*Liên quan đến “TAM PHÁP ẤN kích thích SỰ GIÁC NGỘ”.
(Ti-maṇorañjaka-dikkhita-bodhaṃsa).
<>“TAM PHÁP ẤN kích thích SỰ GIÁC NGỘ” là một “câu nói minh triết”, có nội dung chuyên chở “sự khuyến thiện ở tầng số trí tuệ”, do một số người “ngoan đạo Phật” thỉnh thoảng trân trọng thốt ra. Và dù chúng ta có nghe rất thường đi nữa, thì cũng giống như những “câu phát biểu đầy triết học” khác, -nhiều khi chỉ được họ quen miệng lập lại mà thôi, nhưng chưa chắc người “phát ngôn” câu ấy, đã đặc biệt chú ý đến chuyện “THẤU TRIỆT” ý nghĩa.
-Vã lại, “NGÔN NGỮ TÔN GIÁO” xưa nay vẫn thế, đa số người có tín ngưỡng vốn nặng về NIỀM TIN và NGHI LỄ CÚNG BÁI hơn là sưu tầm “kiến thức giác ngộ”. Đó là lý do không tránh khỏi tình trạng “mỗi lần thốt ra một lời “minh triết”, là một lần nghĩa lý sâu sắc của câu nói quí báu, có thể bị “lu mờ”, -nhất là tùy theo trình độ kiến thức của mỗi tín đồ. Và đạo Phật cũng không ngoại lệ, nên khi có dịp nêu ra “kinh điển”, để cùng nhau trình bày soi sáng, vẫn là một điều tốt, nhất là xuyên qua cái nhìn của “Bản Sắc Khoa Học”.
-Vậy đề tài hôm nay, “TAM PHÁP ẤN kích thích SỰ GIÁC NGỘ” là gì, và SỰ LIÊN QUAN (paccaya) giữa nó với KHOA HỌC HIỆN ĐẠI như thế nào ?!
*“TAM PHÁP ẤN” là “bộ ba”, gồm 1/VÔ THƯỜNG (Aniccā), 2/KHỔ NÃO (Dukkha), và 3/VÔ NGÃ (Anatta), đã được Đức Phật Thích-Ca Mâu-Ni lúc sinh tiền, thuyết minh nhiều lần…trong kinh điển Phật giáo (“Nam Truyền” cũng như “Bắc Truyền”).
<>Chúng tôi đề nghị tiếng Việt nam gọi “2 HÌNH THỨC Phật giáo” đang “thịnh hành” ở Châu Á nói riêng, và được khá nhiều nước trên thế giới biết đến…nói chung là “Nam Truyền” (Ecole du Sud) hay “Bắc Truyền” (Ecole du Nord). Đó là cách “mệnh danh” VÔ TƯ nhất, để ám chỉ 2 hướng Đạo Phật du nhập vào Việt Nam thay vì gọi là “Nam Tông” và “Bắc Tông”. -Vì “2 hệ phái Phật giáo “Nam tông” và “Bắc tông” ấy, vốn “phát xuất” từ người Tàu. “Phật giáo Bắc Tông” đã được thành lập bỡi một đệ tử của Tổ sư Hoằng Nhẫn, tên là THẦN TÚ “chủ trương tiệm tiến”. Còn “Phật giáo Nam Tông” cũng được hành lập do một đệ tử khác, vẫn của Tổ sư Hoằng Nhẫn, tên là HUỆ NĂNG “chủ trương đốn ngộ”. -NAM ĐỐN, BẮC TIỆM.
-Nếu căn cứ theo bản đồ địa lý ngày nay, thì cả 2 phái Nam tông và Bắc Tông đều nằm trong lãnh thổ Trung hoa cộng sản. -Nghĩa là, đối với một người VN theo đạo Phật, thì cả Nam tông lẫn Bắc tông đều thành hình từ phương Bắc. -Do đó, gọi là “Phật giáo Bắc Truyền”, ám chỉ do người Tàu phổ biến, là chính xác hơn, vì nó đã du nhập vào nước ta từ thời bắc thuộc (sử sách đã ghi rõ). Và gọi “Phật giáo Nam Truyền”, tức là đạo Phật đến nước Việt, từ các nước phía Nam…cũng quả thật không sai.
-Trên thực tế… từ hình thức đến nội dung cách tu hành của các thế hệ đệ tử Ngài Huệ Năng, rất không tương đồng với cách tu hành của đạo Phật ở các nước phương Nam, như Cao-miên, Ai-lao, Thái-lan, Miến-điện, Tích-lan, Ấn độ…v…v…-Nếu chúng ta cứ tiếp tục gọi Phật giáo phương Nam, có phong cách nguyên thủy như “mặc y vàng và xử dụng kinh điển Pāḷī làmCĂN BẢN” là “Nam tông”, thì vô tình chúng ta đã duy trì một ngộ nhận khá quan trọng cho con cháu chúng ta theo đạo Phật sau nầy.
-Người xưa vẫn nói “danh có chánh thì ngôn mới thuận !” Khi thấy tên gọi của một “giáo phái tín ngưỡng” đánh lạc hướng quần chúng, về nguồn gốc thiết lập của nó, mà chúng ta không chân thành điều chỉnh, thì đó một thái độ thiếu tôn trọng nhân sinh. -Và nhất là sự “điều chỉnh” ấy lại rất HỢP LÝ và VÔ TƯ, đứng ngoài mọi cạnh tranh quyền lợi hay danh dự !
