BẢN SẮC KHOA HỌC  Trong Phật giáo Bài 7

*Liên quan đến “THIỀN PHÁP”.

(Bhāvanā dhammā).

<>“THIỀN PHÁP” (Bhāvanā-dhammā) trong Phật giáo, là một “KỸ THUẬT” (technique, tiếng Pāḷī “kalāviññāṇa”) làm cho TÂM THỨC (Cittaviññāna) con người trở nên ĐỊNH TỈNH (Santi), THANH TỊNH (Visuddhi), và AN TRÚ (Appanā). -Giáo sĩ Descartes, một triết gia và là nhà toán học lỗi lạc người Pháp (vào thế kỷ 17), đã nói “Je pense, donc je suis”, -tạm dịch “tôi sống vì tôi suy nghĩ”, nghĩa là “tôi có tâm thức LUÔN hoạt động”, – Danh từ “TÂM THỨC” (Citta) ở đây, ai muốn gọi tên là gì cũng được (-chẳng hạn như “thức tánh”,“linh hồn”, hay “tinh thần”…) miễn là để ám chỉ “phần vô hình kỳ diệu” trong mỗi con người, đang biết rằng “mình hiện hữu”. -Còn tên đặt hay từ ngữ chỉ là “phương tiện” !

-Một “thân người” đang sống mà không biết suy nghĩ thì chẳng phải là sinh vật, -hay ấy chỉ là cái xác chết, hình nộm ?! -Và xin đừng vội kết luận….trước những người bệnh bại liệt, không thể nói chuyện, cũng như không thể biểu lộ ý muốn được, vì lý do HỆ THẦN KINH bị “bế tắc”. Từ đó suy ra…-suy nghĩ là “vận hành tự nhiên”…, -và suy nghĩ là sự sống…, –suy nghĩ là tồn tại, hay suy nghĩ là CON NGƯỜI….! -Ngay cả trong những giây phút “BẤT TỈNH” (mất cảm giác), bộc óc vẫn “âm thầm làm việc”, -SUY NGHĨ dưới một dạng khác !

-Y HỌC tân tiến ngày nay đã cho chúng ta biết rằng, “trong những người bại liệt, NÃO BỘ một phần hệ thần kinh, vẫn hoạt động”. Nghĩa là họ vẫn “suy nghĩ” nhưng “nó làm việc” trong một “diễn tiến khác”, chúng ta không thể nhìn thấy bằng “đôi mắt thịt” được. -Và khác hẳn với kết luận của những “triết gia”, các bác sĩ chuyên khoa thần kinh tiết lộ “những người bại liệt 1 phần não bộ vẫn suy nghĩ”. Họ biết được chuyện đó nhờ “kiến thức khoa sinh học”. Vì thế, họ không ngừng nghiên cứu, sáng tạo ra một loại máy điện tử, có thể “đọc được những ý nghĩ” của các bệnh nhân bại liệt thần kinh nặng, đến độ không thể phát âm, hay dùng “dấu hiệu”.

<>Tóm lại, “SUY NGHĨ” trong con người là một điều PHẢI CÓ, không thể phủ nhận. Và đó là “ĐỘNG CƠ” của bài viết khiêm nhượng kỳ nầy.

-Câu hỏi có thể đặt ra là, “nếu não bộhệ thần kinh đóng vai trò điều khiển sinh hoạt toàn thân, thì cái gì điều khiển não bộ (-hay chúng làm việc xoay vòng với quả tim?)”. -Hoặc phải chăng não bộ điều khiển chính nó ? -Trường hợp “não bộ tê liệt” mà “quả tim còn đập” thêm một thời gian nữa thì sao ? –“Hỏi đáp” chẳng có “hồi kết” !Khi không có “hồi kết”, nghĩa là không có lối thoát thì người ta thường thốt ra 2 tiếng “huyền bí”!

-“HUYỀN BÍ” ám chỉ “có hiện tượng” (=QUẢ), mà không có “nguồn gốc” hay NGUYÊN NHÂN ! –“Khoa học duy vật” tìm mãi nhưng không tìm ra “cơ quan nào” là “cấp trên” của NÃO BỘ hay của QUẢ TIM…trong thân thể con người !?

<>Xem ra…muốn biết TÂM THỨC (Citta) hay TINH THẦN (Maṇo) nhân sinh…chúng ta chẳng còn cách nào khác, hơn là phải đi vào KHOA HỌC TÂM THỨC (viññāna-vijjā), vì lãnh vực nầy của nhà Phật không tách rời việc nghiên cứu (=quan sát) thân thể con người (rūpa-vịjjā). Chúng ta càng không thể hoàn toàn trông cập vàoKHOA HỌC VẬT CHẤT, -dù cho VĂN MINH HƯỞNG THỤ ngày nay có tiến xa đến đâu !

<>Theo VI DIỆU PHÁP (Abhidhamma) nhà Phật, NGHIỆP (kamma) của TÂM THỨC (Cittaviññāna) trong con người, có “2 tính tự nhiên” (kiccakamma), là VỌNG ĐỘNG (Uddhacca) và YÊN TĨNH (Upasama), tạm cho là tương đương với “làm việc và “nghỉ ngơi”. Nhà Phật gọi “làm việc” là “HƯỚNG CẢNH” (sambhava), và “nghỉ ngơi” là “AN PHẦN” (santi-bhavaṅga). “Hướng cảnh” thì “TIÊU HAO NHIỀU năng lượng”. “An phần” thì “TIÊU HAOÍT năng lượng”. -“TIÊU HAO NHIỀU” ở đây có nghĩa là “không thể thu hồi”!

-Kiếp sống (Jīva) dài (dīgha) hay ngắn (rasa), và sức khỏe (ārogya) tốt hay xấu của một người…tùy thuộc vào độ “tiêu hao nặng lượng” nầy !

*Nhưng theo THIỀN HỌC trong đạo Phật, “khi tâm AN TRỤ một cách thuần thục” (appanā), thì NÓ trở thành NHẸ NHÀNG (Passaddhi hay tự tại). -Số năng lượng đã dùng trong THIỀN, “tự nó biến ranăng lượng mới một cách kỳ diệu gia tăng, tùy theo định lực của “tâm thiền”.  Ngược lại, “khi tâm VỌNG CẢNH một cách lang thang” hay “PHÓNG DẬT” (uddhacca, tan loãng), thì số năng lượng đã tiêu hao trong PHÓNG DẬT, sẽ “tự hủy” và kéo theo sự “bất ổn” khối năng lượng còn lại…một cách nguy hiểm. Và tùy theo thời gian phóng dật (uddhacca) dài hay ngắn, mà “bình nhân điện” sẽ cạn “hơi”.

<>“Vật chất” và “tinh thần” là 2 thực tại khác nhau ở chỗ “hữu hình” và “vô hình”, nhưng “sự vận chuyển” của hai bên lại “vừa CHUNG từ trường vừa RIÊNG từ trường”, tuy cả 2 đều cần đến năng lượng…có thể tạm trình bày, như sau :

=>Khi thân thể yếu đuối, bạc nhược, thì con người cần phải bồi bổ thân thể bằng thực phẩm tươi tốt, tinh khiết. Và nếu dùng đồ ăn uống cũ kỹ, ung thối, chứa nhiều hóa chất độc hại, thì sau khi hấp thụ, bệnh hoạn trong thân sẽ xảy ra nhiều hơn trước….có thể chết.

=>Khi tinh thần suy sụp, đen tối…mất thăng bằng…thì dù cho năng lượng phát sinh từ thực phẩm có tươi tốt đến đâu, cũng không đủ yếu tố tái lập quân bình cho NÓ, mà chỉ có THIỀN mới là giải pháp hữu hiệu. -Và nếu mê tín dị đoan, dùng “pháp liệu” (định tâm) phản khoa học, thì kết quả sẽ còn tệ hơn nữa.

-Lý do ? -Vì THIỀN ở đây ám chỉ CHÁNH THIỀN (Sammā bhāvanā), một khoa học “tâm linh” chứa đủ “8 pháp soi sáng”, là chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm chánh định, để phục hồi. “sức khỏe tâm thức”.

*Xin nhắc lại rằng, THIỀN trong Phật giáo không phải là một “huyền thuật”, phát xuất từ “thần thoại”, mà là một KHOA HỌC bảo dưỡng thân tâm (nāmarūpa saṃrakkhanassa vijjā), phát xuất từ TÂM TRÍ THANH TỊNH, một đặc sắc của BÁT-NHÃ (Prajña). -Hành giả nào càng thành công trong CHÁNH THIỀN (Sammā damādhi) thì thân thể càng khinh an khỏe mạnh, tư duy càng anh minh sáng tạo.

-Rồi nếu đi sâu vào THIỀN HỌC, thì chúng ta thấy : -AN TRÚ (Appanā) là trình độ “tâm trụ vững” nơi “một đề mục” (kammaṭṭhāna), hay còn gọi là “thiền định” (samatha). -“PHÓNG DẬT” hay “VỌNG TƯỞNG” (Uddhacca), là tình trạng “tâm lang thang”, trôi giạt theo nhiều đối tượng khác nhau, một cách rời rạc mất định hướng. -Nguy hiểm nhất, là đa số các đối tượng đó của tâm lang thang, đều không lành mạnh (như hình ảnh giàu sang, quyền lực, hưởng thụ dục lạc) có đặc tính lôi kéo tâm tư con người, vướng mắc vào các ngõ cụt…rồi bị nhận chìm bởi THAM (lobha), SÂN (dosa), SI (moha).

*Mỗi lần “PHÓNG DẬT” (uddhacca) hay vọng tưởng… thì TÂM không tránh khỏi các cảm thọ BUỒN, LO, SỢ, GIẬN, GHÉT, THƯƠNG căng thẳng…làm cho “năng lượng sống” trong thân thể bị phung phí vô ích, khiến cho tinh thần trở thành đen tối, bạc nhược…một cách “xoi mòn khả năng tri kiến” (diṭṭhi). -Kết quả của tình trạng PHÓNG DẬT là cả thân lẫn tâm phải phân tán tiềm lực !

*Đức Phật là một bậc Toàn Giác, biết rất rõ “ác tật” ấy, nên Ngài đã “cống hiến” cho nhân loại một giải pháp (vilīyana), gọi là THIỀN HỌC (Bhāvanā), để thực hành và tiến hóa dài hạn…dù trong hiện tại không đạt đến CỨU CÁNH giải thoát như một Thánh nhân, thì cũng tái lập được sự “bình an” (sāma), để bảo tồn năng lượng sống một cách hữu hiệu, hầu trải qua “kiếp luân hồi” nầy, ít xung đột, ít khổ não.

-Và THIỀN PHÁP (Bhāvanā Dhammā) trong nhà Phật lại có đến “2 đặc sắc” (visiṭṭhatta) là thiền CHỈ (Samādhi ekaggatā) và thiền QUÁN (Vipassanā). -THIỀN CHỈ (ekaggatā) còn gọi là THIỀN ĐỊNH. -THIỀN QUÁN (vipassana) còn gọi là MINH SÁT (quan sát thấy THẬT), -xin khiêm nhượng trình bày như sau :

<>CHỈ hay ĐỊNH là “tâm an trú” trên một “đề mục lành mạnh” (sobhaṇa-kammaṭṭhāna). “Đề mục lành mạnh” ở đây ám chỉ cái “đối tượng” có phẩm cách “bất vụ lợi”, không nhắm vào “thu hoạch vật chất”, hay “thu hoạch tinh thần” trong CÕI DỤC (Kāmaloka)…-chẳng hạng như “đắc thiền để được tín đồ tôn trọng, cúng dường”, hay “đắc thiền để có thần thông”…v..v…, tức là ĐỀ MỤC THIỀN không có hậu quả “lôi kéo” tâm vào THAM, SÂN hay SI.

<>QUÁN là “quan sát” với “tâm nhất điểm” (ekaggatā), một “diễn tiến” (=biến hành) “trong trí giác”, và trong “khung cảnh cộng nghiệp” (dvandasamāsa kamma bhūmi). -Chữ “QUÁN” (Vipassanā) ở đây ám chỉ “tính vô tư nhìn đối tượng”. -QUÁN (vipassaṭi) không phải làTHẨM XÉT”, với các thói quen, như “so sánh” rồi “phản chiếu” theo chủ quan, lấy “tư duy cá nhân” làm cơ sở để QUI NẠP (niṭṭhānā), trước một “nội cảnh” (ajjhatta lambana), hay một “ngoại cảnh” (bahiddha lambaṇa). -“QUÁN” (vipassanā) cũng có nghĩa là sự “xem lại chính mình” một cách “vượt lên trên” bản ngã, hay “tâm nhìn lại chính nó”, không để cho “lòng tham” hay “tật chủ quan” ảnh hưởng.

-Danh từ “THIỀN CHỈ” hay “THIỀN ĐỊNH” thì “tương đối dễ hiểu”. Nhưng cái tên “THIỀN QUÁN” hay “MINH SÁT” (vipassana)…là một “đặc ngữ” rất chuyên biệt, nên khi nghiên cứu về “Thiền quán”, chúng ta cần phải luôn “khách quan” và “thận trọng”. -Nhất là không nên nhầm lẫn giữa QUÁN (Vipassanā) của nhà Phật và THẨM XÉT (Adhikaraṇa) của thế gian.

-Theo VI DIỆU PHÁP (A-tỳ-đạt-ma =Abhidhamma), -“QUÁN” là “vận hành đồng sự” của THỌ UẨN (Vedanākhandha) và THỨC UẨN (Viññānakhandha), -tức là cảm giác như thế nào(thọ uẩn),thì biết như thế ấy(thức uẩn), -tương đương với 2 chữ “Như Lai” (Tathāgata=Yathābhūtaṃ).  -Còn “THẨM XÉT” là hành vi “đồng sự” của TƯỞNG UẨN (Saññākhandha) và THỨC UẨN (Viññāna-khandha), -nghĩa là “dùng chuyện đã” qua để đối chiếu và kết luận chủ quan ! -Đây là lý do, THIỀN QUÁN còn có một cái tên khác là “MINH SÁT”, một năng lực tuyệt vời của trí BÁT-NHÃ (Prajña), hay “tinh hoa” của THIỀN ĐỊNH !

-Tóm lại, phải có CHÁNH ĐỊNH (Sammā samādhi) thì mới có MINH SÁT (Vipassanā) ! -Hai phương diện THIỀN nầy cần thiết lẫn nhau. -Chưa ĐỊNH thì không thể QUÁN “đúng nghĩa” được. -ĐỊNH và QUÁN trong nhà Phật không phải là chu ý và quan sáttheo quan niệm thông thường, -mà là “tịnh tâm và quan sát” một cách vô tư. -Ngược hẳn với “chú ý và quan sát” kiểu thế gian. -Vì mục đích của “tu thiền” không phải chỉ để “chú ý” và thấy hiện tượng bề ngoài, mà không biết rõ chiều sâu !

*Xin đừng quên rằng, “hễ có chánh định thì cũng có tà định”. Và TÀ ĐỊNH (micchā samādhi) thì không có “CHÁNH QUÁN”. –Tà định nếu “thành công”, sẽ đưa hành giả đến “huyền lực” và “dị năng”, nguyên nhân của cống cao ngã mạng, và cố chấp…rất nguy hiểm ! -Có một số người vô minh thiếu chánh kiến, đã tận lực tu luyện “bùa chú”, và rơi vào “tà định”, do “nhập tâm” những “huyền pháp dị môn” mà trở thành “nhiễm tà” hay “tẩu hỏa nhập ma”. Dù thỉnh thoảng họ có thu hoạch được một vài “khả năng ly kỳ”, nhưng thường xuyên sống trong “thế giới ảo”, không còn tâm thức bình thường nữa !

<>Quay lại sự cần thiết của CHÁNH THIỀN (Sammā bhāvanā) đối với MINH SÁT hay Thiền Quán (Vipassanā). -Thử dùng một hình ảnh cụ thể dễ nắm bắt, rằng…THIỀN ĐỊNH (Samādhi) và THIẾN QUÁN (Vipassanā) có thể ví như 2 chân trong việc bước đi. -Khi chân nầy “dở lên”, “đưa tới”, rồi “đạp đất”…là nó đang nhờ sự hổ trợ (đồng sự) của chân kia. Một chân duy nhất thì chỉ có nhảy “cò cò”, chứ không thể bước đi được. -Trường hợp người “dùng nạn gỗ”, thì “nạn gỗ” chính là vật tạm thay thế chân thứ hai vậy.

-Nói cách khác “muốn quan sát TỐT một đối tượng (sādhaka vipassana)thì phải định tâm ĐÚNG”. -Và “khi đã định tâm ĐÚNG (ekaggatācitta=nhất điểm) thì chỉ với một MỤC ĐÍCH là để quan sát TỐT một đối tượng” (lành mạnh), gọi là “ĐỀ MỤC CHÁNH THIỀN” (Sammāsamādhiyā kammaṭṭhāna). Phật học còn gọi định tâm ĐÚNG (Sammā samādhi) là “nhất tâm bất loạn” (ekaggatā).

(-Trong bài nầy, chúng tôi chỉ cốt ý giới thiệu “những nét khoa học”, và trình bày một cách tạm đủ về THIỀN, chứ không dài dòng chi tiết, sợ làm loãng đề tài chính chứa khoa học !).

<>THIỀN ĐỊNH trong Phật giáo có tất cả 40 đối tượngđể dùng làm “trú cảnh thanh tịnh của tâm”, gọi là ĐỀ MỤC THIỀN ĐỊNH (Kammaṭṭhāna). -Mời xem bản kê khai, đính kèm ở cuối bài nầy. Trong số “40 ĐỀ MỤC” đó, có HƠI THỞ (ānāpāna) là “đề mục thuận tiện nhất”, vì NÓ nằm ngay trong thân thể chúng ta. Người tu di chuyển đến đâu thì hơi thở “có sẵn” ở đó, chứ không phải để ý mang theo như một ngoại vật. -Theo thiển kiến của chúng tôi, HƠI THỞ là đề mục trung trực cho thiền định lẫn thiền quán. -Khi đạt ĐỊNH thì QUÁN phát sinh !

