
(-Quí vị nào muốn biết đầy đủ chi tiết, kính mời tìm đọc trọn bộ TẠNG LUẬT (Vinaya-piṭaka) thuộc Phật Giáo Nam Truyền, -hay “Phật Học Nguyên Thủy” (Theravāda), đã được chuyển ra Việt ngữ, để nghiên cứu một cách chuyên biệt).
<>Tuy nhiên…trong hầu hết các bản dịch khác của TẠNG LUẬT (Vinaya piṭaka), quí độc giả sẽ không tránh khỏi “đối diện” với khá nhiều thuật sự cổ tích, dài dòng lẫn lập lại…-nhất là “độc thoại” đề cập về LUẬN TỘI “nặng”hay “nhẹ” của “việc vi phạm” hơn là phản ảnh cái gì khác. -Chưa kể dường như toàn bộ các bản dịch ấy, không có “chỗ nào gợi lên sự chú ý” đến đặc tính “TÔN TRỌNG MÔI TRƯỜNG”, như chúng tôi nhận thấy.
-Chúng tôi mong quí vị hãy KIÊN NHẪN, “vừa đọc TẠNG LUẬT (Vinaya piṭaka) vừa truy nguyên bối cảnh”, để “khám phá” rằng “chỉ trong đạo Phật mới có những luật tu liên quan đến đất-nước cây-cối thảo-mộc như thế”. Đồng thời quí vị sẽ qui nạp “đây là BẢN SẮC KHOA HỌC” (nhân văn) trong đạo PHẬT, căn cứ trên những Phật ngôn thuở ban đầu, gọi là PHÁP (Dhamma) và LUẬT (Vinaya).
<>Trở lại “đặc tính giữ sạch môi trường” trong TẠNG LUẬT (Vinaya piṭaka), chúng tôi thấy kinh Pāḷī ghi rõ rằng, ngày xưa Đức Phật đã “quở trách” các đệ tử rất nhiều lần, vì thiếu ý thức trong việc xử dụng khung cảnh sống, trước 2 đối tượng là MÔI TRƯỜNG và CON NGƯỜI (=xã hội), -chẳng hạn như “bình phẩm của quần chúng” (một sinh hoạt dân chủ), khi các “tỳ kheo” (bhikkhu) “đối xử sái phép” đối với đất, nước, cây cối, thảo mộc, rừng núi…v…v… -Chưa kể không ít LUẬT TU trong nhà Phật đã ấn định rõ ràng “cách sắp xếp trú sở khi một tu sĩ còn cư ngụ” và “dọn dẹp gọn gàng như thế nào, trước khi vị ấy đi nơi khác”.
*Vả lại, liên quan đến “SINH THÁI”, cũng có vài nền văn hóa trên thế giới thường xuyên “trân trọng cảnh vật” (như ở Nhật Bản chẳng hạn). Nhưng xét về “chiều sâu tâm lý ưa thích của con người” thì sự “trân trọng thiên nhiên” ấy, vốn vì NÉT ĐẸP để nhân sinh thưởng thức (=một dạng của lòng tham và vị ngã), -hơn là phản ảnh tính bình đẳng, xem CẢNH VẬT là SỰ SỐNG cần tôn trọng. Theo Phật học, đức tính bình đẳng ấy sinh ra từ “chân pháp soi sáng muôn đời” của BÁT-NHÃ (Prajña).
<>Chắc quí vị đều biết, văn hóa Nhật-bản có “nghệ thuật” BON-SAI, một cách trồng cây tạo kích thước tối thiểu. Nghệ thuật nầy đã can thiệp vào sự PHÁT TRIỂN TỰ NHIÊN của cây cối, để thỏa mãn thị hiếu gọi là “đẹp mắt” (=mỹ thuật ?!) nơi con người. Chúng ta thử tự hỏi “nếu có một thế lực nào đó, cố ý thay đổi TÍNH PHÁT TRIỂN TỰ NHIÊN CỦA NHÂN LOẠI, thì chúng ta nghĩ sao ?!” -Hỏi tức là trả lời ! Đạo Phật vì TÔN TRỌNG SINH THÁI mà đề cao sự BÌNH ĐẲNG trong TÍNH PHÁT TRIỂN TỰ NHIÊN của mọi sinh vật.