Trở lại “TAM PHÁP ẤN”, gồm vô thường, khổ não, và vô ngã
<>VÔ THƯỜNG là thay đổi không ngừng, hay VẠN VẬT hằng biểu lộ muôn vạn hình trạng. -Nói một cách qui nạp, VÔ THƯỜNG ám chỉ “hiện tại thì CÓ, mai sau lại KHÔNG”, hay “hôm nay BIẾN MẤTngày kia HIỆN RA”. Tất cả những lần “có mặt” và “vắng mặt” ấy, của một sự vật trong VŨ TRỤ…chỉ là hiện tượng. -Sự BIẾN HIỆN vốn chẳng xác định điểm bắt đầu và điểm chấm dứt đối với THỰC TẠI….là một “nguyên tắc BIẾN DỊCH”. -Nghĩa là SINH (Jāti) và TỬ (Maraṇa) tuy là “một cặp không rời”. -Nhưng chúng ta KHÔNG THỂ đòi hỏi “chúng phải có tình trạng giống nhau”. Và chúng ta càng KHÔNG THỂ “phản đối tính khác biệt”, khi thấy SINH thì hữu hình (biểu lộ), còn TỬ thì vô hình (bí ẩn), mới chịu chấp nhận rằng “sự thật thấy được hay không thấy được đều là lẽ tự nhiên”!
-Một thân thể ngưng thở, nằm bất động ở đó…có thể là đã CHẾT…nhưng không chắc ! -Theo Phật giáo, nếu “mạng căn chưa tận”, thì nó sẽ SỐNG lại. -Xem ra “bất động” không cùng nghĩa với “chấm dứt sự SỐNG”. -Vì KHOA HỌC ngày nay từng xác chứng rằng, có những cái “SỐNG” mà bất động ! -Ví dụ như ở vùng Bắc cực (Pole Nord), có những sinh vật đến mùa cực lạnh, thân thể biến thành “khối nước đá” và nằm yên dưới băng tuyết từ 3 đến 6 tháng. Khi hội đủ điều kiện nhiệt độ tăng, nước đá tan thì chúng sống lại (nhờ ĐỦ DUYÊN), và cử động kiếm ăn bình thường.
-Như vậy, “ĐỘNG” không nhất thiết là “cõi sống”. -Và “TĨNH” không nhất thiết là “cõi chết”. -Tất cả tùy thuộc vào một số điều kiện hay DUYÊN (Paṭṭhāna) ! -Thì ra, chứng minh KHOA HỌC (expérience scientifique) và “CÁI THẤY” (Vipassanā) của “BÁT-NHÔ (Prajña) trong đạo Phật vốn có CHUNG quan điểm nầy.
–Nói theo quan sát hiện tượng trên bề mặt thì như thế, nhưng với “tuệ quang phát ra từ trí bát-nhã” (trong nhà Phật) thì NĂNG LƯỢNG THANH TỊNH còn vượt trên khả năng tri thức của người phàm. Và KHOA HỌC HIỆN ĐẠI cũng càng ngày càng trải nghiệm thực trạng ấy, xem đó như VẬN HÀNH tất nhiên của LÝ HÓA. Chung qui, “Bản Sắc Giác ngộ” trong đạo Phật, và KHOA HỌC TÂN TIẾN đã không hẹn mà cùng “qui nạp” rằng, LÝ HÓA là VÔ THƯỜNG….hay là một pháp “HẰNG CÓ”, nếu không muốn nói là một pháp TỐI CẦN THIẾT cho sự biến dịch, thăng hoa hay suy đọa. -“Tối cần thiết” đến độ mà nếu PHÁP VÔ THƯỜNG” (aniccā=impermanence) “vắng mặt”, thì 2 tình trạng“hướng động” và “sinh hoạt” PHẢI TÊ LIỆT, một cách bế tắc !
<>VÔ THƯỜNG (Aniccā=impermanence) là hiệu lực đầu tiên của“HIẾU ĐỘNG” và “LINH HOẠT”, -Hoặc nói cách khác,“hiếu động” và “linh hoạt” là “2 VẬT LIỆU CĂN BẢN” tạo ra tình trạng VÔ THƯỜNG. “Chúng cũng” là “NGUYÊN NHÂN” phát xuất sự sống, của tất cả “sinh động vật” trên mặt đất.
<>VÔ THƯỜNG (Aniccā) vốn không phải là hiện tượng phá hoại tiến trình sống, mà là “yếu tố phục vụ” MẠCH LUÂN HỒI. -Vì trên thực tế, SỰ SỐNG cần phải biến hóa linh động, liên tục thay đổi, -gọi tắc là SINH HOẠT. -Ngược lại với VÔ THƯỜNG, thì vạn vật phải ở mãi tình trạng cũ (bất biến=thường hằng)…là một hoàn cảnh bế tắc…tận thế, chứ không phải là “cõi tiến hóa”…trong “bất cứ góc độ tư duy” nào trên thế gian nầy.
*Khi GIÁC NGỘ, biết rõ VÔ THƯỜNG (Aniccā) là NHƯ THẾ, thì con người đang sống…muốn tiến hóa, phải TÍCH CỰC từ chu kỳ nầy qua chu kỳ khác, một cách sáng suốt, thích ứng…không tà kiến lười biếng, không nhu nhược bỏ cuộc, mới có thể thoát khỏi tình trạng trì trệ, lạc hậu, TỰ SA ĐOẠ, và tạo được QUÂN BÌNH nhắm đến an vui ! -QUÂN BÌNH ở đây là nền tảng của “CHÁNH THIỀN” (sammā samādhi) trong nhà Phật, và là yếu tố THĂNG HOA hữu hiệu nhất (ariya niyama) !
