*Liên quan đến “THẦN THÔNG” (Abhiññā). (>>> PHẦN BỔ TÚC Bài 8)
<>“THẦN THÔNG” (Abhiñña) là một từ ngữ nghe qua rất “ẤN TƯỢNG”, đối với hầu hết “người Châu Á ” nói chung, và đối với một lớn số “người có tín ngưỡng” trong văn hóa “Việt-Ấn” nói riêng. Còn các dân tộc thuộc văn minh cổ Hy-lạp (Grèce) hay Ba-tư (Perse), thuộc vùng “Lưỡng hà địa” (Mesopotamie) và Trung hoa (Chine) ngày xưa, thì “ẤN TƯỢNG” về THẦN THÔNG nói trên, ám chỉ hình ảnh “PHONG THẦN”…hơn là một cái gì có thực, -nghĩa là “THẦN THÔNG” là một quyền năng “siêu hình”, nặng về “thần thoại” (mythologique)…không thể lý giải một cách phổ quát. -Tóm lại, “ẤN TƯỢNG về THẦN THÔNG” mà người ta nói đến, vốn là một “cảm giác huyền hoặc”, chỉ biểu lộ trong “tư thức”.
*Ngoài ra….đối với một người chưa biết gì về NĂNG LỰC (Indriya-bala) của THIỀN (Bhāvanā) trong đạo Phật,thì “THẦN THÔNG” quả làmột “vấn đề rất khó nắm bắt”. -Vì NÓ không có một “thông số nhất định” (paramètre déinitif) như “hệ luận” (corollaire) trong toán học, -và “quan niệm về thần thông” (conception) cũng tùy theo “chiều sâu tín ngưỡng”, vốn không cùng nền tảng. -Chưa kể khi căn cứ trên sự “phong thần” của văn minh cổ Hy-lạp hay của cổ Trung hoa, thì “thần thông” có thể bị coi là “hoang đường”, phát xuất từ “THAM VỌNG trong TÍNH LINH ĐỘNG” của óc TƯỞNG TƯỢNG từ con người (imagination), -mà theo Phật giáo thì thuộc về TƯỞNG UẨN (Saññā).
-Chúng tôi nêu ra các khía cạnh phức tạp trên đây, để nhấn mạnh rằng “bàn về THẦN THÔNG” (Abhiññā) là “dám” nói đến “một vấn đề phản lý”, hoàn toàn TRỪU TƯỢNG, để “tìm hiểu” một cách “CỤ THỂ” có tính KHOA HỌC, dựa trên bình diện thông thường “chứa nhiều yếu tố phản chiếu thực tại”. Đây là một việc làm không dễ, mong quý độc giả nặng về “nghiên cứu sức mạnh tâm linh” rộng lượng !
<> Xin nhắc lại, câu nói trên đây…“ẤN TƯỢNG” đối với hầu hết “người châu Á” nói chung, và đối với một lớn số “người có tín ngưỡng” trong văn hóa VIỆT-ẤN nói riêng”….không ám chỉ cảm thức của người châu Á, về chuyện THẦN THÔNG có gì…“đặc biệt”. -Mà chúng tôi chỉ muốn trước tiên lưu ý rằng, tại hầu hết các nơi khác trên thế giới, người ta đã quan niệm “thần thông” một cách cứng ngắc…là “PHÉP LẠ” (miracles), vượt trên khả năng nghĩ bàn của con người. -Mà một khi xem THẦN THÔNG là PHÉP LẠ thì ẤN TƯỢNG (impression) của “đương sự” (sujet) phải là đáp lại bằng “lòng tin”và “sự tuân phục”. Ít người dám quan tâm đến việc tìm hiểu“nguồn gốc HỢP LÝ của thần thông”, -tương đương như “chuyện phong thần là chuyện của ngày xưa, bây giờ không tồn tại nữa”, -tìm hiểu mất thời giờ -! Và đại khái người ta tin rằng, “ai” mang “bản thể thiên khải” (=do trời định), được “SIÊU QUYỀN” tuyển chọn, thì tự nhiên “ƠN TRÊN” sẽ ban cho khả năng làm phép lạ. -THIÊN QUYỀN là nguồn gốc duy nhất, không “Thiên quyền” thì con người hoàn toàn bất lực ! -Phàm nhân không bao giờ hy vọng“đạt được thần thông”. -Nghĩa là THẦN THÔNG (Abhiññā) tuyệt đối đến từ “THA LỰC”.
*Nhưng “rải rác” trong kinh điển nhà Phật, tuy không cố định kinh nào, thuộc “văn hóa Việt Ấn”, chúng tôi lại tìm thấy “thần thông do tu luyện mà thành, không do một quyền năng ban cho”. Và CHỦ YẾUcủa sự đạt đượcTHẦN THÔNG là “TỰ LỰC”. -Hay “thần thông đến từ KẾT QUẢ của một kỹ thuật siêu việt phối hợp TÂM và VẬT một cách rất KHOA HỌC”. -Vậy THẦN THÔNG được nêu ra ở đây, là “năng lượng tinh thần cực mạnh, hội tụ nơi THÂN TÂM một con người, đã tu luyện viên tròn đúng thiện pháp, vượt hạn chế vật chất”.
-Và để diễn tả “đầy đủ hơn”, nhiều đoạn trong kinh sách Phật học cũng nói rõ rằng, “hễ có TỰ LỰC thì có THA LỰC”, ngược lại “KHÔNG tự lực thì CHẲNG bao giờ có tha lực!” -Hay THẦN THÔNG là BIỂU LỘ của “mối liên quan mầu nhiệm” giữa biệt nghiệp (tự lực) và cộng nghiệp (tha lực), trong tiến trình thăng hoa một cách đạt đỉnh điểm THANH TỊNH, giữa “bộ máy vô thường, chế tạo sinh tử luân hồi” (saṃsāra).
*Theo Phật học, THA LỰC và TỰ LỰC thuộc về duyên hệ, và là “2 vận hành” đưa đến thành công độc đáo. Đó chính là sự “GIAO THOA MẦU NHIỆM” giữa “bản thể” với “khách thể” trong CỘNG HÀNH “biệt nghiệp” và “cộng nghiệp”. -TỰ LỰC ám chỉ “năng lực bên trong” phát ra từ một “đơn vị” (unité) đã luyện thành. -THA LỰC ám chỉ “ngoại năng” tiếp độ từ một “năng lực bên ngoài” để đáp ứng (communité). -Nghĩa là, đối với bên nầy nó là “biệt nghiệp”, thì dối với bên kia nó là “cộng nghiệp”…-một “liên quan đối pháp” có đủ “bộ ba” NHÂN-DUYÊN-QUẢ, chứ không do TỰ NHIÊN hay ĐƠN PHƯƠNG xảy ra.
-Bàn sâu một chút, -TỰ LỰC là sự “phát huy hữu hiệu và phi thường” bởi chính mình. -THA LỰC là sự “hữu duyên đáp ứng” (cứu giúp) đến từ một “nguồn năng lượng luyện thành” khác. Từ đó, chúng ta thấy rõ rằng, nhà Phật “không phủ nhận” THA LỰC, -mà còn xem “tha lực là một yếu tố tương tác”. Điều đáng tiếc là người tin vào “thần thông Bồ-tát cứu độ” thì cứ nhắm mắt mà tin, không biết vì sao Bồ-tát CÓ khả năng ấy, một cách chánh kiến !
*Nhắc lại chữ Pāḷī (tiếng Phật nói ngày xưa) được dùng trong kinh điển, là “ABHIÑÑᾹ”, tạm dịch ra Việt ngữ là “THẦN THÔNG”. -Vậy chúng ta thử phân tích “ngữ nguyên” của danh từ “Pāḷī” nầy, xem trên phương diện “lập tự”, nó có ý nghĩa như thế nào.