*Nói chung, hầu hết các tôn giáo xưa nay…đều có “một dạng” THIỀN ĐỊNH, kể cả đạo Phật. Nhưng chỗ KHÁC BIỆT là “thiền định trong nhà Phật KHÔNG NHẮM vào thu hoạch danh lợi thuộc DỤC GIỚI” (Kāmaloka=cõi vật chất thô vọng). Nếu có thì THIỀN ĐỊNH trong Phật giáo (khi thành công) sẽ đưa tâm thức người tu tiến hóa lên 2 cõi SẮC GIỚI (Rūpabhūmi, VI TẾ, và VÔ SẮC GIỚI (Arūpabhūmi, KHÔNG sắc).

-SẮC GIỚI ám chỉ “thăng hoa trở thành tâm vật vi tế”, như ánh sáng chẳng hạng.

-VÔ SẮC GIỚI ám chỉ “thoát ra tâm vật vi tế hữu hạn”, còn gọi là “cõi KHÔNG”.

*Sinh vật thô vọng (rūpadhātu) trong DỤC GIỚI (kāmaloka) có thể tượng trưng một cách cụ thể bằng THÂN TÂM nầy, và những gì nuôi dưỡng nó, cũng như những gì “cung phụng kiếp sống…gồm các “vật dụng vô thường”, như thực phẩm, y phục, nhà cửa, thuốc men, xe cộ, tiền bạc, danh vọng, thân nhân, xã hội, thương ghét, biệt nghiệp, cộng nghiệp…v…v…

*Thân tâm vi tế (rūpabhūta) trong SẮC GIỚI (rūpaloka) có thể tượng trưng một cách trừu tượng bằng “ÁNH SÁNG” (obhāsa), và những gì thuộc về “năng lượng”, “điện động”, hay ‘tâm trường”, để duy trì “linh thức”, gồm những “ảnh thể”, như hào quang, phúc đức, thức tánh…v…v… -Vạn pháp ở SẮC GIỚI tuy khinh thoátcó tuổi thọ rất dài, nhưng TÂM THỨC thiên chúng (devacitta) vốn còn “chấp thủ” (upādāna) nên “mạng căn” vẫn bị giới hạn. -Nghĩa là chúng sanh trong các cõi trời sắc giới không tránh khỏi “MÃN KIẾP” khi TẬN PHƯỚC.

*Và “cao nhất”, –VÔ SẮC GIỚI (arūpa-bhūmi), cõi vượt qua tất cả sắc pháp, thô cũng như tế (sabbarūpabhūtadhammā’tikkamitvā) có thể ví như TÁNH KHÔNG (suññatā). Toàn thể giới hạn trong TƯỞNG UẨN (Saññā-khandha) đều bị thiền vô sắc (Arūpạjhāna) “triệt tiêu” hay bị VÔ HIỆU HÓA trong cõi tuyệt vời nầy. -VÔ SẮC GIỚI là thành quả cao nhất của THIỀN HỌC, nhưng đó chưa phải là phẩm cách giải thoát, vì vẫn có tuổi thọ tuy là vô cùng dài…mà hễ có tuổi thọ thì vẫn có lúc chấm dứt.

<>THIỀN PHÁP (Bhāvanā dhammā) trong đạo Phật, theo tình bày “đầy đủ” từ VI DIỆU TẠNG (Abhidhamma-piṭaka), thì có 5 BẬC (Pañca jhānāni) là nhất thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền và ngũ thiền. -Nhưng theo KINH TẠNG (Sutta-piṭaka), thì được “giản lược” hơn, còn 4 BẬC là nhất thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền. -Vì sao ?

-Vì khi phân tích tâm thức, VI DIỆU TẠNG (Abhidhamma piṭaka) xem 5 chi thiền (từ thấp đến cao gồm tầm, tứ, hỷ, lạc, định), mỗi CHI là một bước tiến. Trong khi đó, KINH TẠNG lại qui nạp “2 chi thiền đồng hành” hỷ và lạc hay tầm và tứ vào một bậc.

-Tiến hóa 5 bậc thiền theo VI DIỆU TẠNG (Abhidhamma-piṭaka) là :

*Khi đắc NHẤT THIỀN thì người tuphải hội đủ5 chi thiền, gồm tầm (vitakka), tứ (vicāra), hỷ (pīṭi), lạc (sukha), và định (ekaggatā), một cách thuần thục (cāturiyena), không gián đoạn (avicchinna).Pāḷī văn : “…vitakka-vicāra-pīti-sukha-ekaggatā sahitaṃ pathama-jhānaṃ….”.  

*Khi đắc NHỊ THIỀN thì tu sĩ sẽ tự động (sayaṃvattī)vượt quatầm(vitakka),vì nó đã thuần thục (cāturiya), nênhọ chỉ cần thuần thục hội đủ 4 chi thiền còn lại, tứ (vicāra), hỷ (pīṭi), lạc (sukha),và định, một cách không gián đoạn (avicchinna). -Pāḷī văn : “…vicāra-pīti-sukha-ekaggatā sahitaṃ dutiya-jhānaṃ….”).    

 *Khi đắc TAM THIỀN thì tu sĩ sẽ tự động(sayaṃvattī) vượt quatầm(vitakka) và “tứ (vicāra), vì cả 2 đã thuần thục (cāturiya), nên họ chỉ cần hội đủ 3 chi thiền còn lại,là hỷ (pīṭi), lạc (sukha), và định (ekaggatā), một cách không gián đoạn (avicchinna). -Pāḷī văn : “…pīti-sukha-ekaggatā sahitaṃ tatiya-jhānaṃ….”.

*Khi đắc TỨ THIỀN, thì “tịnh nhân” cũng sẽ tự động (sayaṃvattī) vượt quatầm”, “tứ” và “hỷ”, vì cả 3 chi thiền dẫn đầu nầy đã thuần thục (cāturiya), nên họ chỉ cần hội đủ 2 chi thiền còn lại, lạc (sukha) và định (ekaggatā), một cáchkhông gián đoạn (avicchinna). Nhưng ở bậc TỨ THIỀN phải “coi chừng”, vìcó 2 trạng thái lạc địnhcùng phát sinh, và tâm sở LẠC (sukha cetasika) có thể làm cho người tu “vướng mắc” bởi sự DỄ CHỊU (mānāpa), do lòng tham vi tế. -Pāḷī văn : “…sukha ekaggatā sahitaṃ catuttha-jhānaṃ”.

*Khi đắc NGŨ THIỀN thì vẫn như trên, và “tịnh nhân”sẽ tự động (sayaṃvattī) vượt qua tầm(vitakka),tứ(vicāra), và “hỷ(pīṭi),vì cả 3 chi đã được thuần thục (cāturiya) trong tâm.Đồng thời chi thiền thứ tư (=LẠC) được “hóa giải” bởi VÔ THAM (alobha) hay bằng tâm sởXẢ(Upekkhā, tức là không chấp thủ =buông bỏ). Như vậy ở NGŨ THIỀN, họ chỉ cần hội đủ 2 chi thanh tịnh XẢ (upekkhā) đi đôi với ĐỊNH(ekaggatā), một cáchthuần thục không gián đoạn (avicchinna). -Xin nhấn mạnh ở đây, XẢ (Upekkhā) là nền tảng để sẵn sàng tiến lên THIỀN VÔ SẮC (Arūpa-jhāna) -Pāḷī văn : “…sukha-ekaggatā sahitaṃ pañcama-jhānaṃ.”.

*Cũng theo VI DIỆU TẠNG (Abhidhamma piṭaka), THIỀN HỮU SẮC (Rūpa-bhāvanā) bao gồm “5 bậc” như nói trên, còn được “phân loại” ra “3 phẩm cách”…là 1/THIỆN (kusala), 3/QUẢ (Vipāka), và 3/DUY TÁC (Kiriya). Mỗi phẩm cách cũng gồm “5 bậc”, nên tổng cộng có “15 tâm thiền hữu sắc” (3×5=15), được “phân bổ” như sau :

 -Năm tâm thiền hữu sắc “phẩm cách THIỆN”, sau khi chết sẽ tái sinh và cõi trời dục giới.

Năm tâm thiền hữu sắc “phẩm cách QUẢ”, sau khi chết sẽ tái sinh và cõi trời sắc giới.

-Năm tâm thiền hữu sắc “phẩm cách DUY TÁC”, sau khi chết sẽ tái sinh và cõi phạm thiên.

*TÂM XẢ (còn gọi là “bình đẳng”) là yếu tố quyết định, để người tu an tịnh hành đạo, tiến lên các bậc thiền VÔ SẮC (Arūpa-bhāvanā). -Nói cách khác, nếu tâm sở XẢ (Upekkhā) không phát sinh hùng hậu, thì “thiền sĩ” có thể vướng vào LẠC THỌ (sukha vedanā)…không thể thoát ra được “cái khung” (racanā, kosa) của “thiền hữu sắc” (rūpa-bhāvanā) !

<>Quay sang TẠNH KINH (Sutta-piṭaka) chúng ta đọc thấy có 2 khuynh hướng nêu ra các bậc thiền. Đó là “khuynh hướng 4 bậc” và “khuynh hướng 3 bậc”, tùy theo cách thực hành của một trường thiền. Cả 2 khuynh hướng đều kết hợp “song chi thiền TẦMvà TỨ hoặc HỶvà LẠC làm “một”. Theo đó, chúng ta có như sau :

*Nếu tầm tứđược kể là “một”, thì ĐỆ NHẤT THIỀN (paṭhamajjhāna) có 4 chi thiền, trong đó gồm 1/tầm tứ (vitakka-vicāra, “tên kép”), 2/hỷ (pīṭi), 3/lạc (sukha), và 4/đinh (ekaggatā). Nghĩa là “lộ trình tâm thiền” (cittavithi) của người tu phải “thông qua” 4 chi thiền vừa nêu…mới nhập định được (ekaggatā).

*Nếu “hỷ lạc” cũng được xem là “một” như trên, thì…ĐỆ NHỊ THIỀN (dutiya-jhāna) có 3 chi thiền, trong đó gồm 1/tầm tứ (vitakka-vicāra,“tên kép”), 2/hỷ lạc (pīṭi-sukha,“tên kép”), và 3/định (ekaggatā). -Nghĩa là “lộ trình tâm thiền” (cittavithi) của người tu, phải “thông qua” 3 chi thiền vừa nêu…mới nhập định được (ekaggatā).

*Tiến lên ĐỆ TAM THIỀN (tatiya-jhāna), thì thiền sĩ cần hội đủ 2 chi thiền là 1/“hỷ” (pīṭi) và “lạc” (sukha) và chi thứ 2 là “định” (ekaggatā). Còn tầm (vitakka) và tứ (vicāra) thì quá thuần thục (cāturiya), nên trở thành tự động, không kể vào đây nữa, -. Nghĩa là “lộ trình tâm thiền” (cittavithi) của người tu phải “thông qua” 2 chi thiền vừa nêu…mới nhập định được.

*Rồi ở ĐỆ TỨ THIỀN (catutthajjhāna), thì thiền sĩ vốn đã “hội đủ” thuần thục (cāturiya), và vượt qua 3 chi thiền đi trước, chỉ còn 1 chi thiền cuối cùng là “định” (ekaggatā). Nghĩa là “lộ trình tâm thiền” (cittavithi) của người tu phải “thông suốt” qua 3 chi thiền đi trước (mới nhập định (ekaggatā) được, nhờ có chi thiền thứ tư.

<>Nói về trường hợp Phật học nêu ra 3 bậc thiền, thì “tầmtứ” cũng như hỷ lạcđều được kể  là “một”, mệnh danh là “2 chi thiền kép”. Từ đó chúng ta có :

-Ở đệ nhất thiền thì người tu đã thuần thục (cāturiya), không gián đoạn cả 3 chi thiền gồm 1/tầm Tứ (vitakka-vicāra”, chi thiền kép”), 2/hỷ lạc, (pīṭi-sukha, chi thiền kép”), và 3/định (ekaggatā). Nghĩa là “lộ trình tâm thiền” (cittavithi) của người tu phải “thông qua” 3 chi thiền nói trên…mới nhập định được (ekaggatā). 

-Ở đệ nhị thiền…người tu đã thuần thục, không gián đoạn cả 2 chi thiền gồm 1/hỷ lạc, (pīṭi-sukha, “chi thiền kép”), và 2/định (ekaggatā). -Còn TẦM-TỨ (vitakka-vicāra, “chi thiền kép” thứ nhất) đã trở thành tự động, không kể vào đây. Nghĩa là “lộ trình tâm” (cittavithi) của người tu phải “thông qua” 2 chi thiền vừa kể…mới nhập định (ekaggatā) được.  

-Ở đệ tam thiền…người tu phải thuần thục, không gián đoạn với chỉ 1 chi thiềnnhất tâm bất loạn (ekaggatā). Bởi vì “ 2 chi thiền kép” đi trước, là tầm-tứ (vitakka-vicāra), và hỷ-lạc (pīṭi-sukha), đã trở thành tự động, không kể vào nữa. Nghĩa là “lộ trình tâm thiền” (cittavithi) của người tu phải “thông qua” 1 chi nhất tâm bất loạn, mới nhập định (ekaggatā) được !

<>Tuy số lượng những “tầng thiền” của các NGUỒN NGHIÊN CỨU không giống nhau (tính từ 3 đến 5), -nhưng nói chung thì “5 chi thiền nền tảng” (gồm TẦM, TỨ, HỶ, LẠC, và ĐỊNH) vẫn hội đủ. Như thế chứng tỏ rằng, “các yếu tố để thuần thụctiến hóa không thay đổi”. Và điều đáng chú ý, là chi thiền thứ 5 trong VI DIỆU TẠNG được mệnh danh là XẢ ĐỊNH (Upekkhā ekaggatā)…còn giúp cho chúng ta nhận ra VÌ SAO “một thiền sinh có thể thăng hoa từ thiền hữu sắc lên thiền vô sắc”….một cách có lý do :

*THIỀN HỮU SẮC (rūpa-bhāvanā) lấy vật chất là “sắc thô” (olārika) và “sắc tế” (sukhuma) để làm đối tượng (kasiṇa). –Sắc thô là đề mục cho THIỀN cõi DỤC (Kāmavacara). –Sắc tế là đề mục cho THIỀN cõi SẮC (Rūpavacara). Cả 2 thứ đều thuộc về TỨ ĐẠI (catu mahādhātu)…chỉ khác nhau ở  2 tình trạng thô tế mà thôi. Nhưng chúng vốn có bản thể hữu hạn (sīmita), nên muốn tiến hóa thì “THIỀN QUẢ phải triệt tiêu giới hạn”, tức là đắc PHÁP XẢ (upekkhā-dhammā)…trước khi “thiền sĩ” có thể tu lên VÔ SẮC THIỀN (Arūpa-jhāna).

*Theo Vi Diệu Pháp (Abhidhamma), tâm sở XẢ (Upekkhā cetasika) “tượng trưng” cho 1 trong 3 phẩm cách giải thoát, từ hiệp thế đến xuất thế, từ hữu hạn đến vô hạn, tạm giải như sau :

1/XẢ là chân thành tha thứ, không còn đố kỵ (hay dị ứng), đối xử hòa bình như xưa.

2/XẢ là không giữ trong tâm, chẳng nuôi mầm oan trái, tái lập thiện cảm trong đời sống.

3/XẢ là tâm tuyệt đối bình đẳng, triệt tiêu phiền não, hết phân biệt bạn thù, hoàn toàn hóa giải.

(-Còn tỏ thái độ “dửng dưng”, tạm thời “bỏ qua”, vì sức mình chẳng làm gì được, rồi tuyên bố là “hỷ xả”, thì đó là lạm dụng từ ngữ, ngụy trang tật sân hận ngấm ngầm).

<>Ngoài ra, xin lưu ý rằng, nhóm từ Phật học “CÕI VÔ SẮC” (Arūpabhūmi) dùng đểám chỉ“cõi không hạn chế hợp tan kiểu vật chất, thô hay tế” (non formulé par matière), HƠN LÀ để ám chỉ “cõi chẳng gì cả” (néance). Và “khoa học không gian” cũng nhận thức một cách “tuệ tri” (hay bát-nhã) như vậy. Nghĩa là vũ trụ mênh mông kia, nếu nhìn qua “tiêu chuẩn vật chất” (critère de matière) thì “không có gì cả”, nhưng khi nhìn qua “Pháp siêu việt” (theo nhà Phật) thì trong đó “có thể có” CÁI KHÁC (añña-dhammā) không phải là vật chất, hoàn toàn không bị hạn chế, không nằm trong bất cứ ngôn ngữ nào của nhân loại !

-Trước khi bàn xa hơn, xin nói qua về SẮC THÔ (olārika-rūpa) và SẮC TẾ (sukhuma-rūpa) một chút. -Vậy SẮC THÔ và SẮC TẾ là những gì ?!

*SẮC THÔ (olārika-rūpa) gồm “4 nguyên tố” chính (dhatu), Phật học gọi là TỨ ĐẠI (catu-mahādhātu), như “đất” (paṭhavī), “nước” (āpo), “lửa” (tejo), và “khí” (vāyo). Sắc thô được tượng trưng bằng nhiều “hình thức”, như màu sắc, đặc tướng, thể tích, tình trạng…v…v…Nhà Phật thường dùng SẮC THÔ (Olārika-rūpa) làm đề mục (rūpagati-kasiṇa),  cho “ thiền tâm” trong DỤC GIỚI (kāmaloka).

*SẮC TẾ (sukhuma-rūpa) cũng gồm “4 nguyên tố” (dhatu) nêu trên…nhưng tinh vi hơn, Phật học cũng gọi chung là TỨ ĐẠI (catu-mahādhātu). Vì chúng “rất tinh anh”, và ở dạng “cực vi” như “điện trường” hay “lượng tử”, nên được biết là “ẤN TƯỢNG” (nimitta), do sắc thô lưu lại. Nói cách khác, có thể hiểu SẮC TẾ “tương đương” với “khái niệm”, “ký ức”, hay “hình ảnh trong trí nhớ”. Tiêu biểu của SẮC TẾ là “ánh sáng” và “màu sắc” trong “hư không”. Và SẮC TẾ (sukhumarūpa) đối với nhà Phật, là “ĐỀ MỤC” của “thiền SẮC giới” (rūpa-bhāvanā-kammaṭṭhāna).