<>KHỔ NÃO (Dukkha) là “pháp ấn thứ nhì”, nói lên tình trạng THÂN TÂM thường xuyên chịu đựng THUẬNlẫn NGHỊCH (mānāpa pyāmānāpa). -Hay mỗi người sinh ra thì “phải chấp nhận” tất cả các thực tại BUỒN rồi VUI, đối đãi liên tục, một cách xung đột, một cách hoán vị, xen kẽ theo chu kỳ…TỐT đi đôi với XẤU…SINH đi đôi với TỬ …THĂNG đi đôi với ĐỌA. Do đó, KHỔ NÃO là kết quả tự nhiên của VÔ THƯỜNG (Aniccā), và ẤY là chuyện không thể tránh được trong KIẾP SỐNG con người hằng ngày. -Thậm chí, người ta nói “khổ não là vật liệu rèn luyện ý chí, hay bãn lĩnh” cho con người !
-Hai chữ “KIẾP SỐNG” (Jīvita) trên đây, ám chỉ CÁI mà nhà Phật gọi là “NGŨ UẨN” (pañcakkhandha), gồm SẮC UẨN (Rūpa-khandha), THỌ UẨN (Vedana-khandha), TƯỞNG UẨN (Sañña-khandha) HÀNH UẨN (Saṅkhāra-khandha), và THỨC UẨN (Viññānakkhandha). -Đó là “một giai đoạn hoạt động” của THÂN phối hợp với TÂM hay của “DANH phối hợp với SẮC” trong mỗi động vật. -Nói theo Phật học.
-“SẮC” (rūpa) là thân xác (kāya). “DANH” (nāma) là tinh thần (maṇo). -Nhưng theo “BÁT-NHÔ (Prajña) trong nhà Phật, “tham chiếu” qua KHOA HỌC…thì “DANH SẮC” (nāmarūpa) biểu trưng cho “vũ trụ tượng hình” (sakalalokadhātu), bên trong chứa tất cả vận hành (saṅkhārā) từ các YẾU TỐ “nhỏ nhất” cho đến các YẾU TỐ “lớn nhất”, ở dạng THÔ (khối lượng) hay dạng TẾ (tinh vi). Đặc biệt là “DANH SẮC” (Nāmarūpa) tự nó có “BẢN THỂ” hợp rồi tan, tan rồi hợp, “biến hóa không ngừng”, trong cái KHUNG của PHÁP ĐỘNG, chứ không thể tuyệt tận, hoàn toàn biến mất được ! -Và đó là “nguồn gốc” của KHỔ NÃO, là triền miên “xung đột nội tại” trong tiến trình CHUYỂN BIẾN do mất thăng bằng.
*Theo Phật học, “hễ mang THÂN NGŨ UẨN thì không thể tránh khỏi khổ não”. Vì trong NGŨ UẨN chứa “tam ác” là THAM SÂN SI, -một “hỗn hợp dị ứng” luôn luôn đối nghịch với mọi THAY ĐỔI TỰ NHIÊN của THẾ GIỚI ĐỘNG. -Bộ ba THAM SÂN SI nầy không ngừng “sản xuất” ra nhiều loại cảm giác nghịch chiều, -trong số ấy cặp tiêu biểu nhất là “vừa lòng” (māṇāpa) và “bất mãn” (amāṇāpa), gọi chung là KHỔ NÃO (Upakkilesa dukkha).
-THAM LAM (lobha) là “gốc ác thứ nhất” có tính bất túc, hằng làm cho THÂN TÂM con người luôn luôn chao động, cảm thấy thiếu thốn, thèm khát…dưới dạng LO BUỒN hay DỤC VỌNG. -Khi THAM thì tâm tư không ngừng hướng về một cái gì đó bất định, và nếu một người cố gắng…mà vẫn không đạt được, thì phải CHỊU ĐỰNG khổ não thèm khát.
-SÂN HẬN(dosa) là “gốc ác thứ hai” có “tính thiêu đốt”, hằng làm cho THÂN TÂM con người thường xuyên nóng nảy, bức xúc…dưới dạng SỢ SỆT hay THÙ HẬN (cháy bùng và cháy ngầm). -THAM là “tiền thân” của SÂN, khi tâm tư một người ôm cứng điều mong muốn, và nếu gặp trở ngại hay không đủ khả năng đạt mục đích, thì phải SÂN, chịu đựng NÓNG NẢY, khổ não nung nấu.
-SI MÊ là “gốc ác thứ ba”, có “tính vô minh” (không soi sáng) thường làm cho THÂN TÂM con người mơ hồ, thiếu tỉnh táo, vụng về…dưới dạng hoài nghi, trạo cử và BẾ TẮC. -Khi SI MÊ thì bị khói thiển cận che áng, không thấy rõ hoàn cảnh (-chẳng biết đúng sai, do đâu thành bại), thì phải CHỊU ĐỰNG khổ não hoang mang (mất định hướng).
-Mặt khác, “bộ ba” THAM SÂN SI (lobha-dosa-moha) còn có “2 huyền lực độc hại” nữa, là trước mỗi “hoàn cảnh” (Ᾱlambana = đối tượng), chúng thừa khả năng làm cho TINH THẦN con người bị tràn ngập (ogha) bỡi 2 tâm trạng “vui sướng và chán nãn”. -Vì rằng, -khi “SỰ HÀI LÒNG không kéo dài thì cảm thấy CỤT HỨNG”, -phát sinh khổ tham (lobha dukkha), khao khát không nguôi, -khi “SỰ BẤT MÃN không dứt sớm thì cảm thấy DỊ ỨNG, XUNG ĐỘT”, -phát sinh khổ sân hận (dosa dukkha). -Nói tóm lại tham sân si là “BA HẠT GIỐNG ÁC” (hetu) gây KHỔ NÃO (upakkilesa) !