*Danh từ “ABHIÑÑᾹ” là “kết hợp” của 2 phần, gồm “ABHI” = phi thường hay vượt thắng, và “ÑᾹna” = trí biết hay biến thức. -Và luật “tiếp tiếp ngữ hòa âm” (sandhi veyyākaraṇa) trong Văn phạm Pāḷī cho phép người ta thêm 1 phụ âm (byañjana)“Ñ” vào, đồng thời có thể xóa vần “na” ở cuối, thành ra “ABHIÑÑᾹ”. -Nếu viết ra “công thức” thì như sau :
ABHI + Ñ + ÑᾹNA = ABHIÑÑᾹÑᾹNᾹ => ABHIÑÑᾹ.
-Từ đó, “ý nghĩa ngữ nguyên” của ABHIÑÑᾹ theo “lập tự” là “biết thực hiện việc phi thường”.
<>Để tạm định nghĩa “THẦN THÔNG là gì ?”. Chúng ta có thể dựa theo “sự phân tích” trên đây và đúc kết, “THẦN THÔNG” là thực hiện những việc mà người thường (chưa tu luyện) không thể làm được”. -Chẳng hạn như “biết chuyện quá khứ, vị lai, hoặc hiện tại của một hay nhiều người khác đang suy nghĩ”, Phật học mệnh danh 2 khả năng ấy là “túc mạng minh” (pubbenivāsaññāna) và “tha tâm minh” (Cutūpapāsaññāna).
-Còn các loại thần thông khác (aññābhiññā), chẳng hạng như “biến mất rồi hiện ra” hay “đi trong hư không”, hoặc “di chuyển thông qua mọi chướng ngại” (xuyên nước, lửa, đất, đá, kim loại)…v…v… thì có những “tên khác” không nhất định. -Nói tóm lại, THẦN THÔNG là “hành động KHÔNG bị trở ngại” bởi sự HẠN CHẾ của vật chất TỨ ĐẠI (thổ, thủy, hỏa, phong). -Nhân vật “có thần thông” là người làm được mọi chuyện theo “ý muốn”, với tâm trí cực định (Parmatthekaggatā). -Kinh TỨ THẦN TÚC (Iddhipādasutta) chữ Pāḷī của nhà Phật có “tiết lộ” ý nghĩa tương đương như thế !
*Nhưng điều cần thận trọng ở đây, là độc giả của loạt bài “BẢN SẮC KHOA HỌC” trong Phật giáo, chưa chắc đã dễ dàng chỉ dựa trên kinh TỨ THẦN TÚC (Iddhiadasutta) mà “đồng thuận quan điểm”. Chúng tôi phải cố gắng nêu ra những “khía cạnh khoa học” của THẦN THÔNG (=tinh hoa từ THIỀN LỰC), để nó được “ăn khớp” với đề tài. -Chưa kể cái “RẮC RỐI” đối với đa số người phàm phu, là các “thuật sự” về “VAY TRẢ NGHIỆP QUẢ” trong sách vở…gọi là “Phật học”, đôi khi có thể trở thành “mâu thuẫn”, hay chứng minh trái chiều (nếu không muốn nói là VÔ LÝ) trước những gì thực tại xảy ra.
-Chẳng hạn như trong cuộc sống hằng ngày (đầy THAM SÂN SI), có nhiều CẤU KẾT OAN TRÁI hay “vận hành nghiệp quả” thìhoàn toàn KHÁC với “kinh điển”, mà con người vừa “đặt niềm tin” vừa “gánh chịu” một cách “bất công”, -chẳng ăn khớp chi cả !
-Ví như “người đang làm ác lại được an vui”, còn “kẻ sống thiện thì thường xuyên gặp tai họa”…nên “PHÚC” (tương đương với việc được “ban cho may mắn”), và “HỌA” (tương đương với việc bị “trừng phạt tội lỗi”) là “2 bài toán không có đáp số đúng, hoang đường”, nghịch hẳn với luật trả vay luân lý !
<>Theo Phật học, sự “TRÁI CHIỀU” nói trên, chính là cái tồn trữ NĂNG LƯỢNG tốt lẫn xấu (kusala=><=akusala), được tích tụ trong vô số kiếp hành động quá khứ (chứ không phải chỉ có một kiếp hiện tại), biểu lộ xuyên qua BIỆT NGHIỆP (=tự lực, có khả năng biểu lộ), và CỘNG NGHIỆP (tha lực, được hay không được “che chở”) trong kiếp nầy. Hiện tượng ấy không phải do ngẫu nhiên… trở thành “hoang đường” hay vô căn cứ, mà chính là “vận hành” của NGHIỆP QUẢ kết toán xa xưa khó tìm ra manh mối…trong toàn bộ “bí mật” luân hồi !
*Đây cũng chính là lý do, mà vị đệ tử đạt nhiều thần thông nhất của Đức Phật, là Thánh tăng Đại Mục-kiền-liên (Mahā Ṃoggallāna), đã chịu quả quả báo cuối cùng rùng rợn, trước khi nhập niết-bàn giải thoát. (-Muốn biết câu chuyện về Ngài Mục-kiền-liên mời quý vị tìm đọc cuốn “Lịch sử đức Mục-kiền-liên”, do TL đã dịch và ấn tống.
*Và qui nạp xuyên qua lăng kính KHOA HỌC, khi sự “đạt được thần thông” của một đạo sĩ viên tròn công phu gọi là “THĂNG HOA”, thì sự “thoái hóa” của một ác nhân chồng chất tội lỗi dần dần hóa ra “DÃ THÚ”, gọi là “SA ĐỌA”, phô bày bản thể trả báo, ngược chiều với thăng hoa…thì cũng là một nghiệm chứng rất LÝ HÓA, -chỉ khác ở chỗ “BẢN SẮC KHOA HỌC” ấy, vốn nằm ngoài tầm nắm bắt của người phàm (!)
-Vì chúng ta không thể phủ nhận rằng, “lý hóa là biến thể để trở thành cái mới”, khác với “cái trước” (xấu hơn hay tốt hơn), -tương đương với THẦN THÔNG (=thăng hoa) hay BẤT LỰC (ám chỉ SA ĐỌA) trong thực tại. -Ấy chính là 2 KẾT QUẢ (Vipāka) của “2 vận hành lý hóa” nghịch chiều nhau. -Và phủ nhận sự “THĂNG” hay “ĐỌA” trong vận hành tự nhiên, một cách biên kiến…là phản khoa học, -rơi vào CỐ CHẤP !
-Quay lại “RẮC RỐI” về CỘNG NGHIỆP, có những người từ nhỏ đến lớn, ăn ở rất hiền lành, nhưng bỗng gặp tai nạn “chết chùm một cách vô lý với nhiều người khác”, mà chẳng có “thần linh” nào cứu giúp cả. Nếu chúng ta chưa thoát khỏi BIÊN KIẾN, hay “niềm tin đóng khung”, thì sẽ bị ràng buộcbởi sự “cố chấp vào tính cụ thể xuyên qua hiện tượng”, và TRI THỨC của chúng ta sẽ tự bế tắc trong “định hướng tiến hóa sinh tồn” (=đạo đức), rất tiêu cực cho tiến hóa chu kỳ của chính mình về lâu về dài. -Đạo Phật là con đường nuôi dưỡng THÂN TÂM tránh xa THIỂN KIẾN, và xác nhận PHÁ CHẤP là một khả năng của “TRÍ BÁT-NHÔ (Prajña), hay của KHOA HỌC NGHIỆM CHỨNG (Vịjjā udapādi) !