*Khi 5 CHI THIỀN (tầm-tứ-hỷ-lạc-định) đã hội đủ một cách thuần thục, không gián đoạn trong tâm, thì “thiền sinh” đạt “SỰ THANH TỊNH”, tức là đối tượng của tâm thức chuyển từ SẮC THÔ qua SẮC TẾ. -Đây chính là “lý do” mà nhà Phật nói “bậc chứng đắc thiền hữu sắc, sau khi chết sẽ tái sinh vào cõi trời sắc giới” (rūpa-devaloka).

<>Chung quy…con số các bậc thiền là 3, 4, hay 5…không phải là nguyên tắc quyết định của PHÁP THIỀN, -mà trình độ thanh tịnh của người tu, mới chính là “NẤC THANG” tiến hóa. Khi thực tại tâm thức an trú trên một đề mục lành mạnh, thông thoáng, ngừng hẳn phóng túng…không lang thang trong ngũ trần lục dục (sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp), để năng lượng không bị tiêu hao một cách vô ích….tức là lúc “ĐẮC ĐỊNH” (Appanā).

Và để tái trình bày một cách giản dị về 5 CHI TIỀN nêu trên, xin vắn tắc như sau :

<>TẦM (Vitakka) là “sát-na* tri giácthứ nhất của tâm thiền THIÊN VỀ đối tượng, thiền học gọi là “hướng đến đề mục” (kammaṭṭhāna-āvajjana), trong tiến trình nhập định. (ekaggatāvīthi). -ĐỀ MỤC (kammaṭṭhāna) ấy có thể là “VẬT NGOẠI THÂN” (kasiṇa),mang đặc tính của một trong các thể chất, như đất (paṭhavī), nước (āpo), lửa(tejo), khí (vāyo), màu xanh (nīla), màu đỏ (lohita), màu đen (kāḷa), màu trắng (odāta), màu vàng (pīta) và không gian (okāsa). -ĐỀ MỤC đó cũng có thể làVẬT NỘI THÂN”, như “hơi thở” (ānāpāna), hay các cấu phần của thân, gồm “tóc” (kesā), “lông” (loma), “móng” (nakhā), “răng” (dantā), “da” (taca), “thịt” (maṃsa), “gân” (sandhibandhana) “xương” (aṭṭhi), “tủy” (miñjā), “mồ hôi” (seda), “nước tiểu” (mutta), “nước miếng” (lālā)…v…v….-Gọi chung là “32 thể trược nơi thân thể con người”! -Thường dùng nhất trong các thiền đường trên thế giới ngày nay, là HƠI THỞ (Ᾱnāpāna)

Chú thích :

Sát na*” (khana) là “đơn vị thời gian” cực vi trong nhà Phật. Theo Vi Diệu Pháp (Abhidhamma), trí óc người phàm rất khó nắm bắt được ấn tượng “một SÁT-NA là gì”, vì nó “chỉ dài” phỏng chừng 3/1000 giây.

<>TỨ (Vicāra) là “sát-na tri giácthứ hai, biết tâm Ở TẠI đối tượng,thiền học gọi là “hội cận đề mục” (kammaṭṭhāna). TỨ (Vicāra) luôn nghịch hành với phóng dật (uddhacca). Nó có khả năng “triệt tiêu” thói quen tiêu cực, lang thang của tâm, và là yếu tố cần thiết để AN CHỈ (appanā) hay NHẤT ĐIỂM (ekaggatā). -Các bậc cha mẹ Việt nam xưa nay thường giáo dục con cháu rằng “làm việc gì cũng phải ý TỨ” có lẽ không ngoài ám chỉ nầy.

*Hiệu lực của TỨ là làm cho “tâm bám sát đối tượng”, -đó là đề mục thiền !TỨ càng thuần thục thì TÂM càng nhẹ nhàng (=tự do), không chuyên chở đủ thứ ấn tượng từ những  trần cảnh khác nhau trong cuộc sống. TỨ tương đương với sự giảm hiểu ảnh hưởng do lục dục (=thèm muốn SẮC, THINH, HƯƠNG, VỊ, XÚC, PHÁP), và làm cho phẩm cách của TẦM gia tăng độc lập. -Trường hợp TÂM “hữu tầm (vitakka) mà vô tứ (avicāra”, thì nó chẳng khác nào con thuyền KHÔNG LÁI, sẽ phiêu lưu trên mặt nước, lang thang theo chiều gió.

<>HỶ (Pīṭi) là “sát-na tri giácthứ ba, khi TÂM cảm thấy rũ bỏ hết ấn tượng, đếnvà đi liên tụctừ những trần cảnh quay cuồng, hay TÂM không chịu những ảnh hưởng quấy nhiễubởi ngoại giới nữa…thì TÂM “tự do”. Nói cách khác, HỶ là “một dạng rảnh rang” của TÂM (cittamānāpa), tức là nằm ngoài tình trạng bị nội cảnh hay ngoại cảnh bao vây, lôi kéo. HỶ có thể ví như HẠNH PHÚC của người kéo cày được cởi bỏ cái ách, hay con ngựa đứng ngoài gọng xe. –HỶ chính là sự dễ chịu của TÂM (citassa mānāpa), lúc các áp lực thường xuyên….được chấm dứt.

*Theo VI DIỆU PHÁP (Abhidhamma), “tinh thần và thể xác luôn có sự ảnh hưởng chặc chẽ lẫn nhau”. Do đó HỶ (Pīṭi) tuy là phẩm cách lành mạnh của TỊNH TÂM (Santi-citta), nhưng nó có thể làm cho THÂN giảm bớt nhọc nhằn. -Ví như người nông dân nâng gánh lúa nặng trên vai mà cảm thấy “bình thường”, vì vui với sự “được mùa”. Có sách còn gọi HỶ là “PHỈ”hay “no vui”. -Nói nôm na, “hỷ là cái cảm giác không vướng vào những gì tường xuyên đè nặng”.

<>LẠC (Sukkha) là “sát-na tri giácthứ tư, khi TÂM cảm thấy một sự nhẹ nhàng (hay khoan khoái) nơi thân.“THÂN” ở đây ám chỉ thể xác tứ đại (vật chất). Theo Phật học, LẠC (sukkha) là tình trạng “thông thoáng tuần hoàn trong thân”. Như vậy, định nghĩa của LẠC có thể là sự “dễ chịu thân thể” (Kāyassa mānāpa), máu huyết lưu thông… do hấp thụ vật chất thích hợp, như thực phẩm tốt, y phục mềm, chỗ ở thoáng, thuốc men hay…v…v… -Những gì thuận chiều một cách tự nhiên đối với thân xác (-mà không do tham vọng thúc đẩy), đều có thể là nguyên nhân của LẠC CẢM (Sukkha vedanā).

*Cũng như HỶ trên đây, LẠC tuy là một phẩm tính của thể xác, nhưng nó có khả năng ảnh hưởng đến tinh thần. Người ta thường nói “THÂN AN thì TÂM VUI”. -Nhưng đối với phàm nhân, “THÂN ĐAU lắm khi còn ảnh hưởng đến TÂM nhiều hơn là TÂM ảnh hưởng đến thể xác”. Chỉ có thánh nhân (Ariya puggala) mới đủ khả năng dùng tâm thanh tịnhhóa giải nổi” những cái đau của thân mà thôi. -Và đó cũng là DIỆU DỤNG (Sopakāra) của THIỀN (Bhāvanā) trong nhà Phật.

<>ĐỊNH (Ekaggatā) là “sát-na tri giácthứ năm (hay sau cùng), trong tiến trình an chỉ hay nhất tâm (appanā=ekaggatā). ĐỊNH cũng là “quả lành” do công phu của người hành thiền. “Quả lành” ấy…. thâm hậu hay tầm thường, tùy theo chiều dài của một thời nhập định, vì trong ĐỊNH (nhà Phật) hoàn toàn không có phóng tâm, nên “năng lượng sống” rất sung mãn. -Điều nên biết là chỉ 1 lần phóng tâm cũng đủ làm cho ngừng định hay “chao đảo định” !

*Vả lại, do nghiệp quả làm người, bất cứ ai sinh ra cũng đều không nhiều thì ít…có khả năng tập trung tinh thần. Và bẩm sinh con người vốn biết phân biệt “nặng nhẹ” của mỗi vấn đề, hay mỗi cảnh vật. Từ đó, đối tượng nào có giá trị cao, thì con người chú ý nhiều hơn. Phật học xem đó là “phàm định”. Nhưng “ĐỊNH” nầy không có hiệu lực chấm dứt sự phóng tâm !

<>Còn “thiền định” trong nhà Phật thì khác. Đó là một trong các pháp hành “thanh lọc”tâm thức con người, để trở thành thanh cao thánh thiện. Phật học gọi ẤY là CHÁNH ĐỊNH (Sammā samādhi). Nghĩa là TÂM THIỀN của các Thánh nhân, khi đối diện với bất cứ thực tại nào, các Ngài cũng khách quan biết duy nhất thực tại ấy, không phóng túng lang thang theo cảnh vật khác, hay phân biệt theo cảm nghĩ….

-Sách THIỀN gọi ấy là nhất tâm bất loạn ! -Xin nhấn mạnh rằng, “nhất tâm bất loạn” KHÔNG PHẢI là tâm bị cầm tù bởi một đề mục, doCỐ CHẤP !

*Vì sao ?! -Vì Thánh nhân đã thuần thục với “5 pháp thực hành”, là :

1/Vượt KHÔNG GIAN, Thánh nhân có thể “nhập định bất cứ ở đâu”.

2/Vượt THỜI GIAN, Thánh nhân có thể “nhập định bất cứ lúc nào”.

3/Vô ĐIỀU KIỆN, Thánh nhân có thể “nhập định trong nghịch cảnh, vô thuận duyên”.

4/Duy trì TÂM TỊNH, Thánh nhân có thể “xuất định an vui” (nghịch cảnh không ảnh hưởng).

5/Luôn TÙY TIỆN, Thánh nhân có thể “thay đề mục” (thuần thục thích ứng với thực tại).

*Căn cứ trên năm pháp THUẦN THỤC nầy, mà nhà Phật gọi THIỀN CHỈ là thời định (kāla-samādhi), và gọi THIỀN QUÁN hay MINH SÁT (Vipassanā) là thường định (Nicca-samādhi).

*Các PHÁP THUẦN THỤC từ thứ nhấtđến thứ tư, tuy chỉ giúp cho người tu đạt được THỜI ĐỊNH (kāla-ekaggatā), nhưng cũng rất quí báu, không phải tầm thường ! -Theo kinh điển thì “thời định có thể kéo dài đến 7 ngày”, -một công phu “di tồn năng lượng” tuyệt vời !

*Ngoài ra, Thánh nhân (ariya puggala) luôn hành THIỀN thuần thục, với tất cả 4 oai nghi (catu-aṅgavinyāsa), là ĐI (Vicarana), ĐỨNG (Ᾱdhāra), NẰM (Ṇipanna), và NGỒI (Ṇisajjā). Đồng thời các CHI THIỀN (jhāna aṅgabhūta) thuộc tiến trình tâm thức của các Ngài, cũng vừa có hiệu lực RIÊNG RẼ, vừa có HIỆU LỰC từng cặp, chẳng hạn như “tầm” đi với “tứ” (Citakka-vicāra), hay “hỷ” đi với “lạc” (Pīṭi-sukha).

<>Xin nhắc lại rằng, “đối tượngphổ thông nhất, dùng làm “ĐỀ MỤC THIỀN ĐỊNH” từ thời Đức Phật đến nay là HƠI THỞ (ānāpāna). Và “cái khung” để hơi thở ra vào chính là THÂN THỂ nầy, -mà TỨ NIỆM XỨ thì bao gồm niệm thânniệm thọ, -có mối liên quan qui nạp rằng, “nói đến định tâm vào hơi thở” (ānāpāna-saṭi) là “nói đến tứ niệm xứ” (catu-saṭipatthāna). Ấy là một “pháp tụ” gồm 4 trình độ “định tâm”, trong đó có “định tâm nơi thân” (kāya ekggatā) là bước đầu.

-Nhắc lại “bốn niệm” ấy như sau, 1/NIỆM THÂN (kāya-anupassaṭi), 2/NIỆM THỌ (Vedanā-anupassaṭi), 3/NIỆM TÂM (Citta-anupassaṭi), và 4/NIỆM PHÁP (Dhammā-anupassaṭi).

-Vì sao bước đầu phải là “niệm thân”? -Vì trong thân có HƠI THỞ (Ᾱnāpāna) là “bảng chỉ đường” để người tu có thể khám phá được chính mình. Khi “khám phá được chính mình” thì tìm ra khổ não ở đâu. Phật học còn xem TỨ NIỆM XỨ là “bốn nền tảng” của 37 phẩm giác ngộ (Bodhi-pakkhiya) vậy. 

-Theo Vi Diệu Pháp (Abhidhamma), NIỆM THÂN phải đi đôi vớiNIỆM THỌ, vì vận hành của thân luôn phát sinh cảm giác. Và NIỆM THỌ là “thấy rõ” cảm giác ấy. Nếu một THÂN NGƯỜI mà không cảm giác, thì ẤY là cái xác chết, chứ chẳng phải là “môi trường phát sinh” của thọ (vedanā).

-Tương tự như thế, NIỆM TÂM (Citta-anupassanā) cũng đi đôi vớiNIỆM PHÁP (Damma-anupassanā), vì VẠN PHÁPvận hành của tâm. Khi TÂM mà không biết pháp, thì ẤY chẳng phải là “môi trường phát sinh” các pháp.

*Bốn NIỆM nêu trên có thể tóm tắt thành NIỆM DANH (Nāma-saṭi) và NIỆM SẮC (Rūpa-saṭi). “Niệm danh” ám chỉ “thức tỉnh” biết THỌ, TƯỞNG, HÀNH, và THỨC. “Niệm sắc” ám chỉ “thức tỉnh” biết THỂ XÁC tứ đại. -Xuyên qua trải nghiệm, chúng ta biết “trong thân có thọ”, hễ thân sống thì chuyên chở cảm giác. Và “trong tâm có pháp”, hễ tâm biết thì chuyên chở vạn pháp. -Đó chính là sự phân tích đúng thực tạixác nghiệm rất khoa học ! -Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) xác nhận mọi vấn đề KHỔ VUI đều nằm trong THÂN và TÂM nầy.

<>Người ta thường nói “đời là biển khổ” (=liên tưởng đến một cái biển đầy sóng gió), nhưng ít ai giác ngộ sâu sắc, và xác nhận rằng “THÂN TÂM nầy chình là “biển khổ” !

-Trong “sách giản lược” về THẤT BỒ-ĐỀ PHẦN, dùng làm “bố cục” để thảo luận PHẬT PHÁP, của “Nhóm Nghiên Cứu và Thực Hành lời Phật dạy” tại Paris, vào thập niên 2000 chúng tôi đã mạo muội viết…

“Thân người ví như biển khổ mênh mông… Bao nhiêu vận hành hữu cơthọ cảm, tưởng, hành, thức…huân tập thành hợp thể (hay ngũ uẩn), từ vô số kiếp luân hồi, ví như chiều sâu của nước biển khó lường…. Còn THAM SÂN SI ví như 3 loại gió bất lành thổi mạnh không ngừng, làm cho nổi sóng tung nước mịt mù, hạn chế ánh sáng ngọn “hải đăng tri thức”, khó soi rõ vào toàn cảnh. Người tu niệm thân thuần thục, là phát triển được ánh sáng hướng dẫn, chiếu vào «biển thân» phức tạp, ô trược ấy….-Ví như kẻ hải hành nhờ đó sẽ phăng ra được chỗ khởi đầu và chỗ chấm dứt của sóng to gió lớn… mà thoát hiểm. -Còn người tu thì nhờ niệm thân thuần thục mà hóa giải “khổ vui” !

-Một kiếp luân hồi có “2 điểm nối tiếp”, là cửa SINH và cửa TỬ, mà mỗi sinh linh khó nắm vững, để bình yên bước qua cảnh luân hồi.

-Hành thiền Tứ Niệm Xứ, bắt đầu bằng niệm thânniệm thọ…xuyên qua hô hấp (ānāpāna=hơi thở), khi thuần thục, thì thường xuyên tiếp cận (=ĐỊNH), cũng như nhìn kỹ (=QUÁN) hai cánh cửa sinh tử ấy…nhờ đó hành giả sẽ biết rõ sống chết như thế nào, và biết hóa giải, gặt hái được nhiều kết quả thiện, bao gồm sống tốtchết tốt, đối với thân cũng nhưđối với tâm hằng thay đổi. Vô thường !

-Đó là chứng “thân trong thân, hay “thân ngoài thân”, song với chứng “thọ trong thọ”, hay “thọ ngoài thọ”, rồi chứng “tâm trong tâm, hay “tâm ngoài tâm”, và viên dung qui nạp…là chứng “pháp trong pháp, hay “pháp ngoài pháp”, để “hóa giải” sinh tử.

<>Hành thiền NIỆM THÂN tuy là một pháp môn luyện tâm, nhưng đó là một pháp môn luyện tâm đi vào bản thân của mỗi cá nhân, nên nó chỉ trừu tượng (khó hiểu) đối với người khác. Nhưng đối với chính người tu TỨ NIỆM XỨ (khi làm đúng), thì nó rất “cụ thể”.

-Cụ thể ấy có thể ví như một lữ hành, chăm chỉ đi trên con đường hướng đến mục tiêu tối hậu. Họ sẽ tự nhiên nhìn thấy (chứ không tìm kiếm do lòng tham) những gì trước mặt họ…như thế nào, thì người thuần thục trong NIỆM THÂN (kāya-anupassanā) cũng sẽ “chứng thậtCẢM THỌ (vedanā-anupassanā) và hơi thở trong thân họ, hiển nhiên như thế ấy ! -Nói rõ hơn, niệm biết toàn thân (bao gồm THÂN lẫn TÂM) là kỹ thuật mở cánh cửa “vận hành linh khí”, khung hoạt động của hơi thở. Đó là cánh cửa duy nhất bắt đầu sự sống và chấm dứt sự sống.