<>Trở lại việc “VÔ NGÃ là hoàn không (Natthitā)”. Chúng ta còn biết thêm rằng, “HOÀN KHÔNG” cũng là một cách diễn tả khác, nói về CHU KỲ của những kiếp sinh hoạt liên tiếp thay đổi, lẩn quẩn. NGUYÊN NHÂN là sự vận hành MẤT THĂNG BẰNG, luôn luôn CHAO ĐẢO trên đường cong, rồi giáp vòng kết thúc với TÌNH TRẠNG TAN RÃ (=biến mất).
-Dấu hiệu của sự HOÀN KHÔNG ấy, được tượng trưng bằng đường cong hay HÌNH TRÒN (luân hồi), và con số kiếp “LUÂN HỒI” thì vô tận. -Đó là SỰ LẬP LẠI không phải chỉ một lần, mà là vô số lần, để lập thành TẬP KHÍ, còn gọi là UẨN hay “tích tụ” (Khandha). -Vậy TÍCH TỤ những cái gì ?
*Tích tụ tất cả những cái cũ (hay thói quen) và cái mới vì nhu cầu của mỗi kiếp sống nối tiếp nhau, do NGHIỆP CÓ THÂN (Kamma=Karma). Chúng vừa thật và vừa giả. -THẬT được hiểu (lầm) là “có mãi”. -GIẢbị cho là “không mãi”. -Nhưng cả 2 trạng thái THẬT hay GIẢ ấy, đều kết thúc bằng “HOÀN KHÔNG” (Natthi). -Nhưng trong “nhận diện vũ trụ” của BÁT-NHÃ (hay khoa học) thì cả 2 “chẳng phải là KHÔNG”, cũng “chẳng phải là CÓ”. Chúng “chẳng luôn luôn tốt”, “chẳng luôn luôn xấu”. -CHÚNG BIẾN DỊCH !
*TẤT CẢ vốn bắt nguồn từ sự MẤT THĂNG BẰNG, “không thiện” (natthi kusala) “không ác” (natthi akusala), mà chỉ là 2 tình trạng THUẬN NGHỊCH “giao thoa lẫn lộn”. Thuận nhiều hơn nghịch thì…gọi là “THIỆN”. Nghịch nhiều hơn thuận thì…gọi là “ÁC”…một cách dựa trên ƯU THẾ, -nói theo DUYÊN HỆ (Paṭṭhāna).
<>Đối với “Bản Sắc Khoa Học trong Phật giáo”, VÔ NGÃ (Anatta) là kết quả tất yếu của tình trạng MẤT THĂNG BẰNG một cách liên tục trong “dục giới”, “sắc giới” và “vô sắc giới” (đã mô tả trong bài trước). Nhưng khi TÍNH THĂNG BẰNG, được tái lập (tức là chân giác ngộ), thì “TAM PHÁP ẤN” (Ti-maṇorañja) sẽ trở thành VÔ HIỆU và phải KHÁC vĩnh viễn, hay GIẢI THOÁT hoàn toàn (Nibbāna). -Đó là phẩm cách của Thánh nhân, như câu nói minh triết : “Tâm bất biến trong dòng đời vạn biến”, nghĩa là hết khổ não, không còn chấp ngã, DỨTBIẾN ! Và “bộ máy LUÂN HỒI” (Saṃsāra) cũng tự động ngừng lại.
*Ngày nào sự BẤT THĂNG BẰNG trong TAM GIỚI còn tiếp diễn, thì ngày ấy “TAM PHÁP ẤN còn kích thích TÍNH GIÁC NGỘ” một cách “bàng bạc”, trong THÂN TÂM phàm nhân hướng thiện, hữu duyên được soi sáng. Lý do…vì PHÁP VÔ THƯỜNG làm cho “thực tại không ngừng biến đổi”, -tức là “không có gì tuyệt đối thuận hay tuyệt đối nghịch”, và “không có gì thực sự vĩnh viễn hay thực sự tạm thời” trong bộ máy tuần hoàn, sinh tử luân hồi (saṃsāra).
-Và chính ở ĐIỂM QUI NẠP nầy, chúng ta mới thấy lộ ra “mặt trái” (hay nguồn gốc) của SINH TỬ ĐỒ (Saṃsāra), là sự MẤT THĂNG BẰNG.
<>Điều ĐÁNG TIẾC, là xưa nay, “TAM PHÁP ẤN” đã được diễn giảng một cách phản trí tuệ, NGHỊCH CHIỀU KHOA HỌC(avijjā), đầy “lý lẽ bi quan” (do si mê), -nếu không muốn nói là chỉ có tác dụng hăm dọa tâm thức, trước một cuộc sống đầy phức tạp, cần đến tinh thần can đãm và TÍCH CỰC. Tình trạng đó đã làm cho người đời trở thành bạc nhược, sợ sệt, …thường xuyên cảm thấy mình “bất lực” yếu kém và muốn buông xuôi, “thù ghét thực tại”, đồng thời che dấu lòng tham vì BẢN NGÃ một cách mù mờ, và không ngừng đề cao ảo kiến…là “SUY TƯ THOÁT TỤC”, như cái “phao cứu rỗi”, hướng đến cứu cánh ngoài tầm tay, theo khả năng tưởng tượng, không cần đến TỰ LỰC trong cuộc sống.