-Theo chúng tôi nghĩ, “BONSAI” hoàn toàn không liên quan gì đến “khoa học chỉnh hình”, mà là cái THÚ VUI thõa mãn “sáng tạo cá nhân”, chống lại tính tự nhiên của cây cối.
Cần “hiểu đúng mục tiêu” của KHOA HỌC CHỈNH HÌNH :
-Một em bé sinh ra bị “khiếm khuyết”, không bình thường như đa số những em bé khác, do một bộ phận nào nào đó trong thân thể em, đã không phát triển đầy đủ, như em bị “sứt môi” chẳng hạn. Bác sĩ đã dùng “khoa học chỉnh hình”, lấy một mảnh da thịt chỗ khác trên người em, để “vá vào chỗ môi sứt”, giúp em phát âm ít lệch giọng hơn lúc chưa giải phẫu. Đó là gọi là CHỈNH HÌNH trong cái nghĩa chân chính. Và những trường hợp chỉnh hình khác cũng vậy, KHOA HỌC GIẢI PHẪU đã giúp cho các bác sĩ “tu bổ lại” một người khuyết tật, vì tai nạn hay do bẩm sinh…vẫn nhằm mục đích cao đẹp là cải thiện sức khỏe con người.
(-Còn “mổ xẻ thẩm mỹ tạo nhan sắc” là một cách “đầu tư vụ lợi” có mục đích đáp ứng hưởng thu xa xỉ, một dạng của lòng THAM, không phải đích thực là KHOA HỌC CHỈNH HÌNH !).
Nhắc lại “PHÁP LUẬT trong nhà Phật là…
làm SẠCH SẼ môi trường THÂN TÂM con người, bằng giảm thiểu THAM SÂN SI.
–Thứ nhất, PHÁP LUẬT vừa là “qui tắc đối ngoại” hằng hạn chế dục vọng, không để cho nó “nổi lên”…lôi kéo thân và khẩu (kāyapi vacīpi) phàm nhân, QUEN TẬT làm điều XẤU (akusala kamma) hướng ra xung quanh (cộng nghiệp), rồi tự biến mình thành ô nhiễm.
–Thứ hai, PHÁP LUẬT vừa là “qui tắc đối nội” hằng giảm thiểu dục vọng, không cho nó “nổi lên”…lôi kéo tâm thức con người, chạy theo các đối tượng của tham sân si,trong cũng như ngoài, rồi tạo NGHIỆP XẤU gây ô nhiễm tất cả. Nhà Phật gọi PHÁP LUẬT đối nội ấy là thiền pháp (bhāvanā), luôn luôn có khả năng giúp TÂM THỨC (Citta) được an trú trong thanh tịnh, hướng đến phát triển TUỆ CĂN (Paññiṅdriya), đạt đến TRI KIẾN ANH MINH (Diṭṭhiddhi).
<>Tuy nói là “kê khai vắn tắc”, nhưng con số PHÁP LUẬT TU HÀNH của một tỳ-kheo trong đạo Phật, được chúng tôi ghi ra trên đây cũng khá nhiều, đủ chứng tỏ rằng “làm sạch môi trường thân tâm người phàm là một KHOA HỌC”, chứ không phải là “lý thuyết thăng tiến tinh thần thuần túy” thuộc về “tín ngưỡng”, hay thuộc về ‘triết thuyết chủ nghĩa”. -Mỗi “pháp luật tu hành” trong nhà Phật là “một pháp độ”, phản ảnh “nguyên nhân ô nhiễm” (=dưới dạng “bị quần chúng phê phán”), cần được CHỈNH ĐỐN giữa xã hội.