*Khi nói đến CỘNG NGHIỆP (gaṇībhūta kamma), Phật học còn cho chúng ta biết rằng, trong ba cõi luân hồi, không có cõi nào chỉ có một chúng sinh duy nhất, nên ràng buộc nhân quả xung quanh hay CỘNG NGHIỆP là một SỰ THẬT MUÔN ĐỜI (Sassata sacca). -Người noi gương Phật, có CHÁNH TƯ DUY (sammāsaṅkappa) thì tự nhiên phải trân trọng tha lực, nhưng không tùy thuộc vào tha lực, để tránh tình trạng “MÊ TÍN”(micchādiṭṭhi) hay bị“VÔ MINH” (Avijjā) che áng TRÍ TUỆ !
-Ví như người học trò sáng suốt luôn luôn TIN TƯỞNG THẦY, nhưng không phải vì vậy mà ỷ lại vào thầy, không dày công học hành để trở nên lỗi lạc. Người học trò TỐT là người hằng tin rằng “có tự lực thì mới có tha lực”. -Ngược lại “không tự lực thì chẳng bao giờ có tha lực!”. -Nhưng chủng tử trí BÁT-NHÃ (nhiều hay ít) trong mỗi cá nhân, về lâu dài vẫn giúp cho kẻ ấy một ngày kia sẽ giác ngộ, và đó là ĐIỀU đã khuyến khích chúng tôi mạnh dạn nêu ra loạt bài nầy, nhất là liên quan đến đề tài “hóc búa” gọi là THẦN THÔNG (Abhiññā).
-Rằng “THẦN THÔNG” (Abhiññā) là kết quả siêu việt (Bhūta-phala) của “người tu” có NGUYỆN LỰC KHÔNG LAY CHUYỂN, đã dày công rèn luyện (xuyên qua GIỚI ĐỊNH TUỆ). -Hay đúng hơn, “THẦN THÔNG khi thành tựu, là do TỰ LỰC”. Và 2 chữ “TỰ LỰC” đóng vai “chủ yếu” ở đây, cũng nói lên sự tôn kính NGOẠI NĂNG, để không hoàn toàn phủ nhận “tha lực”. Và sở dĩ người học Phật luôn luôn xác minh “tính độc lập tu luyện”, không tùy thuộc vào “sức mạnh bên ngoài”, vì đó là chìa khóa hữu hiệu nhất, mở được cánh cửa giải thoát, một cách chắc chắn, không phản khoa học.
*Nghĩa là, chư tín hữu sống áp dụng Phật giáo, vẫn sáng suốt nghĩ rằng, “một người có đại nguyện, thực hiện ĐẦY ĐỦ CÔNG PHU THANH TỊNH để phá chấp (tức là triệt tiêu hạn chế, -hay pháp XẢ), thì luôn luôn được TAM BẢO (Tirataṇa) “hộ trì”. Tư tưởng nầy gián tiếp bày tỏ Ý NGHĨA của sự CỘNG HÀNH (tương tác). -Nói cách khác là “sự bình an của Phật tử tuy có liên quan mật thiết với ơn ích TAM BẢO, nhưng họ không tùy thuộc hoàn toàn vào “3 ngôi” PHẬT PHÁP TĂNG” ấy. Đối với họ “một Phật tử đúng nghĩa là hành đạo bất thối, chứ không phải quy y tam bảo rồi thụ động cầu xin”!
-Trong đoạn trên đây, chúng tôi “tô đậm” mấy chữ “phá chấp” và “triệt tiêu hạn chế” để ám chỉ “đó là yếu tố CÓ thần thông”. -Vì PHÁ CHẤP là “giải thoát tinh thần” ra khỏi tù ngục chủ quan thiên kiến. Còn TRIỆT TIÊU HẠN CHẾ là “giải thoát thể xác” ra khỏi mọi ngăn ngại vật chất (=tứ đại). Từ đó, người có thần thông hằng “sống tự tại an nhiên”. Những gì cần thiết cho TÍNH TỰ TẠI AN NHIÊN ấy, họ luôn luôn đạt được một cách dễ dàng (=Iddhi).
<>Theo thiền học, THẦN THÔNG (Abhiññā) là một “NĂNG LƯỢNG” (vijjubāla) cực mạnh, do “TÂM ĐỊNH” (ekaggatācitta-kicca) vận hành, xuyên qua ý chí thông thoáng của một người thanh tịnh. THẦN THÔNG có thể ví như SỨC NÓNG làm cho khối băng hay bể nước lớn bốc hơi và tan loãng vào không gian mênh mông, rồi trở thành “vô hình” trong “CHIỀU BIẾN”. Và ngược lại, THẦN THÔNG cũng chính là “ĐỘ LẠNH” sẽ làm cho “không khí” tích tụ lại trong “CHIỀU HIỆN” dưới dạng lỏng hay đặc (như nước hay băng tuyết).
-Tương tự như thế, trong “khoa học LÝ HÓA” (science de physique et de chimie) cũng có “2 vận hành” là TÍCH TỤ và PHÂN TÁN, mà người ta gọi là tiến trình “kết hợp” và “chia chẻ” (processus d’intègrer & de désintégrer). -Tức là NĂNG LƯỢNG vừa “triệt tiêu hạn chế vật chất” (xóa bỏ tình trạng hiện tại), vừa tiếp theo “tái lập vật chất hạn chế” hay “tái trở thành tình trạng cũ” một cách không trở ngại.
*Một bậc đã viên tròn ĐẠO HẠNH (Guṇadhammā=remplie de virtue cultivées) đầy đủ THẦN THÔNG (Abiññupasampadā), thường có thể dùng THIỀN LỰC (force de concentration spirituelle) để “phân thân” (se désintégrer) thành những “hạt ánh sáng” cực vi, và “tái hợp” hình thức cũ theo ý muốn. -Nói rộng ra…là THẦN THÔNG giúp “đạo sĩ qua sông không nhờ thuyền”, “đi nhanh không dùng tốc độ”, “cần chi thì NĂNG LƯỢNG THIỀN cung ứng vật ấy”, một cách thích ứng. -Xin nhấn mạnh là Thánh nhân thực hiện THẦN THÔNG, không hành động vì THAM SÂN SI mà vì một nhu cầu duy tác trong hoàn cảnh tự nhiên, để thiết lập bình an cho THÂN TÂM (tự lực) và cống hiến hộ trì cho kẻ hữu duyên khác (ám chỉ dạng tha lực).
*Khi kê khai bằng những cái tên qui ước, thoát dịch theo kinh điển Pāḷī nhà Phât, thì chúng ta có “6 loại thần thông” (Chalabbhiññā) :
1-TÚC MẠNG THÔNG (Pubbenivāsññāna) = Thanh tịnh biết rõ một số (nhiều hoặc ít) hay “tất cả” các kiếp trước, của chính mình và của những sinh linh khác.
2-THA TÂM THÔNG (Cutūpapāsaññāna) = Thanh tịnh và khách quan biết rõ “hiện tâm” hay “mình đang nghĩ gì”, và những chúng sanh xung quanh đang nghĩ gì. -Điều dễ lẫn lộn là “người phàm tục ai cũng tưởng mình biết mình nghĩ gì”, nhưng đó là “CÁI BIẾT”, hoàn toàn chủ quan do tham vọng (từ tưởng uẩn biểu lộ), -chứ không phải “tri thức hiện tâm” (citta) !
3-THIÊN NHÃN THÔNG (Dibbacakkhuviññāna) = Thanh tịnh thấy biết mọi đối tượng, hữu hình (rūpa) cũng như vô hình (arūpa), xa cũng như gần, thuận cũng như nghịch, lớn cũng như nhỏ, trong các chiều vũ trụ.
4-THIÊN NHĨ THÔNG (Dibbasotaviññāna) = Thanh tịnh nghe biết mọi âm thanh, xa cũng như gần, dễ chịu cũng như khó chịu. thân thiện cũng như thù nghịch, cao thượng lẫn thấp hèn….