–Tệ hơn nữa là những “kẻ chán đời” ấy, thường lấy “đạo Phật” ra làm “nguồn giáo lý”, xác nhận VÔ THƯỜNG, KHỔ NÃO, và VÔ NGÃ là “3 tiếng chuông cảnh tỉnh”, thúc giục con người sớm xa lánh cuộc đời”. -Nhưng “xa lánh cuộc đời bằng cách nào, nếu THỰC TẠI ta đang sốngtrên thế gian nầy (?), vàsau khi làm như thế…thì kết quả sẽ ra sao, và đưa ta về đâu ?”.
-Khi câu hỏi nầy được đặt ra, thì…đa số người chán đời thường mơ màng trả lời rằng “xuống tóc đi tu”, hay “trở thành bụi đời” ! (?)
<>“Trở thành bụi đời” thì quá tệ, không có gì đáng nói. Nhưng nếu “xuống tóc đi tu”, dù ẩn thân trong rừng sâu núi cao chăng nữa”, đương sự VẪN “phải sống trên thế gian”. Và hành động đi tu đó, càng đòi hỏi một NGHỊ LỰC thích ứng trước THỰC TẠI, một cách sắc đá hơn nhiều, chứ “không giản dị” như lời nói suông. -Vì sao ? -Vì một tu sĩ Phật giáo vẫn không tránh khỏi 2 phận sự, là “đối với chính mình”, và “đối với đời” (!). -Một tu sĩ Phật giáo làm sao có thể ở ngoài duyên hệ nhân sinh, sống mà không LIÊN QUAN đến tín đồ, trong cái “NGHĨA ĐẸP” là hộ trì lẫn tương tác (?). Và mặc định, họ phải thực hiện đức hạnh xứng đáng đối với LÒNG TIN của bổn đạo !
-Tất nhiên là….ngoại trừ “một số phần tử xấu” xem “đi tu” là một “cơ hội tiến thân”, hay một “mánh khóe kinh doanh” “vốn ít mà lời nhiều”, thì quả thật là đạo Phật đang gặp cảnh suy vong, “tấm gương sáng mà đức Phật để lại cho người sau soi mình, để tiến hóa đã bị phủ bụi, lạm dụng…” ! -Trường hợp nầy, thì “đi tu” là cố ý PHÁ HOẠI đạo Phật….BÔI NHỌ “khoa học sống lành mạnh !”.
<>Quay lại “TAM PHÁP ẤN kích thích SỰ GIÁC NGỘ” được thuyết minh trong nhà Phật, Nếu cách nay nhiều thế kỷ, các khoa học gia tiền phong, khi đối diện với những khó khăn trong cuộc sống trên mặt đất, mà đọc sách “TAM PHÁP ẤN” (vô thường, khổ não và vô ngã) rồi trở thành bi quan, ủy mị như thế, thì ngày nay chúng ta đã không có cuộc sống tiến bộ tối tân.
-Nếu TRÍ THÔNG MINH của con người chỉ để xem đời là phù du, cõi tạm…thì các nhà khoa học đã không thể kiên nhẫn “tập trung năng lượng tri thức”, sáng tạo…tô điểm cuộc sống một cách tích cực. Đạo Phật vốn là tôn giáo đề cao TRÍ THÔNG MINH. -Rõ ràng là giáo lý nhà Phật về TAM PHÁP ẤN đã bị hiểu lầm, diễn giải méo mó !
***
-Vậy thực sự “TAM PHÁP ẤN” (là vô thường, khổ não, và vô ngã) theo nhà Phật, khi đối chiếu với KHOA HỌC…thì như thế nào ? -Xin nhắc lại một lần nữa rằng :
<>VÔ THƯỜNG (Aniccā) là một THỰC TRẠNG (của sự thay đổi không ngừng trong cõi ĐỘNG), phải được xác nhận, do tâm thức lành mạnh, do biết sống tích cực, do tinh thần hội tụ, trong sángvà do giác ngộ (sampajañña), chứ không phải do sợ khổ bỏ cuộc. VÔ THƯỜNG là giáo lý minh triết, cần được xem như một “hệ luận khoa học” (corollaire scientifique), và trên hết là một chân lý góp phần vào SỰ TIẾN HÓA, chứ không phải là một huyền năng ĐE DỌA tâm lý con người!
-Nếu không có VÔ THƯỜNG, vạn vật sẽ “nguyên trạng” (chẳng bao giờ thay đổi) thì quả đất nầy sẽ ra sao ?! -Chúng ta thử tưởng tượng “một đứa bé sau khi sinh ra, cứ tiếp tục như một hài nhi mãi mãi” thì ấy là một điều “đáng mừng” hay đáng sợ ? -Như vậy, những tư tưởng hoang đường, như “trường sinh, bất lão và bất tử” nơi tư duy con người, trên thế gian nầy…chỉ là một ẢO TƯỞNG do lòng THAM, sản phẩm của vô minh, phản khoa học* !
Ba chữ “phản khoa học”* có “dấu sao” ở đây cũng ám chỉ “phản trí tuệ” !