-Và toàn thân đang sống chính là nền tảng của mọi cảm thọ, hay toàn thân đang sống chính là phản ảnh của mọi tâm thức, đồng thời toàn thân đang sống, cũng chính là hiện trạng biến hành của vạn pháp. -Mỗi chu kỳ tâm thức đi qua (cittavìthi), là mỗi lần một số tế bào trong thân sinh ra, và mỗi lần một số tế bào trong thân “lão hóa”, tự diệt. Sắc thân ngũ uẩn tiến dần đến chỗ tàn úa, ngừng hoạt động, rời rạc, rồi tan rã !

-Hành thiền Tứ Niệm Xứ là “an định thân tâm” chứng kiến bốn cảnh sinh trụ dị diệt (hay xuất hiện, tồn tại, thay đổi, và tàn biến) của thể xác tinh thần thực tại, qua khám phá “bốn nền tảng” THÂN, THỌ, TÂM, và PHÁP….”

<>TỨ NIỆM XỨ là pháp tu trung trực, để «vượt qua» THÂN TÂM nầy. Nó vừa là ĐỀ MỤC của THIỀN ĐỊNH (=an chỉ), vừa là NỀN TẢNG của THIỀN QUÁN (=minh sát). Tứ Niệm Xứ bắt đầu bằng NIỆM THÂN và NIỆM THỌ, là pháp hành duy nhất, hướng dẫn “thần lực” (hay sức mạnh tâm linh của người tu) hội tụ vào THỰC TẠI, tránh “lang thang vào quá khứ” và “phiêu lưu vào tương lai”. -Vì sao ? -Vì đa số phàm nhân thường phiến diện “phân tích” rằng “thời gian là vận hành của tinh thần” và “không gian là vận hành của thể xác”, nếu thả tâm phóng đãng (uddhacca).

-Nhưng Phật giáo lại thuyết minh rất khác, Phật học KHÔNG TÁCH RỜIthời gian và không gian ra 2 phương diện riêng biệt. -Vì đó vốn là “hai mặt bất ly” của NGHIỆP và QUẢ. -Hễ có không gian thì phải có thời gian…-cũng như hễ CÓ VẬT CHẤT thì phải có NĂNG LƯỢNG (hay môi trường) để TINH THẦN biểu lộ. -Sự SỐNG (Jīvita) tự nó là kết hợp của năng lượng (điện từ)và vật chất (thân thể), giao thoa với tinh thần. -Nói cách khác, sự SỐNG vốn là HIỆN THÂN của HỖN HỢP thời giankhông gian, “xuyên qua” TINH THẦN.

-Theo Phật học, sự SỐNG chính là “hiện tại”. -Rồi HIỆN TẠI là nguyên nhân của QUÁ KHỨ (Atīta) và TƯƠNG LAI (Paccuppanna), nên NÓ luôn là “mấu chốt chính xác nhất” của thời giankhông gian…để TRI THỨC của một người thanh tịnh khám phá và phát triển đạt đến “BÁT-NHÔ (Prajña), “chứng đắc” sự thật tối hậu (Ariya sacca), GIÁC NGỘ !

*Thực hành NIỆM THÂN (kāya-anupassaṭi) NIỆM THỌ (Vedanā-anupassati) là sống trong hiện tại. Vì chỉ có “cảm giác trong mỗi giây phút” mới phản ảnh đúng THỰC TRẠNG. Đây cũng là lý do…mà NIỆM THÂN và NIỆM THỌ là “2 mặt bất ly” của “pháp hành mầu nhiệm”, mở cửa THÂN TÂM…để khám phá ra “3 QUI LUẬT TỰ NHIÊN” (Sammattā niyamā) là VÔ THƯỜNG (Aniccā), CHỊU ĐỰNG thuận nghịch (Dukkha), và VÔ NGÃ hay HOÀN KHÔNG (Anattā) trong NGHIỆP QUẢ của thân tâm nầy.

*Khi NIỆM THÂN (Kāya-anupassaṭi) và NIỆM THỌ (Vedanā-anupassaṭi) đã thuần thục (cāturiya), thì TÂM THỨC (Citta-viññāna) của người tu sẽ thấy CHÍNH NÓ (Citta-bhūta) một cách rõ dần (pasanna-nimitta), bởi lúc ấy PHÓNG DẬT (Uddhacca) đã được bình định (upasamita), và THAM SÂN SI nhất thời bị “vô hiệu hóa” (balanāsana). -Nói cách khác, người tu thiền sẽ tự nhiên THẤY bộ mặt thật của TÂM THỨC chính mình (Sa citta-viññāna), xuyên qua “phản ứng của nó trước các cảm thọ”, gọi là phiền não (āsava).

-Từ đó NIỆM TÂM (Citta-anupassaṭi) và NIỆM PHÁP (Dhammā-anupassaṭi) sẽ tự động phát sinh, một cách đồng bộ. -NIỆM TÂM và NIỆM PHÁP là 2 phẩm cách “thăng hoa” (puppha-phala) của TỨ NIỆM XỨ, hay đúng hơn là thành tựu (vipāka) của thanh tịnh từ SẮC UẨN và THỌ UẨN, chứ không phải là “phản ảnh chủ quan” của TƯỞNG UẨN, như một số người mắc dính tư duy, suy nghĩ lầm.

-Nói theo THIỀN HỌC thì trong NGŨ UẨN (pañca-khandha), sắc uẩn (rūpa) và thức uẩn (viññāna) có “2 đặc tính riêng biệt” (asādhārana-lakkhaṇa), là hữu hình (diṭṭhigocara) vô hình (adiṭṭhigocara), hay hữu hạn (sīmita) và vô hạn (asīmita). Nhưng thọ uẩntưởng uẩn thì chỉ có “1 đặc tính chung (sādhārana lakkhana), gọi làảnh hưởng lây lan” (ānubhāva-saṅkamanīya). Riêng hành uẩn (saṅkhāra-khndha) thì “tùy cảnh”. -“HÀNH UẨN” luôn là “phương tiện” để THỌ UẨN hoặc TƯỞNG UẨN xử dụng.

-Căn cứ vào thực hành Tứ Niệm Xứ thì kết quả là :

<>Lúc thuần thục NIỆM THÂN (kāya-anupassaṭi) và NIỆM THỌ (vdedanā-anupassaṭi) thì hành uẩn (saṅkhārā-khandha) đi đôi với thọ uẩn (vedanā-khandha sahagata)…giúp cho THỨC UẨN (viññāna-khandha) tiếp nhận cảm giác THẬT (asaṭho vedanā pariyādiyana) thuộc hiện tại (paccuppanna). Từ đó chánh niệm TÂM (sobhaṇa-cittasaṭi) và chánh nhiệm PHÁP (sobhaṇa-dhammasaṭi) cũng đồng bộ phát sinh (sampajāti).

<>Lúc không NIỆM THÂN và thất NIỆM THỌ (kāya-vedanā-vimutti) thì hành uẩn đi đôi với tưởng uẩn (saññā-khandha sahagata)…lôi kéo THỨC UẨN (viññāna-khandha) phiêu lưu vào cảm giác GIẢ (saṭho vedanā pariyādiyana) của quá khứ hoặc tương lai. Từ đó tạp niệm TÂM (uddhacca cetasika) và tạp nhiệm PHÁP (akusala-dhammasaṭi) đồng bộ phát sinh.

*Đây chính là lý do các “THIỀN LÂM” kết luận “thực hành tứ niệm xứ là sống với hiện tại”!

-Người ta thường chủ quan TIN ẢO rằng “ai cũng có thể nhìn thấy chính mình”, nhưng khi  trải nghiệm thật kỹ thì không phải như vậy. Vì sự “nhìn thấy” ấy vốn là vận hành (saṅkhāra) của TƯỞNG UẨN, (sañña-khandha), hay của “ký ức phàm tình”. NÓ là hình ảnh tích tụ do lòng THAM và tật SI trong con người biểu lộ. -Sự “nhìn thấy chính mình” đó luôn không rõ rệt, không xác chứng ấy là “mình thật” hay chỉ là “cái mà mình mong muốn”.

-Do TIN ẢO như thế mà SỰU THẬT THỨ II (=khổ đế trong Tứ Diệu Đế), còn gọi là “CHỊU ĐỰNG THUẬN NGHỊCH”…bị che áng. Nghĩa là TÂM THỨC lúc bị TƯỞNG UẨN “khống chế” thì trở thành “biên kiến”, để cho các “độc chiêu” của SI MÊ và THAM LAM làm cho con người “thấy mình” như một thực tại quí giá, đáng xem là “bản ngã” (atta), có bản vị.

<>Tiếp theo, NIỆM TÂM (Citta-anupassaṭi) và NIỆM PHÁP (Dhammā-anupassaṭi) là 2 trong BỐN NIỆM XỨ (Catu saṭipatṭṭhāna), ám chỉ “khi tâm đã hội tụ năng lượng thâm hậu, tỏa sáng và soi rõ vạn pháp” một cách trực tiếp cũng như minh bạch…xuyên qua các tiến trình thăng hoa…thấu đến cứu cánh “BÁT-NHà (Prajña) thì “khoa học về vũ trụ” sẽ “phát sinh hiệu lực”. -Danh từ “BÁT-NHÔ (Prajña) ở đây…chính là “giải thích trọn ý”, giúp chúng ta đánh tan “mọi thắc mắc” về “lý do” nêu ra loạt bài “TRONG PHẬT GIÁO có BẢN SẮC KHOA HỌC” nầy.

-Ai có thể phủ nhận “KHOA HỌC vốn phát nguồn từ mảnh đất trí tuệ” (?), -Mà “Bát-nhã” (Prajña) trong nhà Phật là TRÍ TUÊ SIÊU VIỆT, hay “ẤY là tính thông minh phi thường, để đạt được những năng lực vượt hạn chế, giữa cõi đời hằng bị hạn chế” ! -Điện năng, lượng tử, phi thuyền, chuyển vận liên hành tinh, biến hóa, thay hình đổi dạng…v…v…là những chứng minh “sự vượt hạn chế” do BÁT-NHÃ (Prajña).

-Khi chúng ta thu hẹp “BÁT-NHÔ vào cuộc sống hợp tan xoay vần (=hỗn hợp không gian và thời gian), thì của “BÁT-NHÔ là niết-bàn (hay giải thoát, ra khỏi “sinh tử đồ”=Saṃsāra), và SỰ của “BÁT-NHÔ là “vật lý” lẫn “hóa học” (physique & chimie). -Rồi một ngày kia, khi 2 lãnh vực VẬT LÝ và HÓA HỌC trong “văn minh HẠN CHẾ hành tinh”, không còn xử dụng một cách CỤ THỂ nữa, thì danh từ “KHOA HỌC HIỆN ĐẠI” sẽ bị quên lãng và “loãng mất” vào biển “TRÍ TUỆ BÁT-NHÔ, làm “duyên” cho một “dạng khoa học khác” (Añña vịjjā) từ BÁT-NHÃ…phát sinh và thay thế !

<>Đến đây, chúng ta nhận thấy “TÂM ĐIỂM” của vấn đề nằm ở chỗ “hạn chế” (parimita) và “vô hạn chế” (aparimita), hay “hữu biên” và “vô biên”, -tức là HỮU SẮC (Rūpa) và VÔ SẮC (Arūpa)…trong “tiến trình thiền học” (bhāvanā pariṇāma) của nhà Phật, chứ không gì khác.

-Theo SỬ SÁCH thì “vô sắc thiền” của Bà-la-môn giáo (Brhama-sāsana) đã từng “có mặt” trong “văn minh cổ đại” ở Ấn-độ (Bhāratta) từ rất xa xưa. Nhưng “NÓ” chỉ đạt được tới “ĐÓ” mà thôi, -tương đương với “bế tắc” ! Trái lại, VÔ SẮC THIỀN (Arūpa-jhāna) trong nhà Phật không phải như thế, -chính “BÁT-NHÔ (Prajña) đã giúp cho “thiền sĩ lấy đà từ “VÔ SẮC GIỚI” (Arūpa), mà “vượt qua” toàn bộ “CÁC BIÊN” (sabba-sīmita) chứ không duy nhất là “nhị biên” (dvittatā) của THÔ (Olāriaka) hay TẾ (Sukhuma)…và “biến hóa tuyệt tịnh” (visuddhi suññatā) mệnh danh qui ước là “VÔ DƯ NIẾT-BÀN” (Parinibbāna), mà Phật học “phương tiện gọi” là “A-nhã Pháp” (Añña-sadhammā), hay SIÊU TAM GIỚI (Lokuttara). -Một “TỊCH PHÁP” (Santi-dhammā) bất khả thuyêt, bất khả tư nghì, –không ở trong lẫn không ở ngoài mọi VẬN HÀNH (saṅkhāra-vimutti).

<>“TỊCH PHÁP” (Santi-dhammā) là PHÁP “triệt tiêu” biên giới hay hình thức…”hóa giải” toàn bộ tính cụ thểtính khái niệm do “TỨ ĐẠI NGUYÊN TỐ(Catu mahādhātu), thuộc “DỤC GIỚI” (Kāmaloka) và “SẮC GIỚI” (Rūpaloka). TỊCH PHÁP là “bát-nhã” có thể “tuệ thông” cả đến TỨ ĐẠI SIÊU VIỆT(Catu mahābhūta), “khởi đầu” của mọi “BIẾN HÀNH” (Sabba-sādhāraṇa), tạo ra “TAM GIỚI” (Tiloka).

*Xin nói qua“TỨ ĐẠI SIÊU VIỆT” :

TỨ ĐẠI SIÊU VIỆT” là “4 nguồn gốc huyền bí” của «TỨ ĐẠI NGUYÊN TỐ» (Catu mahādhātu), nói “nôm na” là đất, nước, lửa, và khí, ở dạng THÔ (Olārika) cũng như ở dạng TẾ (Sukhuma). Tiếng Pàlì là paṭhavī, āpo, tejo, và vāyo. Đó là 4 vật chất hữu sắc, dễ thấy lẫn khó thấy, nặng lẫn nhẹ, mà chúng ta có thể tiếp nhận được bằng 5 giác quan, xuyên qua môi trường bình thường, hay với máy móc điện tử. -“TỨ ĐẠI SIÊU VIỆT” (Catu mahābhūta) nêu ra hôm nay, ám chỉ 4 vũ trụ năng (vô định), mà con người chỉ có thể “hiểu biết bằng trí óc”, chứ không chứng minh bằng vật thể khoa học được. Lý do là «BỐN VŨ TRỤ NĂNG» (4 bhūta) nầy “không nằm trong vận hành” của các giác quan (Iṅdriyāni), hay của máy móc điện tử (machine électronique), vì CHÚNG hoàn toàn «TRỐNG KHÔNG» (Suññatā).

*Chữ «MAHᾹ» tạm dịch là “ĐẠI”, ngoài cái nghĩa thông thường là “LỚN” so với “NHỎ”, nó còn có nghĩa là “có mặt khắp cùng”. Còn «DHᾹTU» chuyên thở nhiều ý nghĩa…như «yếu tố, khởi duyên, giới hạm, di thể, xá-lợi…v…v…. Nhưng ở đây “dhatu” ám chỉ tất cả những gì…là “nguyên ủy” của “vạn vật”, có mặt mọi nơi, bên trong lẫn bên ngoài các khí quyển…..

*Nhưng “BHŪTA” thì khác…..“bhùta” ám chỉ “vô biên linh ứng, chi phối và bao trùm vũ trụ”. “Bhūta” cũng có nghĩa là “chân hữu” hay “chân năng”, luôn luôn “không thậtcó thật”. -Chẳng hạn như 2 chữ «Bhūta Arahaṃ», tìm thấy trong kinh điển Pàlì, -nghĩa là “Chân thánh A-La-Hán”. Từ đó, «BHŪTA» không nên hiểu là bất cứ cái gì trong chế định cả. Nó có thể được tạm hiểu là “CHÂN KHÔNG DIỆU HỮU”.  -Vì tầm TRI THỨC phàm nhân quá lu mờ, quá hạn định, SO VỚI VÔ BIÊN VŨ TRỤ, nên chúng ta không thể dùng mắt thịt hay sự thông minh «thấy» được chân năng ấy. Vì vậy, chúng tôi đề nghị tạm dịch “MAHᾹBHŪTA” là «vô biên đại vũ trụ năng». -Và nội dung phần nầy xoay quanh chữ MAHĀBHŪTA, hay “vô biên đại vũ trụ năng” ấy. -Trong pháp học, khi bắt buộc phải nói đến «MAHĀBHŪTA», liên quan đến “TỨ ĐẠI”, chúng tôi đề nghị nên tạm dịch như sau :

1/Pathama mahābhūta là đệ nhất đại, chứ không gọi là thổ đại (mahāpaṭhavī).

2/Dutiya mahābhūta là đệ nhị đại, chứ không gọi là thủy đại (mahāpo).

3/ Tatiya mahābhūta là đệ tam đại, chứ không gọi là hỏa đại (mahātejo), và

4/ Catutthī mahābhūta là đệ tứ đại, chứ không gọi là khí đại (mahāvāyo).

*Vì sao ? -Vì khi chưa có pháp hành, thì «tứ vô biên đại vũ trụ năng» ở trạng thái «diệt trị» (nirvāna). -«CHÚNG» không là gì cả…không là chân đế…không là tục đế. …. không chế định được…. -Không ai biết “chúng ở đâu”…trong hay ngoài tam giới (?). -Điều chắc chắn là «chúng không biến mất” ! Chúng cũng không phải do nguyên ủy nào hợp thành cả ! Nhưng khi “tứ vô biên đại vũ trụ năng” (Catu mahàbhùta) ấy “linh hợp”, tự vận hành …thì chúng tạo ra BỐN ĐẠI NGUYÊN TÔ, tiếng Pàlì gọi là “CATU MAHᾹDHᾹTU”.

CATU MAHÀDHÀTU hay TỨ ĐẠI NGUYÊN TỐ.