5-LẬU TẬN THÔNG (Ᾱsavakkhayaññāna) = Thanh tịnh biết chắc mình không còn phiền não.
6-SẮC LỰC THÔNG (Rūpantaraparivattaraññāna) = Biết thanh tịnh biến hóa ra nhiều dạng thân thể có sức mạnh khác nhau, và tự do vượt mọi trở ngại hữu hình, cũng như xóa trọng lực.
<>Nói tóm lại, THẦN THÔNG là khả năng “vô hiệu hóa các đặc tánh của vật chất thô kệch và cụ thể”, Phật học gọi là “hiệu lực vượt qua sắc pháp hạn chế”, đạt tới VÔ SẮC THIỀN (Arūpajjhāna). -Các “đặc tánh” ấy gồm BIÊN GIỚI, HÌNH THỂ, SỨC NẶNG, chiều dài KHÔNG GIAN (khoảng cách), lẫn chiều dài THỜI GIAN (giây, phút, ngày, tháng, năm).
-Sự so sánh về “năng lượng của THIỀN” thì tất nhiên rất cao siêu thậm thâm khó hiểu, nhưng khi so sánh về “năng lượng của NGHIỆP” lại tương đối dễ nắm bắt. Chúng ta thử mượn cái giản dị để “suy qua” cái phức tạp. Ví như “năng lượng NGHIỆP” của con chim, có thể làm cho nó vỗ cánh nhiều lần trong một giây, để bay cao một cách dễ dàng, mà con người không thể làm được. -Tương tự như thế, “năng lượng NGHIỆP” (kammiddhi) của loài cá có thể giúp cho nó sống dưới nước thường xuyên, mà không bị chết ngộp.
-Từ đó suy ra, “năng lượng của BÁT-NHA” (Prajñiddhi) hay KHOA HỌC TỐI TÂN ngày nay cũng làm cho những khối kim loại nặng bao nhiêu tấn (=máy bay phản lực, hỏa tiễn liên hành tinh, phi thuyền), có thể di chuyển trong và ngoài bầu khí quyển, nối liền 2 điểm cách nhau hằng nhiều ngàn triệu cây số, một cách….bình thường !
-Các SỰ THẤT ấy nếu không tỷ giảo…xem là “đồng loại” với THẦN THÔNG, để “cắt nghĩa phần nào” cái bế tắc hữu hạn của chúng ta ngày hôm nay, thì “có thể hiểu chúng là cái gì ?!” -Trong PHẬT HỌC lẫn trong KHOA HỌC, mọi vấn đế đều dùng DUYÊN hay “PHƯƠNG TIỆN” (tức yếu tố ắc có và đủ=điều kiện) để tùy cách khai thông kia mà !
Nhưng lưu ý :
<>ẢO THUẬT trên sân khấu thì hoàn toàn khác, -xin chớ nhầm lẫn biểu diễn nầy với “thần thông”. -ẢO THUẬT vốn là “kỷ thuật tổ chức” CẢNH TƯỢNG, trong thị trường trước mắt của khán giả, -nghĩa là xuyên qua một góc độ “khúc xạ ánh sáng” nào đó, sự thật không còn nhìn thấy đúng, mà NÓ bị “che khuất” một cách khéo léo, làm cho người xem chỉ “thưởng thức” CÁI GIẢ. Và dĩ nhiên, ẢO THUẬT tuyệt đối không liên quan gì đến “thần thông”.
*Trái với ảo thuật, một phi thuyền đang bay trên không gian là một SƯ THẬT (Iddhisacca), vì người ta không thể nhìn xuyên qua bất cứ góc độ nào khác, để thấy nó vẫn nằm yên trên bệ phóng, mà thực tế là nó đang “tung mình” xé gió, di chuyển thẳng đứng trên bầu trời xanh thẳm, bỏ lại sau lưng tất cả các tầng mây thấp lẫn cao…với một tốc độ kinh khủng, và nó càng lúc càng xa dần mặt đất…mỗi lúc một “vượt qua giới hạn”, đến độ người ta phải dùng các con số, từ nhiều triệu cây số trở lên, và sau cùng phải tính bằng “năm ánh sáng” để diễn tả…. -Đây không phải là “ảo thuật”, mà là một SỰ THẬT. Chúng ta có thể xem “phi thuyền phóng đi giữa vũ trụ mênh mông” là “một thần thông”. -Ấy là THẦN THÔNG của KHOA HỌC (Vijjā), -hay THẦN THÔNG phát nguồn từ tiềm lực của phương diện ĐỊNH TÂM vượt ngăn ngại, hay TRÍ TUỆ, mà đạo Phật gọi là BÁT-NHÃ (Prajña) !
<>Vấn đề quá hiển nhiên ở đây, là nhờ TRÍ TUỆ mà các nhà bác học đã “tính toán” được những SỨC MẠNH NỐI TIẾP (forces relayeés de foncionnement) của “năng lượng ở dạng hữu biên” (rūpa) chuyển sang “năng lượng ở dạng vô biên” (=không có trọng lực=arūpa), mà Vi Diệu Pháp (abhidhammā) trong Phật học gọi là SẮC THÔ (Olārika rūpa) vận hành một cách “kỳ diệu” biến thành SẮC TẾ (Sukhuma rūpa) như thế nào. -Danh từ “NĂNG LƯỢNG” (énergie) trong đoạn văn nầy vẫn ám chỉ VẬT CHẤT (matière) !
-Chúng ta không tránh được tự hỏi “phải chăng đối với KHOA HỌC (Science=Vịjjā), cũng như đối với THIỀN HỌC trong PHẬT GIÁO (Bhāvanā), NĂNG LƯỢNG là phương tiện nòng cốt, để thực hiện những công trình tuyệt diệu, vượt khỏi khả năng nắm bắt bị hạn chế của giác quan con người ?!” -SỰ THẬT đó nếu không gọi “thần thông” thì có thể là gì ?!
-Trong KHOA HỌC, người ta dùng NHIỆT LỰC để “nâng” NĂNG LƯỢNG từ SẮC THÔ (ở dạng cơ thể, phân tử, nguyên tử, rồi hạt) lên SẮC TẾ (ở dạng điện tử, quang tử, rồi lượng tử). Còn trong nhà PHẬT thì người tu dùng THIỀN, để “biến” NĂNG LƯỢNG (thân tâm) từ “hữu biên” (rūpa) lên “vô biên” (arūpa) và thấm nhuần tiến xa hơn nữa, có thể “điều động” vạn pháp. Ngoài ra, còn có một nhóm từ khá “bí ẩn”, ám chỉ “nhân điện” trong sách Phật, gọi là “vô thượng tam muội hỏa ” (anuttara sammāsambhuddha), mà thỉnh thoảng chúng ta cũng được nghe, mô tả “nhiệt năng đại định” mà ít ai chú ý. -Lý do, vì kẻ phàm phu tâm tư thường phân tán, “bận rộn hưởng thụ” ngũ dục (hay chạy theo 5 đáp ứng vật chất), không biết gì đến trình độ tâm linh cao siêu (=tinh thần) !
*Đức Phật là vị “giáo chủ” DUY NHẤT trên thế gian, hằng thanh tịnh đề cao TRÍ BÁT-NHÃ của “CON NGƯỜI”. Dù cho phàm nhân, khi say mê hưởng thụ vật chất đã từng tối tăm một thời, nhưng khi tu thiền cực điểm đạt đến BÁT-NHÃ (Prajña) hay VĂN MINH THẦN TRÍ, tức là KHOA HỌC TÂM LINH (Vijjā), thì đó là “nguồn sáng tạo cao nhất trong ba cõi” (gồm trời, người, và đọa cảnh), KHÔNG CÓ “quyền năng” nào sánh bằng! -Theo VI DIỆU PHÁP nhà Phật (Buddhasāsansassabhidhamma), thì trong 52 tâm sở (cetasika) của một phàm nhân, chỉ có TUỆ CĂN (Paññiṅdriya) là tâm sở tuyệt vời, đa năng vô lượng nhất. Và đó chính là “nguồn gốc” của THẦN THÔNG (Abhiññā), biểu lộ qua KHOA HỌC (Vijjā) ngày nay vậy.