*Trong khoa học, “CHUYỂN ĐỘNG HÌNH THỨC” (thấy được) là vật lý (physique), và “CHUYỂN ĐỘNG NỘI DUNG” (không thấy được) là hóa học (chimie). Hai tình trạng thay đổi vị trí (vật lý), và biến hóa tố chất (hóa học) là 2 điều CẦN THIẾT cho sự SỐNG, chứ không phải là “2 tình trạng đe dọa”. -Sau khi sinh thì PHẢI lão, bệnh, và tử là một tiến trình tự nhiên của thế giới VỌNG ĐỘNG. Đó là một điều KHÔNG TRÁNH ĐƯỢC, người phản đối SƯ THẬT nầy là tự mình làm khổ !
*Từ đó suy ra, trong TUYỆT TĨNH thì không có vô thường. Và những ai chưa TOÀN GIÁC, chưa tận trừ THAM SÂN SI, thì không thể biết được TUYỆT TĨNH hay NIẾT-BÀN là gì. Và khi đạt đến TUYỆT TĨNH, Bậc Toàn Giác biết rõ rằng, NIẾT-BÀN không phải là ĐOẠN DIỆT, vạn pháp VẪN NGUYÊN VẸN, không hợp không tan !
<>Đọc sách KHOA HỌC về vũ trụ, có một số tài liệu nói đến KHÔNG GIAN (espace) và THỜI GIAN (temps). Chúng ta dùng KHÁI NIỆM để “tạm hiểu” rằng, KHÔNG GIAN là “khoảng trống”, và THỜI GIAN là “chiều dài tâm thức” để chúng ta “sống” hay “vận chuyển” trong cái “KHÔNG GIAN” ấy. Nhưng xuyên qua “tinh thần” (=cảm quan thứ sáu), chúng ta cũng không thể BIẾT CHẮC “khoảng trống”, và “chiều dài tâm thức” như thế nào ?(!)
-Theo “BÁT-NHÔ (Prajña) trong nhà Phật, thì Bậc Toàn Giác (Sammāsambuddha) “thấy” CÁI “bản thể” mất thăng bằng, –nhận ra KHÔNG GIAN và THỜI GIAN chẳng là gì cả (“sắc tức thị không”). -ẤY vốn đến từ tính bất thăng bằng và xung động toàn diện, mà KHOA HỌC KHÔNG GIAN gọi là NỔ LỚN (Big-bang). -Hễ có BẤT THĂNG BẰNG và có XUNG ĐỘNG TOÀN DIỆN, thì phải có TÌNH TRẠNG thuận nghịch lôi kéo nhau, trong vô số chiều…chồng chất, huân tập…(tương đương với “TẠO TẬP KHÍ”). -Trường hợp “thuận nghịch chồng chất”, diễn ra trong “dòng điện tâm” của con người, thì nhà Phật gọi là “KHỔ NÃO” (Upakkilesa dukkha), -sẽ bàn đến trong đoạn sau !
-Vì kết quả của NỔ LỚN là “vũ trụ thành hình”…nên KHÔNG GIAN và THỜI GIAN (Espace & temps) chỉ là “2 nguyên tắc” để duy trì VŨ TRỤ. Và 2 NGUYÊN TẮC nầy vốn đến từ bản thể thay đổi, nên NÓ chính là “bộ máy biến hóa”, nguồn gốc của VÔ THƯỜNG (Aniccā), hay nguyên nhân của XUNG ĐỘNG trong vũ trụ, khiến cho những gì thành hình về sau, như vô số TINH TÚ, có thể tự động phát ra ánh sáng, tạo sức hút và vùng từ trường. THÁI DƯƠNG HỆ của chúng ta là “một đơn vị tinh tú” cũng có sức hút và từ trường, nên “giữ được” những hành tinh di chuyển xung quanh nó, trong một KHÔNG GIAN và THỜI GIAN vô tận…!
***
<>KHỔ NÃO (Dukkha) là “bẩm tính chịu đựng” trong thân tâm động vật nói chung, nhất là sau khi đã sinh làm người, một sinh linh hữu tình (tham sân si) nói tiêng. KHỔ NÃO bao gồm 2 mặt đối nghịch, là VỪA LÒNG (Mānāpa=vui) và BẤT MÃN (Amānāpa=buồn). -“VỪA LÒNG” thì cảm thấy “khinh an”. “BẤT MÃN” thì cảm thấy “trì trệ”. Cả 2 trạng thái “KHINH AN” và “TRÌ TRỆ”, đều có một ác tật là lôi kéo lẫn nhau, làm cho mạng căn (Jīviṅdriya=bhavaṅga) MẤT THĂNG BẰNG, và kiếp sống chuyên chở vô số VUI BUỒN xen kẻ. -Từ đó, sự THÁI QUÁ của bất cứ bên nào (VUI hay BUỒN) cũng làm cho NĂNG LƯỢNG SỐNG rối loạn, rất khó “điều chỉnh” bằng hưởng thụ vật chất ! -Và muốn chấm dứt tình trạng rối loạn hay tái lập an vui THÂN TÂM, thì không còn cách nào hơn, là phải nhờ “Thiền Pháp Phật giáo” (Bhāvanā), để “kết hợp” khoa học vật chất với khoa học tâm linh, mà dẹp bỏ TẤT CẢ cố chấp duy vật lẫn si mê duy tâm (=mê tín).
-Ngày nay, có một “dạng trầm tĩnh” của THIỀN PHÁP là “sự chăm chú”, đã được “thu hoạch” và nói đến trong “Y khoa tâm lý”, tỏ ra rất hữu dụng đối với việc giảm bớt khủng hoảng tinh thần một cách tạm thời. -Nhưng muốn đạt đến trình độ CỨU CÁNH là quân bình thân tâm lâu dài, thì nhà Phật đã cống hiến cho chúng ta một công phu gọi là THANH TỊNH TRI KIẾN (Diṭṭhivisuddhi pāramī), -phẩm cách tuyệt vời của BÁT-NHÃ (Prajña). -Nhưng đó là một đề tài khác, không thể choán nhiều chỗ ở đây….để tránh lạc xa đề tài chính !