-Và Thứ ba, PHÁP LUẬT (Dhamma-vinaya) cũng là «tiền thân» của Ba-la-mật hay PHÁP ĐỘ (Dhamma-pāramī), có thể đóng vai 1 trong 10 (hay 1 trong 6) NỀN TẢNG xây dựng con đường sống hòa hài trong thực tại, căn cứ theo Phật học Nam Truyền hay Phật học Bắc Truyền, -khoan nói đến CỨU CÁNH là sự siêu thoát, vượt ra luân hồi (Sámāra).
<>Mặt khác, GIỚI ĐỊNH TUỆ (Sīḷa, Samādhi, Paññā) còn là 3 phương diện PHẬT PHÁP có khả năng LÀM SẠCH SẼ toàn bộ môi trường thân tâm, TRONG cũng như NGOÀI một con người nói riêng, và TRONG cũng như NGOÀI các cõi chúng sanh nói chung… bao gồm tam giới (=cảnh trời, cảnh người, và dọa cảnh).
-Với tinh thần Phật học, ngày nay người ta có thể gọi chung là “VỆ SINH CUỘC SỐNG” gồm :
-VỆ SINH MÔI TRƯỜNG, dùng pháp luật để làm lành mạnh THÂN và TÂM, trong mỗi cá nhân cũng như trong mỗi cộng đồng lập thành xã hội, SINH THÁI.
-VỆ SINH THỨC TÁNH, dùng “năng lượng sạch” (hay chánh thiền) để phá tan phóng dật SI MÊ, chấm dứt “Ô NHIỄM TƯ TƯỞNG” bởi lục trần (sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp), xây dựng văn hóa hướng thiện.
-VỆ SINH CỘNG NGHIỆP, dùng “thanh tịnh đạo” để hóa giải tham dục, thanh lọc toàn bộ SINH KHÍ, trong sự sống chung, gồm con người và thiên nhiên.
*Hiện tượng “bệnh hoạn cá nhân” (tham sân si), và “bệnh hoạn xã hội” (dưới dạng xung đột cộng đồng), phát sinh vì thiếu “KHOA HỌC VỆ SINH” ấy, nhất là dưới dạng “thiếu pháp luật soi sáng ý thức”. Và đọc qua các ĐIỀU HỌC trong PHÁP LUẬT nhà Phật (ghi vắn tắc trên đây), chúng ta thấy “chẳng có pháp luật nào được Đức Phật chế ra, mà Ngài không căn cứ trên phán xét từ quần chúng, về cuộc sống xã hội, hay về môi trường thiên nhiên”, -nhất là ý kiến vô tư của quần chúng, không bị nhồi sọ, bởi “tín ngưỡng” hay bởi “chủ nghĩa chính trị”.
*Đối với chúng tôi, MÔI TRƯỜNG hay SINH THÁI bao gồm tất cả cảnh vật. Trong đó có cộng đồng nhân loại đóng vai chủ yếu, chứ chẳng phải duy nhất chỉ là “THIÊN NHIÊN”, tức là cỏ cây sông núi…và cũng không loại bỏ những công trình do con người sáng tạo, nhằm «bổ túc» chứ không nhằm «đối nghịch» vận hành tự nhiên trên địa cầu».
<>Nói tóm lại toàn bộ “NHỮNG NÉT SOI SÁNG”, tìm thấy trong PHÁP LUẬT của nhà Phật (Buddhasāsanasssa dhamma-vinaya) chính là một “bản sắc khoa học xã hội” (nhân văn), không phải chỉ đóng khung trong “quan niệm về đời sống”, mà còn “mở rộng ra toàn thể bầu khí quyển bao quanh quả đất”. Và nó chỉ “nghiệm đúng” khi đa số dân tộc trên thế giới, được soi sáng một cách “tiến hóa cả tinh thần lẫn vật chất”. Đó là nền VĂN MINH BÁT-NHÃ (Pañña=Vịjjāsabbhatā).
Cư sĩ Tuệ Lạc (NĐ)
Ivry-sur-Seine, Pháp quốc. 15/12/2021.
(Ghi lại tri kiến…phát sinh nhờ CHỈ QUÁN trong mùa «tịnh thất»)