<>Trước giờ tại Việt nam và Trung hoa, có một lối tu luyện không ai tìm ra “xuất xứ”, mà thỉnh thoảng chúng ta còn được nghe nói đến…là “TIÊN ĐẠO” (chemin de sérénité). Trường phái nầy chủ trương “luyện TINH hóa KHÍ”, rồi“luyện KHÍ hóa THẦN”. -Phải chăng “kỷ thuật” ấy cũng “bắt nguồn” từ THIỀN HỌC trong đạo Phật (!?). -“Bắt nguồn hay không”, chưa được xác chứng, nhưng xét về mặt “vận hành”, chúng tôi nhận thấy “có chỗ tương đồng” với “thiền học”, nên vô tư trình bày ra đây, để quý độc giả rộng đường nghiên cứu !
*“Luyện TINH hóa KHÍ”. “luyện KHÍ hóa THẦN”.
-Chữ “TINH” hay “TINH TÚY” (quintessesence=yathāsabhāva) nói trên, phải chăng ám chỉ “kết quả viên mãn” của giai đoạn tu thiền từ “đề mục THÔ” (Olārika kammaṭṭhāna)chuyển sang “đề mục TẾ” (Sukhuma kammaṭṭhāna) -làm “nền tảng” cho “luyện TINH hóa KHÍ”?! Ví như “tinh anh” của NƯỚC (liquid) hay H2O, tương đương với HƠI (air), biến từ “nặng” (đa trọng lương) ra “nhẹ” (thiểu trọng lượng). -Và “luyện KHÍ hóa THẦN”, tức là “NƯỚC NGUYÊN CHẤT” có thể trở thành “dòng điện” hay NĂNG LƯỢNG (énergie=ussāha).
-Tuy nhất thời chúng ta chưa biết “nước nguyên chất” ở dạng “hơi” có thể làm nổ động cơ hay không, nhưng trong đà tiến hóa KHOA HỌC ngày nay, thỉnh thoảng các nhà khoa học vẫn “tiết lộ” với sự dè dặt rằng “ngày kia nước có thể sẽ là nguồn năng lượng, thay thế xăng dầu”.
-Ngoài ra, đọc sách “áp dụng” của Khổng Tử, chúng ta cũng thấy có sự hướng dẫn như sau, “cách vật, trí tri, thành ý, chánh tâm”…mô tả rằng, bình tĩnh quan sát (=CÁCH VẬT), biết theo soi sáng (=TRÍ TRI), thụ lý đầy đủ (THÀNH Ý), và chọn pháp hành đúng mục tiêu (CHÁNH TÂM). -“Hướng dẫn” nầy hiển nhiên có nội dung “tương đương” với đệ nhất và đệ nhị THIỀN trong đạo Phật, nói lên các pháp chuẩn bị (upacāra=cận hành) để tiếp theo đạt được “2 chi thiền” (Jhāna-aṅga) là TẦM (Vitakka) và TỨ (Vicāra).
-Xem ra, các tôn giáo ngoài đạo Phật, cũng có nhiều cách “LUYỆN THÂN TÂM” khác nhau, chẳng hạn như dạng thông thường nhất là “CHĂM CHÚ CẦU NGUYỆN”. -Rồi những “thu hoạch kỳ diệu” nếu “đạt được”, mà người ta gọi là “LINH ỨNG”…đều hầu hết tùy thuộc vào “định lực thân tâm” của “đương sự”. -Nghĩa là “LINH ỨNG” hay “PHÉP LẠ”, không thể nào xảy ra giữa lúc tâm tư con người phân tán, lang thang (phóng dật)…thèm khát hưởng thụ vật chất vô thường, đang liên tục biến thực tại ra thành trụ, hoại, không. -Điều nầy chứng minh rằng TÂM ĐỊNH (Ekaggatācitta) chính là nguồn gốc của THẦN THÔNG, hay nguồn gốc của SỨC MẠNH KHOA HỌC vậy. -Xin qui nạp :
Thần thông là KẾT QUẢ của vượt hạn chế thời gian (=tinh thần) và
Thần thông cũng là KẾT QUẢ của vượt hạn chế không gian (=vật chất).
*Diễn tả tiến trình “PHÁ HẠN CHẾ thời gian” và “PHÁ HẠN CHẾ không gian”, theo thiền học thì quả thật là một việc khá phức tạp. Nhưng dùng dụng cụ khoa học, để trình bày “TIẾN TRÌNH” ấy một cách “rút ngắn thời gian” theo TRÍ TUỆ (qua thực nghiệm), thì các khoa học gia đã từng làm…!
-Trong ngành canh nông, người ta há đã chẳng quay phim liên tục, từ lúc gieo một hạt ớt xuống đất có độ ẩm, cho đến khi nó nẩy mầm mọc ra cây ớt con. Rồi cây ớt con lớn dần với cành, lá, và hoa, để sau cùng trổ ra nhiều trái non trở thành già, với màu xanh từ từ hóa đỏ… Chúng ta không phải là kỹ sư canh nông chuyên nghiệp, nên không thể nêu chính xác toàn bộ thời gian là bao nhiêu, nhưng tạm phỏng chừng trên dưới 1 tháng, cho việc trồng ớt và hái ớt….
-Sau đó chuyên viên điện ảnh cắt ráp phim đã quay, và chỉ “chiếu nhanh” lại TIẾN TRÌNH biến hóa từ hạt ớt đến trái ớt chín. Sự chiếu lại tiến trình trồng ớt và thu hoạch chỉ mất 30 phút, thay vì cả tháng. Việc làm ấy chẳng “biểu lộ THẦN THÔNG” (vượt thời gian) là gì ?!
<>Là một tín đồ đạo Phật, chúng ta không thể quên 2 phẩm tính là “thận trọng” và “khách quan”. Nhưng BÁT-NHÃ trong nhà Phật và KHOA HỌC của văn minh nhân loại ngày nay, đã “gặp nhau một cách xác minh” và khả thi trong thế kỷ 20, rằng “vượt thời gian và không gian là một điều TÂM ĐẠI ĐỊNH có thể”, khiến cho chúng ta chẳng ngần ngại “xác nhận” THẦN THÔNG.
-Và như câu nói của tiền nhân trong MINH TRIẾT Phương ĐÔNG,“nhất sự suy vạn sự”. Chỉ một “trường hợp hạt ớt và cây ớt”, người có trí và chánh kiến có thể “soi sáng” nhiều lãnh vực khác. -Nhưng điều đáng tiếc là KHOA HỌC TÂN TIẾN ngày nay, không thấy nêu ra phương pháp “hóa giải” LÒNG THAM, tức là “vượt hạn chế” (không gian và thời gian) như đạo Phật, để THẦN THÔNG CƠ KHÍ không bị lạm dụng, trở thành có hại hơn là có lợi, và để Phật giáo không bị “hiểu lầm”, bát-nhã không bị “xuống cấp” lẫn bị coi thường !
<>Chung qui tất cả nằm trong tinh thần THIỀN TÂM BẤT LOẠN :
CHÁNH ĐỊNH vô điều kiện, thì luôn luôn có thần thông,
CHÁNH ĐỊNH tùy duyên, thì thần thông khi có khi không !