(Bài sau, chúng tôi sẽ hầu chuyện cùng quí vị về THIỀN HỌC Phật giáo, trong phạm vi nghiên cứu, hiểu biết và trải nghiệm của chúng tôi).
Theo nhà Phật, KHỔ NÃO (upakkilesa dukkha) có “2 VẬT LIỆU” (hetu) là :
1/Có THÂN hữu tình hiện tại. Và 2/TÂM còn chứa tham sân si.
<>Khổ não sinh ra từ VẬT LIỆU thứ nhất là thân hữu hình (thuộc về sắc thô) sẽ chấm dứt khi chết. Nhưng khổ não do VẬT LIỆU thứ hai là tâm chứa tham sân si (thuộc về sắc tế), sẽ tiếp tục sau khi tắt thở…và vận hành xuyên qua vố số kiếp luân hồi. -Vì “tâm thức kiếp sau” chính là HỖN HỢP từ những “khổ não của kiếp trước, đã đồng hóa với hậu quả của những NGHIỆP đã làm”. NÓ không còn là tâm thức của kiếp xưa nữa”.
*Đây là lý do “Phật giáo phủ nhận một linh hồn bất diệt, thường hằng”. -Tức là “không có một linh hồn duy nhất xuyên qua mọi kiếp sống”, -mà sau khi “tái sinh” TRI THỨC hiện tại (hay tâm quả) chỉ là “kết cấu” của những NGHIỆP SỐNG kiếp trước. Nó không đồng nhất với bất cứ tâm thức nào trong các kiếp quá khứ. Tâm thức của kiếp nầy và tâm thức của kiếp khác KHÔNG PHẢI là “hai”, mà cũng KHÔNG PHẢI là “một”. -Ngôn ngữ “Pāḷī” thời Đức Phật gọi là “NA CA SO NA CA AÑÑO”.
*Một người phàm thì tâm thức luôn luôn bám chặc vào những khung cảnh sống hiện tại và đã qua, trong 3 cõi DỤC GIỚI (Kāmaloka), SẮC GIỚI (Rūpaloka), và VÔ SẮC GIỚI (Arūpaloka), nhất là vào giây phút hấp hối. Lúc ấy phàm nhân chỉ còn “TÂM CẢNH”, chứ các “cảnh khác” xuyên qua 5 giác quan (đã tê liệt) không còn nữa. -Và tình trạng KHỔ NÃO của TÂM THỨC (Cittaviññāna) trong kiếp chót, bị chồng chất bỡi ‘thuận ý và nghịch ý” thuộc 3 cõi ấy, nặng hay nhẹ không giống nhau. Chúng thay đổi tùy theo “tâm quả” (Vipākacitta) của mỗi sinh linh.
*Nghĩa là tinh thần trong mỗi kiếp sống càng thanh cao, thì KHỔ NÃO càng ÍT ĐƯỢC “bồi dưỡng” bỡi vật chất (thô cũng như tế). Và nếu tâm thức mỗi ngày một trở nên trong sạch, thì sau cùng chỉ còn “phiền não vi tế” trong mỗi chúng sanh ở các CÕI CAO (sắc giới và vô sắc giới). Phật học gọi đó là “lậu hoặc nhẹ” (Ᾱsava), hay “vô minh căn” (Avijjiṅdriya), thuộc về DANH PHÁP (Nāmadhammā).
*Muốn “tẩy sạch” PHIỀN NÃO VI TẾ hay “lậu hoặc nhẹ” trong tâm thức, Đức Phật khuyến khích chúng ta nên thực hiện CÔNG PHU PHẠM HẠNH một cách khoa học, là TU ĐỊNH (Samādhi), TU TUỆ (Paññā), và tu TRI KIẾN (Diṭṭhi)…để sau cùng chấm dứt VÔ MINH, và viên tròn Ba-la-mật Bát-nhã (Paññapāramitā=Trí độ giải thoát). Chính Ba-la-mật Bát-nhã nầy sẽ TRIỆT TIÊU mọi vướng mắc (thô cũng như tế) trong tam giới, nhất là ở cõi VÔ SẮC (Arūpaloka), để trở thành toàn giác, chứng đắc NIẾT-BÀN !
<>Ngoài ra, chúng ta vẫn thường nghe nói đến một cái tên khá “huyền bí” là “TỬ SINH ĐỒ” (Saṃsāra), hay “mê hồn đạo. Và chúng ta cũng không thấy kinh sách nào nói rõ “nguồn gốc” của “TỬ SINH ĐỒ” phát xuất từ đâu. Nhưng xuyên qua nghiên cứu VI DIỆU PHÁP (Abhidhamma), chúng tôi nhận thấy, TỬ SINH ĐỒ có thể bắt nguồn từ sự MẤT THĂNG BẰNG trong tâm trường của mỗi chúng sinh thuộc TAM GIỚI (Tiloka), nhất là DỤC GIỚI.
*Còn theo Khoa học vật lý, thì sự lôi kéo…quay quanh một trục, chỉ xảy ra…khi có tình trạng CHÊNH LỆCHgiữa 2 cực đối với 1 điểm nằm giữa. –SỰ CHÊNH LỆCH hay MẤT THĂNG BẰNG ấy phát sinh do sức hút của quả đất, tương quan với một hay nhiều VẬT, hiện diện trên mình NÓ (=trọng lực). -Như vậy, “tử sinh đồ không gì khác hơn là bảng vẽ, mô tả vận hành tự nhiên của cõi ĐỘNG” (bất thăng bằng), chứ nó không do một “quyền năng nào” tạo ra cả.