<>Khi đệ I đại, đệ II đại, đệ III đại, và đệ IV đại (nói trên) “linh hợp” và “vận hành”…thì làm hiện ra tứ đại nguyên tố, hay bốn «gốc» (dhàtu), được chế định và được tạm gọi tên như sau : 1/Paṭhavì mahādhātu: Thổ đại (hay đất, chất đặc), 2/Àpo mahādhātu: Thủy đại (hay nước, chất lỏng) , 3/Tejo mahādhātu: Hỏa đại (hay lửa, vật cháy, nguội nóng), 4/Vāyo mahādhātu: Khí đại (hay gió, phong, vật thổi, vật nhún, vật ép, vật đàn hồi).

*Bốn nguyên tố (dhāàtu) nầy, lúc ở dạng tinh vi hay thô kệch, nhẹ hay nặng, thì chúng ta có thể tiếp nhận được bằng giác quan, hoặc bằng máy móc, và phân biệt qua tâm thức. -Lưu ý, trong Phật học, «thổ đại» (paṭhavī) bao gồm tất cả những gì là vật chất có hình thể, màu sắc…như kim loại, khoáng chất, thực vật và động vật..v..v….

*Ngoài ra, khi phân biệt qua các giác quan, chúng ta thấy dường như đất, nước, lửa,khí, BỐN ĐẠI NGUYÊN TỐ (catu mahàdhàtu) ở dạng thô…có vẻ «độc lập» riêng rẽ. Nhưng nếu khảo sát vào cực vi, «bốn nguyên tố gốc» ấy, chúng ta lại thấy chúng luôn luôn hòa vào nhau, có mặt trong mọi nơi. Ví dụ trong «THỔ» (chất đặc) luôn luôn chứa THỦY, HỎA, KHÍ, và ngược lại. Chỉ KHÁC ở TỶ LỆ của chúng trong mỗi vật chất, thì BẤT ĐỒNG, tùy thuộc vào tình trạng cấu kết… và CHÊNH LỆCH từ cực nhỏ đến cực lớn.

Còn CATU MAHÀBHÙTA hay TỨ ĐẠI VÔ BIÊN VŨ TRỤ NĂNG thì khác.

<> TỨ ĐẠI VÔ BIÊN VŨ TRỤ NĂNG khi ở trạng thái riêng rẽ, thì diệt trị, “CHÂN KHÔNG”. Ở tình trạng nầy, chúng ta chẳng có gì để nói, vì vấn đề nằm hẳn ngoài sức hiểu biết của con người. -Và khi nhìn sâu vàosự sống, chúng ta lại cảm thấy THÂN TÂM  “có thể” là «tứ đại vô biên vũ trụ năng đang ở pháp hành biến hợp». Từ đó chúng ta mới “nhờ” THIỀN HỌC, định tâm nghiên cứu về TỨ ĐẠI VÔ BIÊN VŨ TRỤ NĂNG (Catu mahàbhùta), xuyên qua sự cấu kết của TỨ ĐẠI NGUYÊN TỐ (Catu mahādhātu). -Nghĩa là chúng ta phải nghiên cứu cái CÓ hay cái “phối hợp hữu hạn” của “catu mahādhātu”, thì chúng ta mới có thể tạm hiểu cái KHÔNG, hay cái biến hành vô hạn của “catu mahābhūta”. Và dĩ nhiên chúng ta không nên nhầm lẫn hữu hạnvô hạn.

Nói về TƯỚNG và TÁNH (Lakkhana & Niccaparivattì)

Tướng (lakkhaṇa) là cái do duyên hợp mà thành, nên tự nhiên phải thay đổi. Nó thay đổi chậm hay nhanh, thô kệch hay tinh vi…nhưng luôn luôn nằm trong tiến trình biến dạng, một cách vô điều kiện. –Tánh (niccaparivatti) là cái làm cho tướng thích ứng với hợp tan, và chỉ thay đổi qua pháp hành của tướng. Nghĩa là tánh tùy tướngtự thay đổi, khi nào cả hai thuộc về dhàtu (nguyên tố). -Như vậy, chỉ có tướngtánh của «dhātu» mới hổ tương thay đổi mà thôi. Vì tướng và tánh của «dhàtu» là tướng và tánh của pháp hợp tan.

*Riêng “tướng” và «tánh» của «bhūta» thì không thể luận bàn, vì khi «bhūta» chưa tự biến ra dhàtu thì không có tướng lẫn tánh (=Diệt trị). Do đó xuyên qua «dhātu», chúng ta chỉ nghiên cứu được “tánh” của Bhùta mà thôi, chứ tướng của Bhūta thì không có gì cả !

«TÁNH» CỦA BHŪTA (Bhūta niccaparivattī)

-Như trên đã nói, khi «diệt trị» thì «BHŪTA» (=chân nguyên) cũng không có cả tánh nữa, và lẽ dĩ nhiên không có gì để nói. Nghĩa là “TỨ VÔ BIÊN VŨ TRỤ NĂNG” (Catu mahābhūta) ấy bất khả thuyết, bất khả tư nghì ! Nhưng nếu chúng ta quyết tâm tìm hiểu «tánh» của bhūta (hay tánh của vô biên đại vũ trụ năng), chúng ta phải dựa vào bình diện « diệt trị», trong trường hợp «tứ vô biên đại vũ trụ năng» ấy đã “hiện thân” là “Dhàtu”, NGUYÊN TỐ. -Nghĩa là nhờ các biểu hiện biến hợp, của «bhùta trở thành dhàtu» (=nguyên tố) ấy, chúng ta mới có thể tìm hiểu phần nào “tánh KHÔNG” của “bhùta”.

*Khi xét qua dạng của dhàtu, thì tánh của «bhùta» chỉ có MỘT, gọi là “một không”, nhưng “MỘT KHÔNG” ấy có 2 mặt đối nghịch và hổ tương lẫn nhau, là “một động” (+1) và “một tĩnh” (-1), như trong TOÁN HỌC vậy. Văn minh cổ Đông Phương cũng có THÁI CỰC là NGUYÊN THỦY, gồm 2 mặt, là “một âm” và “một dương” tương tự. -Vậy «tánh» của tứ vô biên đại vũ trụ năng ấy, theo ngôn ngữ  chế định là gì ?  -Đó là 4 cặp song đối :

Đệ nhất đại biến ra THỔ (Paṭhavì), tạm dịch là ĐẤT, có cặp tánh là cứngmềm (cương và nhu), 2 trạng thái. –Đệ nhị đại biến ra THỦY (Àpo), tạm dịch là NƯỚC, có cặp tánh là kết phân (hay 2 trạng thái hợptan, ly   kết). –Đệ tam đại biến ra HỎA (Tejo), tạm dịch là LỬA, có cặp tánh là nónglạnh (hay 2 trạng thái co   giãn, phù trầm, teo nở). –Đệ tứ đại biến ra KHÍ hay phong (Vàyo), tạm dịch là GIÓ, có cặp tánh là động tĩnh (hay 2 trạng thái anloạn).  

*Như thế, dựa theo «dhàtu» (nguyên tố), chúng ta có thể nói :

-Trong ngọn lửa cũng có «tứ đại vô biên vũ trụ năng”.-Trong không khí cũng có «tứ đại vô biên vũ trụ năng”.-Trong vật lỏng cũng có «tứ đại vô biên vũ trụ năng”.-Trong vật đặc cũng có «tứ đại vô biên vũ trụ năng”, và -Trong «KHÔNG GÌ CẢ» cũng có «tứ đại vô biên vũ trụ năng” vậy.

*Bốn «cặp tánh» của «TỨ ĐẠI NGUYÊN TỐ» (catu mahàdhàtu), sinh ra từ vô biên vũ trụ năng nói trên, có thể xem như những «NGUYÊN HÀNH» của vạn pháp, trong mọi «DUYÊN HỆ».-Nhắc đến duyên hệ là nhắc đến mối liên lạc, giữa NHÂN QUẢ (hay nguồn gốc và thực tại). Nếu nhân là «hạt» của quả, thì duyên hệ là những điều kiện ắt có và đủ, để giúp nhân (=hạt) nẩy nở, sinh ra quả.Từ đó suy ra, chỉ có “Catu mahàbhùta” biến ra “Catu mahàdhàtu” (hay tứ đại vô biên vũ trụ năng trở thành tứ đại nguyên tố) mới là “nguyên nhân sinh động của 5 trần, 5 căn, và 6 thức.Nói cách khác, cùng một lúc mà NÓ ở phương diện nầy gọi là XỨ (Àyatana), và ở phương diện kia gọi là GIỚI (dhàtu)…dựa theo Vi Diệu Pháp trong nhà Phật !

THẮC MẮC MUÔN ĐỜI cần phải THÁO GỠ thì SỰ TU THIỀN

hay THANH LỌC THÂN TÂM  mới CẦN THIẾT và CÓ Ý NGHĨA.

*Câu hỏi vẫn không ngừng đặt ra là –Phải chăng “tâm thức” (hay tinh thần) chỉ là kết quả của 5 trần tiếp xúc với 5 căn (còn hoạt động tốt) mà sinh ra ?! -Hay hỏi ngược lại –Nếu 5 trần không phối hợp tốt với 5 căn (tức năm giác quan), thì phải chăng không có “tâm thức” hay tinh thần ?!

– Người duy vật tin chắc vào luật ngẫu nhiên, của 5 trần (sắc, thinh, hương, vị, xúc) “hợp với” 5 căn (thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác), có hiệu quả tạo ra 5 thức (biết ở mắt, biết ở tai, biết ở mũi, biết ở lưỡi, biết ở da). -Khi “5 căn” diệt thì “5 thức” đang có cũng “diệt theo”. Và CÁI BIẾT “đi tái sinh” chỉ là một chuyện bịa đặt. (!) Từ đó, người duy vật đương nhiên phủ nhận luật nghiệp quả luân hồi…báo ứng !

-Thử thảo luận một cách cởi mở về vấn đề nầy, theo tinh thần trung đạo, chỉ cần tôn trọng sự soi sáng, chứ không cần tìm kiếm một đồng thuận, cũng không cần thống nhất quan điểm.

<>Trước tiên, xin nhắc lại 1 SỰ THẬT (Sacca). Đó là “hiệu năng của di tồn nhiên lực” (Conservation de l’énergie). Theo khoa học, “hiệu năng di tồn nhiên lực” có “mặt trái” là luật vô thường, hay tính biến đổi không ngừng, trong mọi vật chất. Và tổng hợp 5trần + 5căn = 5thức, biến đổi luôn luôn, là 1 điều tự nhiên. Vì chúng là vật chất hằng biến, nên phải thay đổi liên tục, để tương ứng với sự ngẫu nhiên, luôn luôn sinh ra 5 thức. –Nhưng có một điều lạ, là hiệu lực sống, xuyên qua năm trần cộng với năm căn hằng biến đổi, lại sinh ra sáu thức, chứ  không phải năm thức. –Mà khoa phân tâm học của phái duy vật liền gọi ấy là «thức thứ sáu».

*Rồi trên thực tế, những «tiết lộ» của «thức thứ sáu» lại phản khoa học, hay nằm ngoài «lô-gíc» (hợp lý). Như trong lĩnh vực lượng tử (quantique), ngày nay người ta đã tìm ra một «hiện tượng», gọi là phản vật chất (antimatière). Và hiện tượng nầy không tuân theo luật hợp lý tí nào ! -Tình trạng đó gián tiếp khuyến khích chúng ta, hướng đến «tâm linh» dù cho rất «phức tạp». Còn Vi Diệu Pháp hay duy thức học trong đạo Phật, thì nêu ra cả đến thức thứ bảy (Màna) và thức thứ tám hay «tàng thức» (Bhavaṅga, Àlaya),  chứ không phải dừng ở thức thứ sáu !

*Thành thử, kết luận rằng «do phối hợp vật chất mà ngẫu nhiên, sinh ra tâm thức», đã không đứng vững. Đó chỉ là «suy luận chủ quan» dựa trên vật chất (hữu hạn), về con người mà thôi. Nó không thể toàn tri trong tiến trình tư tưởng. Nó chỉ là «một sáng tạo» của «trí khôn không hoàn hảo». Theo Phật giáo, sự «sáng tạo» ấy đến từ thức ham sống tương đương với thức duy ngã trong vòng luân hồi. Thức duy ngã (hay «thức ham sống») nầy cũng là «động cơ», chiêu cảm ra khung cảnh để «sinh hoạt», gồm không gianthời gian. -«Mấu chốt» của tái sinh !

KHÔNG GIAN hay KHOẢNG CÁCH

1/Vật tương đối ở xa giác quan, và không bị ngăn cách, mà giác quan vẫn nhận được, là THINH TRẦN. 2/Vật trong tầm của giác quan, và không bị ngăn cách, thì giác quan mới nhận được, là SẮC TRẦN. 3/Vật phải hướng về phía giác quan, và không bị ngăn cách, thì giác quan mới nhận được, là HƯƠNG TRẦN. 4-5/Vật phải tiếp xúc với giác quan, thì giác quan mới nắm bắt, là VỊ TRẦN hay XÚC TRẦN. Và…biểu tượng của không gianxa gần. Còn biểu tượng của thời giandài ngắn. Nhưng cả «2 biểu tượng» đều phải “trải nghiệm” thì mới BIẾT.

*Đối với «CHIÊU CẢM», thì XA GẦN cũng là DÀI NGẮN.

Từ đó suy ra, “khoảng cách KHÔNG GIAN chính là “khoảng cách THỜI GIAN”.

Hay KHÔNG GIAN cũng là THỜI GIAN.

*Cả không gianthời gian đều đến từ “CHIÊU CẢM” của tinh thần, tức pháp hành trong THỨC HAM SỐNG (hay thức tạo ngã), mà THỨC HAM SỐNG (hay thức tạo ngã) là “TÁNH ĐỘNG” của “Tứ Đại Vô Biên Vũ Trụ Năng” (Catu mahābhūa). -Những ưu thế XA hay GẦN (không gian), DÀI hay NGẮN (thời gian) cũng từ chiêu cảm ấy mà ra. -Hãy qui nạp rằng :

<>Không gian là vật chất, giải thoát được vật chất là ở ngoài không gian. Thời gian là tinh thần, giải thoát được tinh thần là ở ngoài thời gian ! Bậc TOÀN XẢ hết bị không gian và thời gian ràng buộc thì siêu độ, chấm dứt sinh tử !

Nói về CON NGƯỜI

<>Con người là một «ưu động vật» (Super being), trên tất cả sinh vật. Con người đóng vai trung gian giữa ĐỘNG (Sañcarana) và TĨNH (Acalavatthu niyāma). *Con người có 2 phần là phần biến (rūpantara-parivattana) và phần phi biến (na- rūpantara-parivattana) (°). *Phần biến thì sinh diệt, vô thường, thay đổi, vướng mắc, chấp tướng, gọi là danh sắc (=tâm vật) rất phàm tục, đương nhiên phải luân hồi. *Phần phi biến (hay xả), không vướng mắc, vô chấp tướng, là phần thanh khiết, thánh thiện, vượt luân hồi. -(°) “Phi biến” có nghĩa là vượt lên mọi biến hóa, không chấp trước, không tù hãm, không vướng mắc. -Và “phi biến” (na- rūpantara-parivattana) không phải là “bất biến” (arūpantara-parivattana), cái nghịch hành tương đối với “phần biến”.

*Như vậy, SỰ SỐNG chỉ là phần «diễn tiến linh động» của phần biến, tức là của «tứ đại vũ trụ năng biến thành bốn nguyên tố». Diễn biến đó có thể ở dạng thô kệch hữu hình (olārika), hay ở dạng tinh vi vô hình (sukhumā). -Nhưng dù THÔhay TẾ, cả hai cũng chỉ là những «Dhàtu» (tố chất). Còn Bhùta (chân nguyên) của “con người” nói riêng, và của chúng sanh nói chung, thì “linh diệu” trống không, chẳng sinh diệt, «bất khả thuyết, bất khả tư nghì», chỉ có Bậc Giác Ngộ (Sambuddha) mới rõ. -Nhờ Phật học mà chúng ta biết như thế !

*Con người có thân thể là biểu tượng của thổ thủy, hay phần thô tướng của tứ đại nguyên tố (dhàtu). *Con người có nhiệt (hỏa) và hơi thở (khí) là phần vi tướng của tứ đại nguyên tố (dhàtu). *Con người có sự dẻo dai, mềm mại, là cơ năng sinh động của tứ đại nguyên tố (Dhàtu). *Và con người có sự trầm mặc là «tánh» hướng tĩnh của tứ đại vũ trụ năng (bhùta).

-Khi kiếp phàm chấm dứt, thì tứ đại nguyên tố (dhàtu) trở về “GỐC”, tùy theo nghiệp quả.

-Khi kiếp thánh chấm dứt, thì tứ đại nguyên tố (dhàtu) trở về tứ đại vô biên vũ trụ năng (bhùta).

*Trong tứ đại nguyên tố (catu mahàdhàtu), có «nguyên tố khí» (vāyodhātu) hay hơi thở (ānāpāna) là đề mục thích hợp nhất, để hành giả tu thiền đạt đến «tịnh xả», quay về với vô biên tứ đại vũ trụ năng. Và chữ “Yathà bhùtaṃ” ám chỉ “cứu cánh giải thoát” cũng không ngoài ý nghĩa nầy. -Vì chư Phật đã hội nhập vào tứ đại vô biên vũ trụ năng (Niết Bàn=Nibbāna), nên các Ngài mới có thể biết cái gì là phi linh hồn hay «vô ngã». Phàm nhân qua thiên kiến, vướng mắc trong tam giới “hữu vô”, không bao giờ lý giải được.