*Vì “NỀN TẢNG” (Pādaka) của THẦN THÔNG (Abhiññā) là THIỀN LỰC (Jhāna bāla), nên chúng tôi đề nghị quí vị hãy xem lại bài số 7 “Liên quan đến Thiền Pháp” (nếu cần mời đọc lại nhiều lần các “đoạn bản lề”, nhấn mạnh TÂM XẢ (Upekkhā cetasika) là “TRỤ CỘT”, để sự “THĂNG HOA” (Pariṇāma) không bị “loãng”. -Từ đó quí vị có thể chú ý vào cái TIẾN TRÌNH gọi là “thiền tâm chuyển từ hữu sắc qua vô sắc”, hay gọi là “thiền tâm chuyển từ hữu hạn qua vô hạn” một cách “thích ứng”. Đây là “dấu mốc chính” mà THẦN THÔNG trở thành CÓ THỂ (=possible). -Nếu không có “TIẾN TRÌNH” nầy, sự “tinh tấn hành thiền” chỉ giúp cho người tu, sau khi chết sẽ “tự thăng tiến” lên cõi cao, Phật học gọi là “trời dục giới” (kāmadevāloka) hay tái sinh làm người đẹp đẽ, có giác quan tinh anh đầy đủ, và chắc chắn không bị đọa xuống 4 loại chúng sinh thấp.
*Tuy nhiên, khi chưa đạt “tâm toàn xã”, người tu thiền nếu tương đối thuần thục, thỉnh thoảng cũng “đạt được thần thông”, nhưng “thu hoạch” đó vốn không bền vững, lắm lúc còn phản tác dụng là đàng khác, -như đã nói trên đây. -Bây giờ xin nhắc lại một lần nữa :
-CHÁNH ĐỊNH VÔ ĐIỀU KIỆN, thì thần thông có thường trực,
–CHÁNH ĐỊNH TÙY DUYÊN, thì thần thông khi có khi không !
*Danh từ CHÁNH ĐỊNH còn nói lên khả năng “TOÀN ĐỊNH” của bậc đạt Thân Tâm Thanh Tịnh. Chữ “sammā” trong cổ ngữ Pāḷī thời đức Phật, ngoài cái nghĩa là “lành mạnh” (=chân chánh), cũng ám chỉ vài phẩm cách khác, như “tất cả tiến hóa” hay “toàn bộ an trú”. Đó cũng là lý do các cao tăng đắc đạo xưa nay, thường dịch “Sammā Sambuddha” là Phật Toàn Giác, hay Chánh Đẳng Chánh Giác vậy.
-“TOÀN ĐỊNH” (Sabbekaggatā) ở đây tức là “xả ly mọi mặt, tự tại luôn với cả công phu cực điểm của chính người tu”. -Ở “trình độ” nầy, “thiền nhân” không vướng mắc bất cứ THÀNH QUẢ “tự lực” hay “tha lực” nào khác, và từ đó đạt CỨU ĐỘ một cách thanh tịnh. Ấy chính là cốt lõi của THẦN THÔNG (Abhiññā). -Còn qua cái nhìn của “bát-nhã” (Prajña), thì THẦN THÔNG là “khắc tinh của mê tín”, -một “thế lực” chủ trương lôi kéo chúng sanh vào lục đạo luân hồi. -Hay các thế lực ngu dân cõi người, thì luôn luôn đối nghịch với TĨNH TÂM, rồi họ tìm cách bóp méo…xuyên tạc THẦN THÔNG !
<>Nhắc lại rằng…Chánh Định (Sammā samādhi) là chi thứ tám (atthamaṅga) thuộc BÁT CHÁNH ĐẠO (Atthaṅgika magga), -một “cô đọng căn bản” của toàn bộ pháp tu TRUNG TRỰC (Majhima-paṭipadā) của nhà Phật, gồm 1/chánh kiến, 2/chánh tư duy, 3/chánh ngữ, 4/chánh nghiệp, 5/chánh mạng, 6/chánh tinh tấn, 7/chánh niệm, và 8/chánh định.
<>Và để tăng cường HIỆU LỰC GIẢI THOÁT của CHÁNH ĐỊNH (Sàmmā samādhi) với TÂM THIỀN TOÀN XẢ của các bậc đại phạm hạnh, kinh sách đã tiết lộ rằng…thời Phật còn tại thế, có nhiều lần ngoại đạo đến tu viện Phật giáo, thách thức “đấu THẦN THÔNG” với Phật gia. Nhưng đáp lại, chư đệ tử Phật đã thản nhiên, vui vẻ, im lặng, không tranh luận, không nhận lời so tài…để tiếp theo “bị” xem là “sợ thua, né tránh”. -Ngoại trừ vài trường hợp đặc biệt ! -Rồi trước “phê phán” của thế gian, có thể THUẬN hay NGHỊCH nhà Phật không quan tâm, -vì điều chắc chắc là “Tăng đoàn Phật giáo” tránh được tình trạng «kẻ thua người thắng», nguyên nhân của mất hòa khí !
-Ngoài ra, trên một phương diện khác, SỨC MẠNH của tinh thần đôi khi cũng có thể được «chứng kiến» một cách cụ thể. -Xin kể giai thoại sau đây :
*Lúc còn học đạo tại Viện Phật học Nalanda (Ấn-độ), vào những năm giữa thập niên 1960, mỗi cuối tuần chúng tôi thường đến Bodhgaya (Bồ-đề Đạo tràng, thị trấn Gaya, tiểu bang Bihar), để lễ bái tháp ĐẠI GÍAC. Nalanda tuy không cách quá xa, nhưng cũng chẳng gần. Và để khỏi vội vã, chúng tôi thỉnh thoảng ở lại chỗ hành hương một đêm. Nơi chúng tôi tạm ngụ là ngôi chùa Đài-loan. Ngôi chùa nầy nằm «sát vách» ngôi chùa «đại lục». Bên chùa Đài-loan yên tịnh bao nhiêu thì bên chùa “đại lục” ồn ào bấy nhiêu.
-Điều làm cho chúng tôi nhớ mãi như «kỷ niệm đặc biệt» không phải là sự yên tĩnh hay ồn ào, mà là “Sư trưởng” chùa Đài-loan kể một câu chuyện, như sau :
«Tại Đài-loan vào năm X, một buổi tối, thầy trụ trì và 2 đệ tử bỗng nghe tiếng cầu cứu thống thiết, từ trong bụi tre gai lớn…bên hông chùa. Cả ba vị liền lấy đèn lồng rọi xem ai kẹt trong đó. Họ thấy một người không biết tại sao lại «ngồi co rúm” giữa bụi gai, nhúc nhích rất khó khăn, chắc chắn là sợ bị gai đâm. Nạn nhân tiếp tục cầu xin “Sư phụ, cứu con !”.
Thầy trụ trì hỏi :
-Người chui vào trong đó được, mà bây giờ tại sao không ra nổi ?!
-Khi bị kẻ thù truy sát thì con phóng đại vô đây, nhưng bây giờ muốn ra…thì không thể được, chỉ vài phân thôi, con cũng chẳng dám nhúc nhích, xin sư phụ từ bi cứu giúp !
Chợt thầy trụ trì thấy phía trước có ánh «đèn pin» rất sáng, hướng về cổng chùa…Và tiếng nói từ chỗ ấy vọng lại nghe rất rõ, thầy biết ngay ấy là nhóm người thù địch của kẻ đang lẫn trốn trong bụi tre gai…. Thầy trụ trì liền nói với 2 đệ tử :
-Các con hãy lấy đao khí nhanh tay chặt gai, cứu người ra. Thầy ra cổng chùa xem chuyện gì !
Nghe sư phụ dạy, 2 đệ tử vội vào trong lấy dụng cụ ra liền, nhưng trong lúc đang phân vân, chưa biết bắt đầu từ phía nào cho tiện…thì bất thần người ngồi trong bụi gai, sau khi nghe lời thầy trụ trì…bỗng hoảng hốt, bất kể gai nhọn đâm tứ phía, vội nằm sát mặt đất…bỏ nhanh ra ngoài…một cách khẩn cấp !