NGÃ và VÔ NGÃ theo quan niệm phàm tình

*Trước tiên cần nói rõ, «ngã» trong tổng quát, thường ám chỉ cái «ta» (atta=atma). Nhưng «» cũng ám chỉ «thần ngã», hay «linh hồn» của một người còn sống hay sau khi chết. Nghĩa là «ngã» là «phẩm vị» của một con người, gồm tinh thần và thể xác, được mệnh danh là «tôi». Từ đó sinh ra cái «ngã chung», là chúng tôi, hay chúng ta, ngã sở là thân ta, rồi giòng họ ta, nòi giống ta, đồng bào ta, nhân loại ta..v..v…

*Hãy bắt đầu một đơn vị thôi, bằng cái “ngã bẩm sinh” của đứa trẻ mới ra đời, và được đặt tên là “Sơn” (ngã danh). Sau đó nó được tiếp tục điều kiện hóa bởi đời sống vật chất (ngã sắc), trong đó lòng tham sống hay thức tham sống là chủ lực. Rồi sau cùng xem “sự sốngngã» !

*Bồ-tát Sĩ-Đạt-Ta, tức đạo sĩ Cồ Đàm (Gotama) đã không lý thuyết vô ngã, mà Ngài đã thực hành hạnh «vô ngã», suốt 6 năm trường, không coi xác thân (nhân vị) ra gì cả. Cuối cùng Ngài nhận thức rằng : “Chỉ xuyên qua sự sống lành mạnh, mới vượt ngã, viên tròn Phật phẩm Ba-La-Mật”. Ngài đã quay về trung đạo, -không ép xác bỏ ngã, -cũng không lợi dưỡng vì ngã.

*Khi ghi nhận cái tiến trình 1 đứa bé chào đời, mang ngã danh, dính vào ăn uống dinh dưỡng, vướng ngã sắc. Và ngã danh ấy dần dần chất chồng lên. Từ thằng bé Sơn đến cậu tú Sơn, rồi ông kỹ sư Sơn, thăng quan làm tổng giám đốc Sơn, sau cùng là ngài bộ trưởng hay ngài thủ tướng Sơn…v…v… -Ở giai đoạn nào, con người ấy cũng tự nhiên cảm thấy mình có cái ngã danh theo hoàn cảnh hiện tại…, -Sơn không quan tâm đó là “TA thật” hay “TA giả”. 

*Và ngã sắc (tức là thân xác) cũng thế, từ trẻ con cho đến lúc trưởng thành, già nua, bệnh hoạn, rồi chết. Khối thịt xương sinh hoạt cho là «ngã» kia, thay đổi không ngừng, dẫn đến sự tự động hư hoại, bất lực, tan rã, biến mất. Tất cả những điều ấy, dù kẻ thất học cũng dư biết, làm sao có thể cho là “có ngã thật” (với nghĩa bền vững), hay của “có ngã giả” (chỉ một thời gian), nên nhà Phật gọi ấy là vô ngã tướng. Kinh Phật nói “Các pháp tướng do duyên hợp mà thành, vô thường, hiện diện có điều kiện, đều không có tự ngã. *Vô thường, chịu đựng thuận nghịch, vô ngã…hằng “minh thị” trong các pháp tướng hợp tan, tạm thời, luân hồi là một chân lý, một SỰ THẬT (Sacca). Khó ai có thể phủ nhận, chỉ cần có trí tuệ bình thường thôi. -Nhưng chúng ta không nên chấp vào sự thật “vô ngã” ấy, mà phủ nhận luật nghiệp quả, xác định không có chúng sinh luân hồi, bằng tâm thức tham sống từ kiếp trước, chuyên chở hiện nghiệpquá nghiệp. Vì phủ nhận như thế là đoạn kiến (uccheda-diṭṭhi) ! -Ngoài ra, sức mạnh của lòng tham trong sự sống vốn là con dao hai lưỡi. Nó cũng là động cơ của tiến hóalẫn thoái hóa. Nếu tham tiền, làm cho người ta cướp của, thì tham danh thơm lại làm cho người ta bố thí, -vì bố thí thật nhiều để được khen tặng vẫn có phước và được quả hữu lậu !

Trí tuệ» theo ngôn ngữ bình dân, thường có nghĩa là trí khôn (hay sự thông minh). Nó thực ra không phải là Trí Tuệ Bát Nhã (Prajña=Paññà), hay trí tuệ giải thoát trong nhà Phật. «Trí tuệ» (hay sự thông minh) ấy cũng là sản phẩm của lòng tham. Nó chỉ có khả năng «biểu diễn» sự «khiêm nhượng», chẳng hạn như thích nói về «vô ngã» để được chú ý, nể phục, chiếm cảm tình, chứ nó chẳng có hiệu lực gì trong việc thay đổi «bản tánh tham lam” của con người ! «Trí tuệ» hay sự thông minh, trong chừng mực nào đó, chỉ có thể tạm làm giảm sự ngu dốt, thất học trong xã hội…chứ chắc chắn nó không trừ được lòng tham. -chưa kể “nó” hoàn toàn không chuyên chở được ý nghĩa của 2 chữ “BÁT-NHÔ (Paññà hay Prajña) trong kinh Phật. Chúng ta không nên hiểu lầm rằng “người có nhiều bằng cấp cao, và thông hiểu kinh sách nhà Phật, là kẻ có trí tuệ bác nhã». Trên thực tế, lòng tham có thể đánh bại cái «trí khôn phàm tục» kia rất dễ dàng. Người ta đã chẳng nói «tiền tài ám nhãn hay làm cho mờ tối trí óc» đó sao ?!

-Mặt khác, lòng THAM còn “mạo nhận” THIỀN PHÁP. Nó cũng “đánh bóng” người phàm chưa đạt chánh định, chưa tịnh xả, mà «tập cảm giác” hay “suy nghĩ như thánh nhân”, để tưởng tượng là mình đã “thấm nhuần giáo lý”, và kết thúc bằng “tự lừa gạt” đạo đức, sống trong ảo vọng, gia tăng vô minh.

*Muốn hóa giải lòng tham, người tin Phật phải bố thí, trì giới, và tham thiền, rồi tu tập có chánh niệm thuần thục, thấm nhuần tịnh xả theo pháp Phật, không vướng mắc, không chấp thủ. Sau đó người tu mới có Trí Tuệ Bác Nhã, đủ khả năng vô hiệu hóa lòng tham, nhờ có tâm thức anh minh (Vijjà citta), sáng suốt chứng vô lượng tâm XẢ, nhập vào thánh lưu, thấy được giải thoát (nibbindati), bằng Bát-nhã, không vướng vào bất cứ pháp gì trong tam giới nữa.

*Khi đức hạnh ba-la-mật được viên tròn, thì hết sinh tử luân hồi, và chứng «niết bàn» là hội nhập vào “TỨ VÔ BIÊN ĐẠI VŨ TRỤ NĂNG” (Catumahàbhùta). -Trở thành VÔ NGà!

<>Muốn bước vào con đường GIẢI THOÁT ấy, hãy bắt đầu bằng giới định tuệ (sīla-samādhi-paññā), mà đề mục đưa đến chánh định (sammā-samādhi), là đề mục HƠI THỞ (ānāpāna), để tiếp cận và hướng về khí đại vô biên vũ trụ năng (YATHᾹBŪTA).

Trở lại VÔ SẮC THIỀN (Arūpa bhāvanā).

<>Sau khi người tu thiền đã thuần thục tiến hóa, thành tựu đến đệ ngũ thiền hữu sắc, (pañcama-rūpa-jhāna) vững chắc với 2 chi thiền “XẢ” (upekkhā) và “ĐỊNH” (ekaggatā), thì năng lực của XẢ và của ĐỊNH sẽ tự nhiên thăng bằng (rajjjugāmīnaṭa). Ở “trình độ” nầy, XẢ sẽ làm cho ĐỊNH không vướng vào một đề mục duy nhất, mà trước bất cứ đối tượng nào, người tu cũng đều luôn luôn ĐỊNH (một cách vô chấp hay XẢ). -Từ đó “THỜI ĐỊNH” (kāla-ekaggatā) trở thành THƯỜNG ĐỊNH(nicca-ekaggatā). -Nghĩa là TÂM THỨC của người tu “an chỉ” (appanā) trong từng “sát-na” (khana), không bị gián đoạn, và tâm thức PHÁT QUANG (đắc tuệ), “thấy rõ” mọi biến hành nơi ngũ uẩn (pañca-khandha)…nên gọi là QUÁN hay MINH SÁT (Vipassaṭi). *“QUÁN” ở đây không phải là suy tư, phân tích theo chủ quan, mà là “nhìn thấy một cách như thị” (yathābhūta), tỉnh thức từng thực tại (saṭi-smpajañña=minfullness).

-Rồi phẩm cách XẢ thuần thục chính là “nấc thang” đưa tâm thức “tịnh sĩ” tiến lên VÔ SẮC THIỀN, tức là chứng đắc “TÂM CẢNH không còn giới hạn”, hay còn gọi là “không gian VÔ BIÊN”. Và 4 “tầng thiền” VÔ SẮC là :

1/KHÔNG VÔ BIÊN XỨ : Ᾱkāsānañcāyatana paṭhama-arūpa-jhāna = Đệ nhất thiền vô sắcđề mụckhông gian vô biên, đối với tâm thức (citta-viññāna).

2 THỨC VÔ BIÊN XỨ : Viññānañcāyatana dutiya-arūpa-jhāna = Đệ nhị thiền vô sắc có đề mục là đối tượng vô biên, tâm “thấy” cảnh là không gian vô biên.

3/VÔ SỞ HỮU XỨ : Ᾱkiñcaññāyatana tatiya-arūpa-jhāna = Đệ tam thiền vô sắcđề mụckhông vô biên xứ, TÂM BIẾT CẢNH vô hạn xả ly nguồn cội, không vướng mắc xuất xứ.

4/PHI TƯỞNG PHI PHI TƯỞNG XỨ : Nevasaññā nāsaññāyatana catuttha-arūpa-jhāna = Đệ tứ thiền vô sắc có đề mục không phải là tưởng, TÂM thoát ly khỏi ký ứcvô chấp.

*Và tương tự như thiền hữu sắc, THIỀN VÔ SẮC (Ᾱyūpa-bhāvanā) tuy bao gồm “4 bậc”, nhưng khi phân theo“phẩm cách”, thì cũng có 3 loại, là 1/THIỆN (kusala), 3/QUẢ (Vipāka), và 3/DUY TÁC (Kiriya). Mỗi phẩm cách cũng gồm “4 bậc”, nên tổng cộng có “12 tâm thiền” VÔ SẮC (3×4=12)…-Có hiệu lực như sau : 

 –Bốn tâm thiền vô sắcphẩm cáchTHIỆN”, sau khi chết sẽ tái sinh và cõi phạm thiên thấp.

Bốn tâm thiền vô sắcphẩm cáchQUẢ”, sau khi chết sẽ tái sinh và cõi phạm thiên trung bình.

Bốn tâm thiền vô sắcphẩm cáchDUY TÁC”, sau khi chết sẽ tái sinh và cõi phạm thiên cao.

<>Đến đây, tưởng cũng nên không bỏ qua một “ĐẶC PHẨM” trong thiền học Phật giáo…tên là “DIỆT THỌ TƯỞNG ĐỊNH” (Nirodha-samāpatti). Đây là một “tuyệt phẩm thiền”, rất “cao siêu và ngoại lệ”. -CAO SIÊU và NGOẠI LỆ… không phải là nó “phản khoa học”, mà vì nó vô cùng “quí hiếm” (vượt khoa học). Các bậc Thánh dưới “Bất Lai” (hay “A-na-hàm”=Ᾱnāgāmi) không thể làm được, khoan nói đến “thiền nhân” còn phàm phu. -Nghĩa là muốn nhập vào “DIỆT THỌ TƯỞNG ĐỊNH” (Nirodha-samāpatti), nhân vật thực hiện” cần hội đủ các yếu tố như…phải là Thánh nhân A-na-hàm trở lên, đồng thời cũng thuần thục BỐN thiền vô sắc, nhất là PHI TƯỞNG PHI PHI TƯỞNG XỨ (Nevasaññā nāsaññāyatana catuttha-arūpa-jhāna). -Không có kinh sách nào xếp loại “DIỆT THỌ TƯỞNG ĐỊNH” (Nirodha-samāpatti), thuộc về VÔ SẮC THIỀN Arūpa bhāvanā) hay “SIÊU THẾ THIỀN” (Lokuttrara bhāvanā), nhưng chúng ta có thể hiểu rằng, “PHẨM THIỀN” nầy lấy Đệ Tứ Thiền Vô Sắc (=PHI TƯỞNG PHI PHI TƯỞNG XỨ) làm nền tảng, thì “NÓ” rất siêu việt và rất gần với “THIỀN SIÊU THẾ”.

*Điểm khác biệt giữa “THIỀN SIÊU THẾ” và “DIỆT THỌ TƯỞNG ĐỊNH”, là Thiền Siêu Thế thì nhắm đến VÔ DƯ NIẾT-BÀN (tức là khi thánh nhân hết tuổi thọ), lấy chứng đắc “TAM TƯỚNG” là vô thường, khổ não, vô ngã, để củng cố sự GIÁC NGỘ” (Bodhi-pakkhiya), hầu triệt tiêu 10 dây cột tâm linh vào bánh xe sinh tử luân hồi (dasa samyojana), bắt đầu bằng 3 sợi gồm 1/“THÂN KIẾN” (Sakkāya-diṭṭhi), 2/“HOÀI NGH” (Vicikiccā), và 3/“GIỚI CẤM THỦ” (Sīlabbata-parāmāso). Còn Diệt Thọ Tưởng Định thì “vô hiệu hóa” THỌ UẨN (vedanā=thân cảm hiện sống) và TƯỞNG UẨN (tâm cảm ký ức lưu lại) trong THỰC TẠI.

*Một số sách thiền tiết lộ rằng “khi nhập DIỆT THỌ TƯỞNG ĐỊNH thì thánh nhân không cảm giác khổ vui, ngừng hơi thở, và không tiêu thụ năng lượng”. -Sự NGƯNG THỞ ấy có thể làm cho người đời lo sợ, nhưng khoa học động vật ngày nay cũng chứng minh rằng “ngừng thở chưa chắc là đã chết”. (Ở Bắc cực có một số sinh vật ngưng thở trong nước đá nhiều tháng, trước khi nhiệt độ tăng, để chúng thở trở lại, và tiếp tục sống) -Đây là một lãnh vực “siêu thần bí” và rất nhạy cảm, diễn tả chi tiết…chỉ đưa đến tranh luận, khó đồng thuận vấn đề…-Chúng tôi mạn phép không bàn sâu vào phẩm thiền DIỆT THỌ TƯỞNG ĐỊNH nầy, -đơn giản chỉ vì xét mình còn phàm, chưa phải là “Thánh Bất-Lai” (A-na-hàm=anāgāmi). Và xuyên qua 3 đoạn nêu trên, chúng tôi thiết nghĩ “có thể xem là những điểm chính về DIỆT THỌ TƯỞNG ĐỊNH”.

THIỀN PHÁP (Bhāvanā) VÀ Y THUẬT (Osadhappayoga).

 <>Chúng ta đang sống trong một “thời đại”, mà đa số những“bệnh hoạn”, kể cả “tai ách”,  và “dịch lạ” vốn phát nguồn từ con người. Chúng đang “ngấm ngầm thành hình”, rồi “bùng nổ” bất cứ lúc nào ! -Vào thời hoang dã bán khai, thì“bệnh hoạn” hay “tai ách” có «nguồn gốc» từ sự ngu dốt, không biết xử dụng cảnh vật một cách hợp lý, hay không biết tôn trọng cái “giá trị hằng hữu” của thiên nhiên. Loài người đã sống thiếu lý trí và hoàn toàn chẳng vệ sinh.

*Còn thời đại “tân tiến” ngày nay, thì “bệnh hoạn”, «dịch tai» xảy ra…cũng do chính «con người văn minh» là khởi điểm. Cái «nghịch lý» là «càng tân tiến con người càng trở thành xấu», vì tham lam, ích kỷ, dùng nhiều “trí khôn vụ lợi”, xem thường thiên nhiên, và xử dụng quá nhiều hóa chất !

*Nói về “THIÊN TAI” thì người ta nghĩ ngay đến “tình trạng lý hóa” trên mặt đất (=trong bầu khí quyển), nơi con người đang sống, không ngừng cạnh tranh lẫn nhau, một cách khốc liệt, háo thắng,dưới dạng cá nhân cũng như đoàn thể, quốc gia. Nhóm từ “KHỐC LIỆT, HÁO THẮNG” ở đây đáng ám chỉcó tính cách ngầm phá hoại cõi sống”! –Nghĩa là nguồn gốc của cái gọi là «BỆNH HOẠN» và «THIÊN TAI»… phần lớn phát sinh do môi trường sinh thái, cần thiết để nuôi sống con người, đang bị chính con người chẳng những không trân trọng, mà còn vô tình hay cố ý  xâm phạm, làm cho NÓ mỗi ngày một tồi thêm, BẤT ỔN !

*Hãy nhìn vào sự XÁO TRỘN, một ngày kia có thể xem là vượt mức chịu đựng của TRÁI ĐẤT, đang dần dần làm mất tính thăng bằng, trong bầu khí quyển bao quanh địa cầu. Chúng ta phải biết rằng, toàn bộ NƯỚC trên mặt đất, nằm trong tất cả sông, hồ, suối, rạch, “biển khép kín” và các đại dương bao la…từ ngàn xưa đã được ĐỊA CẦU “cưu mang trên mình”, và “tự điều chỉnh sức chao đảo của chất lỏng”, với một “tỷ lệ thuận tiện nào đó”, để NÓ khả dĩ lăn tròn một cách bình thường, trên quỷ đạo xung quang MẶT TRỜI…đồng thời ban cho tất cả sinh vật, bốn mùa Xuân-Hạ-Thu-Đông, với các thời tiết có chu kỳ sinh hoạt chừng mực !

*Nhưng “TÌNH TRẠNG” đó của quả đất, đã không còn được duy trì như trước, vì hầu hết những “khối chất lỏng quan trọng” (=nước) trên lục địa, hiện tại đã bị nhiều thẩm quyền quốc gia, “tập trung quá độ” ở một số “địa điểm” gọi là ĐẬP NƯỚC, có kích thước “siêu khổng lồ”, nhằm khai thác nguồn thủy điện, một cách ngang ngược và độc quyền, mà “không tôn trọng sự quân bình trọng lực”. -Lượng NƯỚC phía trên bán đảo Đông Dương, của dòng sông Cửu Long (Mékong) đã bị Tàu cộng cưỡng đoạt, trước khi đổ ra biển, là một bằng chứng !