-Hóa ra cái tin “kẻ thù quay lại”, đã làm cho y “tự cứu”, mà không chờ ai giúp đỡ ! Còn hai nhà sư chưa ra tay “làm điều thiện” thì đã “xong việc”. Họ bèn đưa “nạn nhân” vào hậu phòng, tẩy trùng các chỗ bị gai đâm chảy máu…!
*Và ngoài kia…không biết thầy trụ trì đã khéo léo “đối đáp” như thế nào, những kẻ “tầm thù” sau đó bỏ đi mất. -Thế là nạn nhân thoát nguy. Và hàm ý câu chuyện…được Sư trưởng kết luận cho chúng tôi nghe rằng :
<>TINH THẦN và SỰ TẬP TRUNG Ý CHÍ của con người CÓ SỨC MẠNH THẦN KỲ, «cùng một việc mà trước đó chẳng bao lâu, họ đã không làm được, phải cầu cứu xung quanh. Nhưng vài phút sau “có yếu tố thúc đẩy”, cũng chính kẻ ấy lại tự thoát nguy dễ dàng». -«Năng lực kỳ lạ kia từ đâu ra ?!». -Nếu ấy không phải do «hội tụ sức mạnh tinh thần», thì chẳng có động cơ nào khác !?
-Tương tự trường hợp một phụ nữ, bình thường không nhảy xa được chiều dài 2 thước, thế mà khi bị rắn dữ rượt phía sau, thì có thể phóng qua một con rạch 2 thước, dễ dàng…nhanh như mũi tên bắn. -Đây chỉ là vài câu chuyện tầm thường, không mang ý nghĩa rèn luyện, không liên quan đến «thiền lực», nhưng nó vẫn gián tiếp nói lên «sức mạnh» tinh thần…một cách cụ thể, -huống chi là NĂNG LƯỢNG của THIỀN ?!
<>Chúng ta cần luôn luôn đừng quên rằng, THẦN THÔNG (Abhiññā) là kết quả độc đáo của THIỀN, hay của HỘI TỤ NHÂN ĐIỆN nơi thân tâm. Nó phải là kết quả của sự tu luyện đến nơi đến chốn, một cách toàn xả, không làm nô lệ cho danh vọng, kể cả các THÀNH CÔNG SIÊU ĐẢNG thuộc về THIỀN của chính người tu, -Ấy là phép mầu của KHÔNG VỤ LỢI !
*Theo «biến hóa sắc pháp» trong nhà Phật, một người dù đã từng đạt thanh tịnh, nhưng vì một lý do ngoại cảnh (=vô minh) nào đó mà phát sinh THAM DỤC, thì lúc ấy “tim đập bất thường” và “máu huyết trong người đương sự bị xáo trộn» liền trở thành “vẩn đục”. Những “phẩm cách thanh tịnh” đã có trước đó của họ, không tránh khỏi «xuống cấp».
-Đó là một «thụt lùi rất lớn» trong việc tu hành. Nhưng người noi gương Phật thì luôn luôn nhẫn nại, không vì tình trạng ấy mà nản chí bỏ cuộc. Họ sẵn sàng chấp nhận “xuống cấp” và “vui vẻ lên đường”, đặc biệt là NIỆM THÂN và NIỆM THỌ, theo thiền TỨ NIỆM XỨ (Catu saṭipatthāna)…cho đến khi vượt qua mọi trở ngại. -Áp dụng pháp NHẪN NẠI ba-la-mật (Khantī-pāramī) là một trong những “tái lập công phu” !
<>Xin nói qua «BA-LA-MẬT» (Pāramitā dhammā) một chút. Ba-la-mật là «nền tảng» của đạo quả giải thoát. Không một người phàm nào (puthujjana) trở thành “Thánh Nhân” (ariya) mà chưa tròn đủ BA-LA-MẬT. Ngoài ra, «BA-LA-MẬT» cũng là “yếu tố công đức” của THẦN THÔNG (Abhiññā). Viên dung ba-la-mật (paramattha-pāramī) là “giải ách”, hay “ĐỘ NẠN”, có thể xem tương đương với thần thông, trong kiếp sống vui ít khổ nhiều nầy.
-«Ba-la-mật» gồm 10 phẩm cách (gọi là THẬP ĐỘ=Dasa pāramī), nói theo Phật giáo Nam truyền (Theravāda). Và gồm 6 phẩm cách (gọi là LỤC ĐỘ=Cha pāramī), nói theo Phật giáo Bắc truyền (Mahāyana).
*Đối với đạo Phật, nhân vật có THẦN THÔNG là nhân vật đã đầy đủ Ba-la-mật để «bảo vệ chính mình» KHỎI SA ĐỌA, cũng như “bảo vệ chúng sanh” KHỎI KHỔ ÁCH CỘNG NGHIỆP, trong đó, TRÍ ĐỘ tức BÁT-NHÃ (Paññā pāramitā) là “NỘI LỰC” duy nhất. -Khi người HỌC PHẬT đã thấy rõ phẩm cách siêu việt và hiệu năng phi thường của TRÍ ĐỘ như thế, thì họ biết chắc rằng «không có điều gì THẦN THÔNG không thể làm được». -TRÍ ĐỘ (Prajña pāramitā) ở đây không phải là tư duy lý luận, mà là kết tinh của thực hành đại xả định, đã tích tụ từ bao nhiêu vòng tử sinh tu luyện. TRÍ ĐỘ là một trong mười, hay một trong sáu TUYỆT PHÁP (Abhidhammā), soi sáng và hổ trợ cho những CỨU ĐỘ còn lại.
*Theo Phật giáo Nam truyền (Theravāda) thì THẬP ĐỘ gồm 1/bố thí (dāna), 2/trì giới (sīla), 3/xuất gia (nekkhamma), 4/trí tuệ (paññā), 5/tinh tấn (viriya), 6/nhẫn nại (khantī), 7/chân thật (sacca), 8/quyết định (adiṭṭhāna), 9/bác ái (mettā), và 10/xả (upekkhā). -Mỗi pháp độ có 3 hạnh tu là a/«còn duy trì thân xác», b/«hy sinh một phần thân giác», và c/«xả bỏ sinh mạng».
*Còn theo Phật giáo Bắc truyền (Mahāyana) thì LỤC ĐỘ gồm 1/bố thí, 2/trì giới, 3/nhẫn nhục, 4/tinh tấn, 5/thiền định, 6/trí tuệ. Mỗi pháp độ có lẽ cũng có 3 hạnh tu như trên. -Quí vị nào muốn biết rõ “đó là những hạnh tu gì”, kính mời quí vị nghiên cứu vào “kinh điển chữ Hán”. -Vì loạt bài nầy chỉ căn cứ vào kinh điển Pāḷī, nên cần nói rõ như vậy, để tránh “ôm đồm”.
-Và dưới đây là 3 hạnh tu của 2 PHÁP BA-LA-MẬT đầu tiên trong THẬP ĐỘ (Dasa pāramī), là BỐ THÍ (dāna) và TRÌ GIỚI (sīḷa) để làm “mẫu”. Các pháp độ còn lại cũng như thế.
Ba hạnh BỐ THÍ ba-la-mật :
a/BỐ THÍ còn duy trì thân xác (Dāna pāramī) là Bồ-tát (Bodhisattva) cho tất cả của cải ngoại thân, như ngai vàng, châu báu, giang sơn, vợ con, danh dự, thân tộc…v…v…
c/BỐ THÍ hy sinh tính mạng (Dāna paramattha pāramī) là Bồ-tát (Bodhisattva) cho hết trong ngoài toàn thân, kể cả quả tim, tức là mạng sống…vì trước khi thành Phật Ngài cần viên tròn BỐ THÍ ĐẠI HẠNH ba-la-mật.