*Ngoài ra, kỹ nghệ NHẸ và NẶNG, chạy bằng thuật đốt cháy nhiên liệu hữu cơ, cũng tiếp tay nhả khói một cách vô độ lên bầu trời…khiến cho lớp “OZONE” (bảo vệ khí quyển bao bọc địa cầu) bị yếu đi, không đủ sức ngăn cản những tia sáng cực nóng của mặt trời, đã làm cho các vùng băng tuyết ở Bắc cực lẫn Nam cực tan chảy, khiến cho mặt nước đại dương dâng cao, sẽ ngập kín nhiều hành phố ven biển, tạo ra nhiều “xáo trộn đảo ngược” trong chu kỳ sinh hoạt khí hậu (hay phong thủy) của “thiên nhiên”….-Kết quả, TRÁI ĐẤT phải mất thăng bằng, và ĐỘ QUAY xung quang TRỤC Nam và Bắc Cực, phải dần dần SAI LỆCH…phiêu lưu !

*Thực tại đó đang đảo lộn hầu hết THỜI TIẾT và “sự sống” trên Quả Đất. Rồi hiện tượng không thể tránh được sẽ là mưa to, lũ lớn, hạn hán, núi lửa bất thường, hàn nhiệt bất tương dung, không chan hòa, trở thành cục bộ, xung đột dây chuyền, khiến cho sâu bọ kỳ lạ, độc địa chưa từng thấy, bỗng nhiên xuất hiện…dày đặc tại nhiều nơi !

*Giả sử ĐỊA CẦU là một HÀNH TINHcó cảm giác”, và toàn thể động vật, thực vật, côn trùng, từ cực nhỏ đến cực lớn, là những “phần tử sinh ra” trên mình NÓ, được NÓ “ban cho” các nguồn dinh dưỡng, như chất đặc, chất lỏng, chất khí, chất hơi, độ nóng, độ lạnh…để tồn tại lẫn phát triển, mà các loài vật ấy quên mất thân phận “ăn gởi ở nhờ” của mình, chẳng biết ơn đất MẸ, cứ tiếp tục “quấy rầy”, thì “ĐỊA CẦU” phải “phản ứng LÝ HÓA” ! -Và đáng tiếc thay, kẻ DẪN ĐẦU “phá hoại” đất MẸ nhiều nhất, lại là “con người”, một sinh vật hằng tự hàorất thông minh”, và thường xuyên “đề cao” hai chữ “biết ơn” !

*Xuyên qua «qui luật LÝ HÓA»…nếu ĐỊA CẦU vì “cảm thấy bất tiện trọng lực” (do chất lỏng không thăng bằng gây ra) mà “phản ứng” rùng mình vài cái….thì phải chăng đó là khởi điểm của “sóng thần cao ngất”, “động đất kinh hoàng”, hay bão tố hỗn loạn, BẦM DẬP toàn thể bầu khí quyển ?! -Những cái “RÙNG MÌNH” ấy, chính là “đại khai môn”của hàng loạt hỏa diệm sơn, “đại rạn nức”của năm châu lục địa, và “đại nổ lớn”của toàn bộ thế gian…mạnh biết bao nhiêu lần những võ khí tối tân nhất của các “siêu cường” !? -Tất cả sự “RÙNG MÌNH” vừa nói, chắc chắn không phải là “phản ứng cuối cùng” của MẸ ĐẤT, mà chỉ là một “sinh hoạt tự nhiên”, dọn dẹp những “bất tiện” trên mình MẸ, để thiết lập “bộ áo mới”, và “tái sản sinh” một “thiên nhiên nguyên thủy khác” tiếp theo… mà “bộ óc duy tâm” của con người có thể nghĩ rằng, đó là “lập lại trật tự thế gian”, theo qui ước của “nghiệp nào quả nấy” !  

*Xem ra, «LUẬT NGHIỆP QUẢ» trong nhà Phật, rõ ràng không phải là một tín điều, mà là một «ĐÁP SỐ» phải có…của bài toán !

<>Và ấy cũng sẽ là “chuyện nhỏ”, nếu một số con đập nhân tạo nào đó, gọi là “vĩ đại” trên mặt đất, bỡi vì “lý do” kia…mà chỉ “trong nháy mắt “tự vỡ tung”, trả “tự do” cho một lượng nước siêu khổng lồ (đã bị cưỡng chứa), hung hãn cuốn trôi tất cả những gì xung quanh nó, xóa sổ cả một đế quốc cuồng vọng, muốn làm bá chủ thế giới…-xác nhận hiện tượng “gậy ông đập lưng ông”, như truyện võ hiệp nước Tàu đã nói ! -Rồi toàn thể sinh vật trên mặt đất sẽ đi về đâu, lúc “địa cầu trở mình” như thế ? -Tiền bạc, danh vọng, quyền lực tột đỉnh, có thể nào đối phó nổi với các “biến cố kinh khủng” ấy chăng ? -Chưa kể hậu quả ngấm ngầm đáng sợ của các sự khai thác địa chất qui mô, suốt nhiều thế kỷ qua, như dầu lửa và các khoáng sản khác, dưới mặt đất hay trong biển cả, bởi lòng tham vô đáy của các nhóm tài phiệt, vốn có liên quan mật thiết với những giới chức cầm quyền, “đồng lõa” ham làm giàu trên thế giới, đã khiến cho ĐỘ VỮNG CHẮC của VỎ TRÁI ĐẤT bị “tổn thương” sâu xa lẫn nghiêm trọng !

*Và hiện tại là dịch VIÊM PHỔI “Covid 19” (Vũ-hán), phải chăng cũng là MỘT trong những “HIỆN TƯỢNG” do bàn tay con người VỤ LỢI gây ra, dù cho “CÁI CHẾT” được xem là sự “tổn hại êm dịu” ! -Dịch “COVID 19” hiển nhiên đang là “sát thủ hung hãn” đối với cả nhân loại, chứ không riêng một quốc gia nào !

Ngược giòng lịch sử, theo các Nhà Y thuậtVi trùng học, thì sự xuất hiện của “bệnh hoạn” ngày xưa, là “hậu quả” của các “yếu tố hấp thụ xấu”, như thiếu dinh dưỡng (vì nghèo đói), sống không vệ sinh (ăn uống dơ bẩn), hay ngu si… trong xã hội loài người, suốt thời kỳ còn ăn lông ở lỗ, ẩn thân trong hang động !

*Đó là lý do mà các giới Y học chân chính hiện nay, chủ trương rằng “phải cần tìm ra thuốc chích ngừa, và dược phẩm đủ khả năng diệt trùng, diệt khuẩn…bên ngoài lẫn bên trong thân thể động vật (gồm con người), mới có thể chấm dứt được các dịch bệnh !” (?). -Nhưng song song với sự nghiên cứu không ngừng nghĩ, của các nhà “khoa học thân thể”, con người sáng suốt còn phải coi chừng LÒNG THAM VÔ ĐÁY của một số cá nhân, để biết rằng…chưa chắc “thuốc chích ngừa” và các “dược phẩm trị liệu” ấy, có thể thoát khỏi bàn tay của những con buôn, nhiều mánh khóe đầu cơ…từng nhiều lần “làm giàu” trên những bệnh tật của đồng loại !? -Nhà Phật, tất nhiên đã không ngừng báo động, về các “nguyên nhân sâu xa của bệnh tật và thiên tai”, mà “văn minh vật chất” dù “tối tân” đến đâu, vẫn không thể giải trừ tận gốc được.

<>Ưu điểm của đạo Phật là «TRÍ BÁT-NHû (Prajña), -là BIẾT ĐÚNG NGUYÊN NHÂN của thực tại. -BÁT-NHà vẫn xác nhận rằng “bệnh hoạn và tai ách không phải chỉ bắt nguồn từ ô nhiễm thể xác (vật chất), -mà còn bắt nguồn từ ô nhiễm tinh thần. -Phật học thuyết minh,“thân thể con người khi không vệ sinh, thì bệnh hoạn trên phương diện vật chất. Nhưng tinh thần con người nếu chẳng lành mạnh, liên tục bị tràn ngập bởi tham dục, vận hành bởi sân si, ác ý (VÔ PHÁP=adhamma), thì nó sẽ gây bệnh hoạn chẳng những cho xác thân từng cá nhân, mà còn gieo rắc tai họa ra chúng sinh xung quanh, trên cả hai phương diện THỂ XÁCTINH THẦN !”.

*Y Học Tân Tiến ngày nay, thực nghiệm trên động vật (kể cả loài người), có thể chỉ cho người ta nhìn thấy bằng mắt thịt (hoặc xuyên qua dụng cụ khoa học tối tân), “thế nào là ô nhiễm vật chất”, bao gồm nguồn gốc của vi trùng, hay vi khuẩn trong môi trường tự nhiên. Và các bác sĩ “Phân Tâm Học” cũng nêu ra những “tác dụng” của “ót-môn” (hormone =“tuyến từ tính”) trong “hệ thống thần kinh”, gọi là “phản ứng sinh lý”, để “qui nạp” rằng, “phản ứng” ấy nếu xấu hay tiêu cực, có thể xem là “ô nhiễm tinh thần” !. -Nhưng “tinh thần” ở đây ám chỉ duy nhất “hệ thần kinh cảm giác” chứ không phải là “tâm thức” (citta), như trong Phật giáo. -Xin nói rõ…kẻo lẫn lộn ! Xem ra… tất cả “văn minh y học hiện đại” đặt nền tảng trên thân thể động vật, vẫn phải dừng lại ở đó. Vì “kiến thức phàm tình” dẫu sâu xa, và dụng cụ khoa học dù tối tân đến đâu, vẫn không thể “thấu đáo được” các “thực tại tâm tính” hay tinh thần con người.

-Để nói lên sự «vô cùng huyền bí» của “TINH THẦN” trước ngôn ngữ loài người, sách Phật đã dùng câu «bất khả thuyết, bất khả tư nghì», hay «bất khả qui định», tức là không giống như nội dung của “một thông số” (parametre) trong tin học (informatique), thuộc “biện chứng duy vật” ! Nhưng theo BÁT-NHÃ (Prajña), thì TINH THẦN (Maṇo) khi đối chiếu với các “tư tưởng duy vật” (=cực đoan hay đoạn kiến), thì NÓ còn là một “cái gì hoàn toàn nghịch lý” (anti-rationnel)… -Và «trong một chừng mực kỳ diệu», đạo Phật đã từ lâu, vẫn cống hiến cho nhân loại một “phương pháp” thăng hoa, để mỗi cá nhân tự nguyện “lành mạnh hóa tinh thần”. Ấy là THIỀN PHÁP, một “đức hạnh độc lập” có khả năng “thanh lọc tâm linh”, cải thiện nghiệp chướng (kamma-vipāka).

*Sự “THANH LỌC” nầy nếu so với các phẩm cách tương đương của Y HỌC, để  cho dễ nắm bắt, chúng ta có thể xem như các phép “dinh dưỡng thần kinh”, “quân bình não bộ”, và “điều hòa cơ tim”, nhất là “hội tụ định lực”, bổ sungnhân điện”, giảm thiểu cũng như hóa giải các “độc tố” (ô nhiễm) trong con người. -Cần biết rõ rằng, THIỀN không phải là một “pháp hành hoang đường, bất khả thi”, mà chính là một “phương pháp sống lành mạnh thực tế”, hoàn toàn nằm trong khả năng sinh hoạt hằng ngày của mỗi người, ở mọi giai cấp xã hội, mọi lứa tuổi, mọi chủng tộc. -Từ đó, THIỀN (Bhāvanā) sẽ mang lại tính “củng cố và phát triển” KHÁNG TỐ (anticorps) trong “SỰ SỐNG”, hay trong “hỗn hợp tâm hồn và thể xác”, của mỗi người thực hành, vốn có “nghiệp lực kiếp sống hiện tại” (kamma saṅkhāra) là “nền tảng” để PHÁT TRIỂN.

*Lại nữa, theo “phát biểu chung”, của các nhà NGỪA BỆNH và TRỊ LIỆU, thì “Virus Covid 19” nói riêng, và vi khuẩn nói chung…có thể tấn công những người mang KHÁNG TỐ YẾU (faible anticorps) và những người THIẾU KIẾN THỨC VỆ SINH, thì xuyên qua sự tu Phật, “thiền giả sống SẠCH SẼ THỂ XÁC cũng như LÀNH MẠNH TINH THẦN” đương nhiên đã được bảo vệ. -Các chuyên gia ấy còn thường xuyên khuyến cáo rằng, “sự SỢ SỆT hay HỐT HOẢNG, LO ÂU sẽ gây căng thẳng thần kinh, và do đó làm SUY GIẢM hệ miễn dịch (affaiblir sensiblement le système immunitaire) rất nhiều”.

*Hãy nghiền ngẫm những dòng chữ dưới đây để chúng ta thấy, “phải chăng” chỉ có những “cảm giác khó chịu” (bất hạnh, đau khổ, lo sợ, hoang mang) mới làm “suy sụp kháng tố” trong động vật. Còn những “cảm giác vui mừng, dễ chịu” thì «không chừng ngược lại» (?!), nghĩa là có hiệu lực “tốt” chăng ?! -Theo Phật học, khi chúng ta bình tâm “quán chiếu” một cách khách quan, thì cái VUI lẫn cái BUỒN, đều làm cho tâm thức “CHỊU ĐỰNG” ! -Mà CHỊU ĐỰNG là trải qua CĂNG THẲNG (stress). -Nghĩa là, nếu…một người “KHỔ QUÁ” đứng tim tắt thở, thì…một người “VUI QUÁ” cũng có thể đứng tim chết, một cách đột ngột !

*Câu chuyện một bệnh nhân già nua, đi đứng không vững, cần có người nâng đỡ mới có thể di chuyển được. Thế mà khi nghe tin đứa con cách xa hơn 50 năm trở về, người ấy liền ngồi dậy và bước đi “dễ dàng”. -Hiện tượng nầy tạm chứng minh rằng “sự mừng vui cao độ có thể làm gia tăng sinh lực”. -Và “sinh lực” nói đây là gì ?! -Phải chăng NÓ tương đương với năng lượng sinh tố hay “kháng tố” ?!

*Khi đi sâu vào THIỀN HỌC trong Phật giáo, chúng ta lại thấy “vấn đề” một cách khác, rằng “đã đành tin vui cao độ có thể làm cho con người hưng phấn. Nhưng VUI MỪNG đến mức có thể phát sinh “sức mạnh kỳ lạ”, cũng có thể làm cho hệ thống miễn nhiễm trở nên phóng đại, hỗn loạn “bùng nổ” một cách không nền tảng, thiếu nội lực ! –Và lúc CÁI CỰC VUI QUA ĐI, thì tình trạng mất thăng bằng kháng tố sẽ tái diễn, có khi trầm trọng hơn trước, làm cạn kiệt sức sống !”.Trong trường hợp đặc biệt nầy, THIỀN HỌC nhà Phật vẫn có cách giúp cho người tu thanh lọc “tâm thức” (hay tinh thần) một cách hữu hiệu, để “chuyển hóa” các trạng thái THIẾU ỔN ĐỊNH, gây ra bởiVUI QUÁ hay BUỒN QUÁ. -Nghĩa là, người thực hành THIỀN PHÁP thuần thục «tâm thức phát quang», hằng “biết trước” một cách thanh tịnh rằng “sau cái VUI quá độ là cái buồn nuối tiếc” (sâu thẳm), và “sau cái BUỒN quá độ là cái vui rõ rệt” (nhờ nhẹ hẳn sự chịu đựng). 

*CỨU CÁNH của THIỀN HỌC trong nhà Phật, vốn là pháp “THOÁT LY” (vimutti dhamma), vô chấp hay không vướng mắc, -ngay cả không vướng mắc với cái VUI ĐIỀU ĐỘ đã từng lành mạnh trải qua (như tu thiền chẳng hạn), chứ đừng nói đến cái “VUI QUÁ ĐỘ”, bộc phát “DO HOÀN CẢNH” tạm thời… -nhất là chẳng khư khư ôm giữ nó, và nô lệ nó ! -Tình trạng QUÁ ĐỘ ở đây chính là “thành tố cần thiết” để củng cố vướng mắc !

<>Vấn đề còn lại của chúng ta, là mỗi người phải khách quan nghiên cứu, không để bị ảnh hưởng bởi những cá nhân hiểu lầm THIỀN HỌC (Bhāvanā) một cách méo mó, có ác cảm với THIỀN, hay bởinhững “thiền sư” giả mạo, chẳng nắm vững giáo lý về thiền nhà Phật, và chỉ xem THIỀN như “phương tiện tầm cầu danh lợi”. -Đồng thời mỗi người phải kiên nhẫn học hỏi đúng kinh sách Phật đà, và bình tĩnh tự mình tìm thọ giáo, với một thiền sư đủ đức hạnh, có khả năng hướng dẫn học trò.

(-Bài viết nầy không nhằm mục đích «quảng cáo thiền học» hay «giới thiệu thiền môn» cho bất kỳ ai muốn học và hành thiền, phải “lên đường” như thế nào. -Đây chỉ là một “chia xẻ” về “HIỆU LỰC của THIỀN”, mang lại bình an và che chở “thân tâm” cho người thực hành, trước các bệnh hoạnnói chung, -nhất là nói lên «bản sắc khoa học trong THIỀN PHẬT».

*Hơn nữa, trong việc dùng văn từ qui ước…mô tả “THÂN TÂM” con người, chúng ta có thể quan niệm một cách “tỷ giảo” (tức ví dụ lẫn so sánh), hay “ngụ ngôn”, để khuyến thiện rằng :

 “Con người là một «dòng sông», thay vì thường gọi là “NGŨ UẨN” (Pañca-khandha), “ TẬP ẤM” hay “TẬP KHÍ” (Khandha)của TÁNH và TẬT. «DÒNG SÔNG » ấy vừa cụ thể (thấy được bằng mắt thịt) vừa trừu tượng (không thấy được bằng mắt trần). -Ở đây chúng ta ví con người như một “dòng chảy” cho dễ hiểu, vì nó gồm có ĐẤT (“bất động”) và NƯỚC (“linh hoạt”). -ĐẤT là vật ai cũng biết ?! -Nhưng NƯỚC thì rất kỳ diệu, nó là hiện thân của nhiều sắc tháikhác với đất. –NƯỚC khi giảm khi tăng, khi sâu khi cạn, khi nhẹ khi nặng, khi hữu hình khi vô hình. -Và theo sử sách, thì tại một số nơi trên địa cầu, ngày xưa đã từng có rất nhiều NƯỚC, tràn ngập một vùng rộng, rồi sau đó biến mất, một cách vĩnh viễn ! -Biển cả trở thành…sa mạc !

<>Sách Phật còn ví “tâm thức” (citta) trong mỗi con người như “nước”. -Nếu NƯỚC DƠ có thể được “lọc sạch” bằng than nguyên chất, hay được làm “lắng trong” ở nơi yên tĩnh, thì “GIÒNG TÂM THỨC” (cittavithi) cũng có thể được “thanh lọc”, biến thành“anh minh” (vijjà), “tinh khiết”, “siêu thoát” bằng THIỀN (Jhàna). -Khi NƯỚC trở thành tinh khiết, có thể đóng vai dung môi, hóa giảibài tiết, giảm thiểu hay tẩy sạch những cặn bã trong máu thịt, thì “giòng tâm thức” khi đã được PHÁP THIỀN (Bhāvanā) làm trong sạch, cũng có thể giúp cho “hợp lưu thân tâm” (nàma rùpa) tiêu trừ ô-nhiễm, sa thải chất độc, nguồn gốc của các bệnh hoạn, dịch tai, khổ ách, phiền não !

*Theo THIỀN HỌC (bhāvanā), tham, sân si là ba “ác tố đồng sinh, tương tác” tạo ra tất cả các bệnh hoạn bên trong cũng như bên ngoài THÂN TÂM con người. -Khi bộ ba tham-sân-si nương vào “thân nghiệp” vận hành, loang nhiễm, và khuynh đảo THỂ XÁC xuyên qua hành động, thì gọi là “bản năng tạo tác”. -Còn khi tham, sân, si nương vào “ý nghiệp” vận hành, nhập nhiễm, và lung lạc TINH THẦN xuyên qua tư duy, thì gọi là “phiền não tạo tác” (kilesa).

-“Bệnh vật chất” là khi thân xác bị ô-nhiễm bởitham sân si, qua dạng “bản năng tạo tác”, đã gây ra cho nhân loại rất nhiều thứ bệnh, nguy hiểm nhất là ung thư, và các bệnh khác trong “ngũ tạng”. -“Bệnh tinh thần” là khi tâm thức bị tràn ngập bởi“tham sân si, qua dạng “phiền não tạo tác”, phát sinh tình trạng SA ĐỌA TÂM THỨC, đưa đến thoái hóa sinh tử (luân hồi) nhiều hơn gấp bội. THIỀN HỌC gọi chung là “lậu hoặc” (asava).

Quay lại ngụ ngôn dòng sông :

*Khi DÒNG SÔNG bị dơ bẩn, thì cả ĐẤT lẫn NƯỚC đều bị ô-nhiễm. Đất hai bên giòng sông sẽ sản xuất ra nhiều hoa trái độc địa. Và nước trong lòng sông cũng làm cho thủy sản trở thành vật nguy hại. -Đối với rác rến dơ bẩn, nằm trên mặt đất, hay trôi nổi trong dòng sông, người ta có thể tùy tiện dọn dẹp được. Nhưng đối với các chất độc hòa tan trong nước, thì quả thật rất khó khử trừ. -Rồi khi nước bốc hơi, chất dơ sẽ dễ dàng biến thành khí độc, bành trướng và phân tán, bay đi khắp nơi trong không gian, gieo rắc bệnh hoạn và chết chóc, một cách lan tràn, chẳng có ranh giới ngăn chận !

*Ô-nhiễm vật chất là nguyên nhân gây ra hàng loạt bệnh tật thể xác, đã được người ta thường nói đến, khi ám chỉ “DỊCH BỆNH”, có thể xảy ra cho tất cả sự sống sinh vật, tại chỗ cũng như xung quanh. Ô-nhiễm thể xáctuy có thể dùng “khoa học vật chất”, nhất thời “khắc chế được”, nhưng tình trạng ô-nhiễm ấy về sau, vẫn khó tránh khỏi di truyền qua huyết thống, và lây lan ra môi trường. -Còn “ô nhiễm tinh thần” thì rất khó đối trị, nếu không nhờ đến pháp THIỀN thì chẳng còn cách nào khác. Nhà Phật còn xác nhận “ô-nhiễm tinh thần” chính là DUYÊN KHỞI của mọi tính bất thiện (akusala). ÁC Ý “dùng dơ bẩn vật chất để thỏa mãn tinh thần bản ngã”, hủy hoại đối thủ, trục lợi cho cá nhân, hay cho phe phái…cộng nghiệp.

*Nói về vấn đề vệ sinh, “THIỀN HỌC” nhấn mạnh, có 2 phương diện, là “Giữ vệ sinh vật chất” và “Giữ vệ sinh tinh thần”. -“GIỮ VỆ SINH VẬT CHẤT” thì do Thẩm Quyền Y Khoa của mỗi nước, phải nghiên cứu giải pháp khả thi thích hợp rồi đề nghị. Họ có bổn phận cần phổ biến cái “kiến thức sống hợp vệ sinh”, theo đúng SỰ THẬT, làm sao cho dễ hiểu và càng rộng rãi trong dân chúng càng tốt. -“GIỮ VỆ SINH TINH THẦN” thì do những nhà “giáo dục tâm linh”, như các triết gia, những bậc tu hành mô phạm, hay các “đạo sĩ” có đức hạnh, đủ khả năng hướng dẫn quần chúng. -Và trong đạo Phật thì “GIỮ VỆ SINH TINH THẦN” là hành THIỀN.

Vậy một lần sau cùng bổ túc, “THIỀN tổng quát là gì ?”

<>“Thiền” có nhiều cách để diễn tả. Nhưng THIỀN với vài nét chính, là cách thực tập cho thuần thục, để đạt tới các “Trạng thái tinh thần lành mạnh, như yên tĩnh, thanh tịnh, tỉnh táo, và an trú. -Người tu thiền thành công thì tâm hồn “trong sáng, tự tin, không có cảm giác bất mãn, không lo sợ hay thường xuyên thư thái, tự tại”. -Nhất là hành trì TỨ NIỆM XỨ (Catu satipatthàna), là tỉnh thức sống với THỰC TẠI thân-thọ-tâm-pháp nơi chính mình.

*Theo “tướng mạo y học”, một trạng thái “tinh thần an bình” sẽ giúp cho “người tu”, ít hay không biết SỢ. Kháng tố trong thân kẻ hành thiền do đó tự ổn định, hùng hậu, và luôn luôn giữ được tính thăng bằng, nếu không muốn nói là “mạnh mẽ”, “vững chắc” ! -Một khi KHÁNG TỐ trong thân thể thường xuyên vững chắc hay ổn định, thì sự tấn công của vi khuẩn, hay vi trùng…từ bên ngoài lẫn bên trong, sẽ được “đối phó” một cách hữu hiệu !

Thiền gia thường nói :

<>Vì tham dục vô minh, mà chúng ta vẫn sống hằng ngày trong 4 trạng thái bất thiện, là LO, BUỒN, SỢ GIẬN. Cả bốn trạng thái tiêu cực ấy, thúc đẩy SỰ TÌM CẦU cái gì mới, một “lối thoát” giả tạo, nằm hẳn ngoài thực tại. -Phật học gọi ấy là “trạo cử” hay “phóng tâm” (uddhacca). Tu THIỀN là “bình định” phóng tâm. -Và vì sự không biết (avijjà=vô minh) về thực trạng ô nhiễm của chính mình cũng như của xung quanh, mà một người đã “tự” chất chứa LO BUỒN SỢ GIẬN một cách vô lý, không ngừng để cho chúng gia tăng. -Mà hễ tìm cầu cái gì mới thì sinh ra khao khát, chịu đựng cả hài lòng lẫn bất mãn. “HÀI LÒNG” thì lúc nào cũng dường như ngắn ngủi, nhưng “BẤT MÃN” thì thường khi có vẻ kéo dài. Từ đó…LO, BUỒN, SỢ, GIẬN tiếp tục “tung hoành”, tàn phá…không đối thủ.

*Mặt khác, còn VÔ MINH (avijjà) thì con người còn NGHI NGỜ (vicikiccà), hoan mang…không chắc chắn bất cứ điều gì. Càng VÔ MINH thì con người càng PHÓNG TÂM, không ngừng săn kiếm những cái chưa biết, nằm hẳn ngoài tầm tay. -Thường khi lạc sâu vào giữa rừng tưởng tượng ! -Vì vậy, phần lớn TIỀM LỰC, nếu không muốn nói là “toàn thể NĂNG LƯỢNG” trong thân tâm con người, luôn luôn bị “rò rĩ”, phân tán, phung phí, chạy theo những “đối tượng” không bao giờ đạt được (ảo ảnh), một cách vô ích ! –Phóng tâm !

*Đáng tiếc thay, “TIỀM LỰC” hay “NĂNG LƯỢNG” ấy, lại chính là “nguồn sản xuất” ra KHÁNG TỐ quí báu trong thân thể chúng ta ! -Người thường bị LO, BUỒN, SỢ, GIẬN, phóng tâm ảnh hưởng…là người có KHÁNG TỐ “hao hụt”, thân xác trở nên suy nhược, tinh thần mất thăng bằng, và dễ dàng bị vi trùng hay vi khuẩn (khí độc) bên trong lẫn bên ngoài tấn công. Cái tai hại, do vi trùng hay do vi khuẩn tấn công, thực ra vẫn ít nguy hiểm, hơn bốn trạng thái LO, BUỒN, SỢ, GIẬN, -nhất là tật LO SỢ !

*Từ khi “dịch viêm phổi Covid 19” xảy ra đến nay, đã có khá nhiều bài viết “khuyên nhắc” của những bác sĩ phân tâm học, nói rằng “Covid 19 tuy nguy hiểm, nhưng ít đáng sợ hơn sự hốt hoảng, hoang mang, phóng tâm của quần chúng”. Và họ luôn luôn dùng những lý lẽ khoa học để trấn an mọi người, –nhưng có mấy ai thực sự tin theo và chú ý (!?).

*Nói tóm lại, “hiệu lực (hay cái DỤNG) trước mắt” của THIỀN là đạt đến AN TRỤ, bình tĩnh, thăng bằng thân tâm, giải tán SỢ SỆT, tái lập TIỀM LỰC KHÁNG TỐ (nhờ tâm ĐỊNH và tâm XẢ trong thanh tịnh và tự tin). -Nghĩa là, hãy mau mau TU THIỀN để có “NỘI LỰC ĐỐI TRỊ” Dịch Covid 19. Rồi các khoa học trị liệu, kiến thức về sinh vệ, về kỷ luật cách ly, và dùng thuốc thích hợp mới có kết quả như trông đợi ! -Cũng cần bổ túc rằng, trước khi bắt đầu thực hành THIỀN pháp, chúng ta cần giữ đúng “5 giới thông thường” và “1 giới đặc biệt*”, là :

-Không sát sinh, -Không đoạt sở hữu của người khác, -Không tà dâm,-Không nói dối, -Không dùng chất say, và…Không nuôi mạng bằng nghề nghiệp bất thiện, tổn hại đến kẻ khác. Một số người chưa nắm bắt nội dung trong giáo lý Phật đà, nghĩ lầm rằng, “GIỮ GIỚI LUẬT không liên quan nhiều đến HÀNH THIỀN”. Cũng có khuynh hướng “cải cách” và “giản dị cách tu” hơn… thì bảo rằng “cứ HÀNH THIỀN trước, rồi sau sẽ GIỮ GIỚI…cũng không muộn, -nghĩa là “xem giới hạnh là việc phụ”, hay “chưa giữ giới, một người vẫn có thể thành công trong pháp thiền!” (?).

-Họ nào ngờ rằng, giữ giới chính là nền tảng của pháp thiền !?

*Thật là một tư duy méo mó về “Phật học”! Vì theo giáo lý “tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, và tốt đẹp ở đoạn cuối” của Bậc Giác Ngộ, thì khi GIỚI HẠNH chưa thuần thục, mà bắt đầu “hành thiền”, chẳng khác nào như người ta “muốn cho chiếc thuyền nằm yên mà không đem nó lên bờ, cứ để thuyền nổi bềnh bồng trên giòng nước”. -Phải chăng họ đã quên mất câu “GIỚI năng sinh ĐỊNH, ĐỊNH năng sinh TUỆ”, đã được ghi như KIM CHỈ NAM trong hầu hết sách THIỀN !?

<>“Một thời sự nóng bỏng” liên quan đến THIỀN và được nhiều nhà khoa học chú ý là «THIỀN đối với bệnh STRESS» hay «căng thẳng thần kinh». Đây là một tình trạng «đe dọa sức khỏe không có thuốc chữa». –Tuy các quốc gia tiền phong y dược (Âu-Mỹ) đã tìm ra khoa “phân tâm học” (khởi đầu từ nước Đức), và đã đào tạo nhiều “bác sĩ tâm thần” (Docteur en Psychiatrie), nhưng hiện trạng vẫn chưa được «cải thiện» một cách có triển vọng, nếu không muốn nói là “ngược lại”. Một số “thuốc an thần”, gọi chung là “thuốc ngủ” đang trở thành “độc hại” và làm cho bệnh nhân chịu khổ nhiều hơn trước !

-Nhưng không biết ngẫu nhiên hay cố ý, mà kể từ…“tiền bán thế kỷ 20” cho đến nay, người ta đã «thử dùng» THIỀN HỌC trong Phật giáo, để «hóa giải» căn bệnh xã hội nầy (=STRESS), và dường như KẾT QUẢ xem ra RẤT CÓ Ý NGHĨA. Đó là ý nghĩa của «khoa học thiền, áp dụng vượt trên quyền lực của vật chất» -Và Lý do của bài viết nầy cũng xin được «ôm ấp» cái ý nghĩa vô tư đó !

Cư sĩ Tuệ Lạc (NĐ) -Pháp quốc. Paris 20/06/2021.

(Ghi lại tri kiến…phát sinh nhờ CHỈ QUÁN trong mùa «tịnh thất»).

***

*40 đề mục thiền định.

(40 Samatha kammatthànà), gồm :

I-10 đề mục «sạch» hay không nhờm gớm (Dasa Subha kasià) :

1/Đất (Paṭhavì kasiṇa), 2/Nước (Àpo kasiṇa), 3/Lửa (Tejo kasṇna), 4/Khí, hay gió (Vàyo kasiṇa), 5/Màu xanh (Nìla kasiṇa), 6/Màu vàng (Pìta kasiṇa), 7/Màu đỏ (Lohita kasiṇa), 8/Màu trắng (Odàta kasiṇa), 9/Hư không (Okàsa kasiṇa), 10/Ánh sáng, hay tia sáng (Àlokaramsì kasiṇa)

II-10 đề mục không sạch, hay đáng nhờm gớm (Dasa asubha kasià) :

1/Tử thi nổi trên nước (Uddhumàtaka), 2/Tử thi sình xanh (Vinìdaka), 3/Tử thi xì máu mủ (Vipubbaka), 4/Tử thi còn nửa phần (Vichiddaka), 5/Tử thi bị thú ăn lỗ chỗ (Vikkhàyitaka), 6/Tử thi nhiều đoạn (Vikkhittaka), 7/Tử thi bị bầm nát (Hatavikkhittaka), 8/Tử thi trong vũng máu (Lohitaka), 9/Tử thi cửu khiếu có vòi (Pulùvaka), 10/Tử thi chỉ còn bộ xương (Atthika).

III- 10 đối tượng tưởng niệm (Dasa Anussati) :

1/Niệm tưởng Phật (Buddhànussati), 2/Niệm tưởng Pháp (Dhammànusssati), 3/Niệm tưởng Tăng (Saṅghànussati), 4/Niệm tưởng giới hạnh (Sìlànussati), 5/Niệm tưởng bố thí (càgànussati), 6/Niệm tưởng chư thiên (Devatànussati), 7/Niệm tưởng sự chết (Marananussati), 8/Niệm tưởng thân vô thường (gồm các thể trược, với sinh, lão, bệnh, tử (Kàyagatà), 9/Niệm tưởng hơi thở (Ànàpànasati), 10/Niệm tưởng Pháp giải thoát hay Niết Bàn (Nibbàna).

IV- 10 đối tượng vô lượng, vô biên (Dasa Brahmavihàra) :

1/Tâm từ vô lượng(Mettà), 2/Tâm bi vô lượng (Karunà),,3/Tâm hỷ vô lượng (Mudità), 4/Tâm xả vô lượng (Upekkhà), 5/Không vô biên (Àkàsànancàyatana), 6/Thức vô biên (Viññànañcàyatana), 7/Vi tế vô biên (Àkiñcaññàyatana), 8/ Phi tưởng và phi phi tưởng vô biên (Neva saññà nàsaññàyatana), 9/Bất tịnh vô biên (qua dinh dưỡng) (sañña bhojanaṃ), 10/Tứ đại vô biên, hay tứ đại không tướng (Vanatthàna).

________________

Vài lời thưa

<>10 đề mục không sạch, hay đáng nhờm gớm (Dasa asubha kasiṇà) trên đây có thể làm cho một số độc giả “ghê sợ”, nhưng với tinh thần “sưu tập đầy đủ” những đề mục tu thiền, chúng tôi mạo muội nêu ra tất cả…để quí vị “tùy tiện tra cứu”.

<>Đối với chúng tôi đề mục tốt nhất cho THIỀN ĐỊNH (Samādhi) là HƠI THỞ (Ᾱnāpāna), và PHÁP THIỀN (Bhāvanā dhmma) mầu nhiêm nhất là TỨ NIỆM XỨ (Catu saṭipaṭṭhāna).

Với tấm lòng thành !

Laisser un commentaire