Ba hạnh TRÌ GIỚI ba-la-mật :
a/TRÌ GIỚI trong giới hạn (Sīla pāramī), nghĩa là vì TRÌ GIỚI mà mất hết của cải ngoại thân, như ngai vàng, châu báu, giang sơn, vợ con, danh dự, thân tộc…v…v…Bồ-tát vẫn trì giới.
b/TRÌ GIỚI vượt giới hạn (Sīla upapāramī), nghĩa là vì TRÌ GIỚI mà Bồ-tát (Bodhisattva) chẳng những mất hết của cải ngoại thân, như ngai vàng, châu báu, giang sơn, vợ con, danh dự, thân tộc…v…v… mà Ngài còn mất luôn một phần cơ thể, như bị móc mắt, xẻo tai, cắt mũi, moi gan, cướp nội tạng, chặt cụt tay chân, và các thứ khác…nhưng Bồ-tát vẫn trì giới.
c/TRÌ GIỚI xả bỏ tính mạng (Sīla upapāramī), nghĩa là vì TRÌ GIỚI mà Bồ-tát hy sinh tất cả, bao gồm sinh mạng… Ngài vẫn không lùi bước. Vì như thế Bồ-tát mới viên tròn TRÌ GIỚI ĐỘ (Sīḷa pārami), để thành Phật (Buddha).
<>Xin nhấn mạnh rằng, BA-LA-MẬT (Pāramitā) là «công phu nền tảng để tận trừ chấp ngã, chấm dứt sinh tử», nhưng BA-LA-MẬT không bắt buộc là “điều kiện cố định để phát sinh thần thông”. Do đó trong đạo Phật, có nhiều Thánh nhân (Ariya puggala) tuy đã hoàn toàn tiêu trừ phiền não, bết bị sinh tử luân hồi, mà vẫn không có thần thông.
-CÂU HỎI được đặt ra ở đây, là “chư thánh vô thần thông ấy nếu rơi và hoàn cảnh nguy hiểm, thì ra sao ?!” -VẤN ĐỀ nầy có liên quan đến TỰ LỰC và THA LỰC, thuộc về «biệt nghiệp » và «cộng nghiệp» trong kiếp sống chót đó.
*Như trên đã nói, không cõi luân hồi nào chỉ có 1 CHÚNG SANH duy nhất, mà sự thật phải gồm 2 sinh linh trở lên. Từ đó, CỘNG NGHIỆP là một vận hành tự nhiên lẫn tương tác. Và «duyên lành » giữa TƯ LỰC và THA LỰC cũng vì thế mà phát sinh. Nghĩa là «thánh nhân khi gặp khó khăn vẫn được tha lực hộ trì». -Minh triết Phương Đông há đã chẳng có 2 câu :
“ĐẠO CAO LONG HỔ PHỤC. ĐỨC TRỌNG QUỶ THẦN KINH”.
<>Nội dung 2 câu trên được xác chứng, xuyên qua câu chuyện “Thánh Tăng mù lòa” tên Cakkhupāla, trên con đường trở về chùa Kỳ Viên (thành Xá-vệ) thăm Phật, sau mùa an cư kiết hạ. Người đã lạc đường giữa rừng sâu …và một “Thiên tử” ở cõi cao, vì kinh cảm đức hạnh, đã vội giáng trần hóa thành thương nhân, để đồng hành cứu giúp. Điều ly kỳ là khoảng cách từ chỗ “Thiên tử” gặp Thánh tăng mù lòa đến Kỳ viên tự rất xa. Nhưng cả hai chỉ đi trong chốc lát thì tới. Và ai cũng thấy Thánh tăng về đến chùa một mình (không người nào bên cạnh).
*Chuyện ấy về sau được nhắc đến, người ta cho là Thánh tăng về chùa Kỳ-viên (Jetavana vhihāra) nhanh như vậy là nhờ “thần thông”. Chỉ có Thánh tăng tự biết Ngài đã không làm như thế ! -Hóa ra, trong lãnh vực ĐẠO ĐỨC CAO DÀY, “thần thông”, “tha lực”, và “tự lực” là một “bộ ba” tương quan kỳ diệu (Abhisaṅkhārā).
<>Nói một cách đầy đủ hơn rằng, khi kết quả lưu lai từ kiếp trước của tội hay phước tiền khiên xa xưa không theo kịp…đồng thời hoàn cảnh hiện tiền cũng hội đủ 3 phẩm tính là GIỚI HẠNH, ĐỨC DÀY, và HỢP DUYÊN, thì sự “CHE CHỞ” (ārakkhā) gọi là “thần thông” (abhiññā) cũng tự nhiên được biệt nghiệp tương ứng với cộng nghiệp phát tác…!
QUI NẠP SAU CÙNG :
*THẦN THÔNG (Abhiññā) là “biến hóa tuyệt diệu” của năng lượng TÂM LINH (uyyāma-māṇasika), khi đã an trú thuần thục trong “tứ đại siêu việt” (catu mahābhūta) thuộc thân hành. THẦN THÔNG trong đạo Phật là “pháp xuất thế” (lokuttaradhamma) của cực định (abhi-ekaggatā) và bát-nhã (prajña). Và vì THẦN THÔNG vốn là “toàn xả” (sabbupekkhā), nên NÓ nằm trong lẫn ngoài vật chất (rūpa=matière), tức là vượt qua HỮU HẠN lẫn VÔ HẠN.
*Từ đó, Thánh nhân luôn luôn xử dụng THẦN THÔNG (Abhiññā) một cách duy tác (kiriya), do các Ngài không còn bị chi phối bởi THAM SÂN SI. Mỗi khi các Ngài cứu độ ai, là một trường hợp hữu duyên và lòng từ bi phát tác, chứ chẳng vì lý do ưu ái chật hẹp nào khác. THẦN THÔNG của Phật và chư Thánh là năng lực TỰ NHIÊN (Nesaggiya), chẳng liên hệ gì đến THƯỜNG (niccā) hay VÔ THƯỜNG (aniccā).
*Vả lại trong THẦN THÔNG có sự linh chiếu của nguồn sáng BÁT-NHÃ, nên THẦN THÔNG có thể ví như đại dương, chứa vô số những làn sóng khoa học. Làn sóng sau sinh ra từ làn sóng trước, và nó làm thăng hoa làn sóng trước. -Người tin tưởng vào KHOA HỌC mà “bài bác” THẦN THÔNG quả thật là một điều đáng tiếc. -Chẳng khác chi kẻ đang sống nhờ khả năng sáng chế, đồng thời phủ nhận trí tuệ.
*Sự NGHỊCH LÝ trên đây phải chăng bắt nguồn từ sự THIẾU HIỂU BIẾT về THẦN THÔNG một cách thanh tịnh, theo thiền học (!?), -nhất là trước dụng tâm của chương trình học đường ngày nay. Người ta chỉ chăm chú “đào tạo khối hiểu biết…phục vụ cho THAM VỌNG”, để “thỏa mãn tật hưởng thụ, nuôi dưỡng tính ích kỷ bản ngã”!
<>Đáng tiếc thay là “TRÍ BÁT-NHÔ trong đạo Phật, có thể mang lại sự văn minh lâu dài cho nhân loại bao nhiêu, thì “TRÍ THỨC” của thế gian chỉ có thể mang đến tiến bộ hữu hạn bấy nhiêu. -Nhưng con người đã thiếu thanh tịnh, không “đánh giá” ĐÚNG !
-E rằng một ngày kia, chính vì tình trạng thiên lệch ấy…mà nền khoa học “LÝ HÓA TỐI TÂN” của con người hiện đại sẽ bị phá hủy !
Cư sĩ Tuệ Lạc (NĐ)
(Ghi lại tri kiến…phát sinh nhờ CHỈ QUÁN trong mùa «tịnh thất»).
-Paris ngày 3/12/2021.