*Nói theo giáo lý nhà Phật, thì sư MẤT THĂNG BẰNG đến từ 2 phẩm cách nghịch và thuận, hay hài lòng và bất mãn…-Tức là sư MẤT THĂNG BẰNG đến từ THIỆN và ÁC giao thoa trong TÂM THỨC…tạo động lực xoay vòng (=LUÂN HỒI). Và tính TƯƠNG ĐỐI trong vạn pháp cõi phàm, hằng làm cho không có bên nào (thuận cũng như nghịch, thương cũng như ghét), chiếm ƯU THẾ mãi mãi, nên các vòng TỬ SINH (Jāti jarāmaraṇa) cứ thế…quay tròn liên tục, từ kiếp nầy đến kiếp khác, hết thăng đến đọa, hết đọa đến thăng…một cách vô tận.
***
<>Sau cùng…VÔ NGÃ (Anatta) là cái “cái TA vốn không có bản vị”. Với tinh thần khoa học, VÔ NGÃ là một điều TỰ NHIÊN (naturel) và rất HỢP LÝ (logique). -Dù cho lòng THAM không cho phép ai chấp nhận sự hiện diện của mình là con số “KHÔNG”. Nhưng TRÍ KHÔN vẫn giúp cho mỗi cá nhân biết rằng, khi đã trải qua cuộc sống, mọi người đều trở thành già nua, bệnh hoạn, không có ngoại lệ, và cuối cùng THÂN TÂM nầy chỉ là một “KHỐI BẤT LỰC”, chắc chắn sẽ tan rã, biến mất. Hiện tượng đó đủ chứng minh sự VÔ NGÃ (=hoàn không).
*Và “TRÍ KHÔN” ấy nếu được phát triển bằng PHÁP THANH TỊNH thì nó sẽ trở thành “chiều sâu tri kiến” về VÔ NGÃ, xác nhận “trước sau gì một người đã trải qua sự sống, cũng biết như thế”. Nhưng trong giai đoạn bắt đầu sự “VĂN MIINH” (Civilisation=sống chung), con người cần “óc sáng tạo, đối đãi, phân biệt”, để “sống hài hòa”, nên cộng đồng phải tuân theo những qui ước hay “bản vị xưng hô”, như “tôi”, “anh”, “nó”, “cấp bâc”, “phẩm giá”…được đặt ra, để tránh lẫn lộn…hầu thành lập xã hội có tổ chức…
*Nghĩa là cái TÔI (tương đương với NGÃ) đã “mặc định phát sinh”, kể từ khi con người “biết sống chung” (civilisé), và tiếp tục VĂN MINH. Như vậy, cái NGà vốn do TRÍ KHÔN mà có. -Cảm giác “TÔI là một đơn vị trong xã hội cùng ANH sống chung với người THỨ BA” tự nó không phải là “cái gì xấu”. -Nhưng vì lòng THAM, “tôi trở thành vô minh làm điều xấu” thì cái tôi tham mới xấu, chứ không phải danh xưng. Và khi “tôi sáng suốt làm điều tốt”, nhất là “ý thức trách nhiệm của mình trong mọi hành động”, thì “tôi” ấy là tốt, là “hiệu lực của văn minh”, hay “sản phẩm của khoa học” ! -Nghĩa là cần phải “xử dụng cái tôi một cách lợi tha” hay “xử dụng cái tôi một cách hữu ích” (cho mình và cho người, VÔ HẠI), thì đó chính là ngụ ý của “VÔ NGÔ trong “TAM PHÁP ẤN”, được kinh Phật nói đến. -Nhưng tư tưởng “VÔ NGÔ của những người bi quan, chán đời vốn chỉ là “vô ngã ích kỷ”… thì rất lầm lạc, không liên quan gì đến đạo Phật.
<>Ngoài ra, có một loại ÍCH KỶ khác (=chạy trốn khó khăn, do tật tham an nhàn thúc đẩy), ngụy trang dưới dạng “tư duy thoát tục”, chủ trương rằng “VÔ NGÔ là “không cố gắng để trở thành cái gì hết”. -Nhân đây, chúng tôi xin nhắc lại câu nói của một nhà soạn kịch nổi tiếng người Anh, tên William Shakespeare (thế kỷ 16), đã từng viết :“To be or not to be, that’s the problem”. -Tạm dịch “LÀ GÌ hay KHÔNGLÀ GÌ, đó chính là VẤN ĐỀ !”(?).
-Câu nói nầy vốn “ngụ ý riêng”, có thể xem tương đương với lời khuyên của nhà Phật, là “đừng vướng mắc vai trò, danh vị” (=thoát cố chấp). Nhưng người ta đã khai thác “tính đa nghĩa” của nó, để diễn tả một cách “đề cao” tư tưởng không phải làm gì hết”, một dạng buông xuôi. -Lời ông William Shakespeare đã từng nói, thì lập lại “Ý ẤY” không phải là điều mới !
*Theo Phật học, nhất là căn cứ trên “2 nhóm diệu pháp”, NGŨ CĂN (Pañciṅdriya) và NGŨ LỰC (Pañcabāla), thuộc “37 phẩm giác ngộ” (Bodhipakkhiya dhammā), thì tư tưởng “cần an, buông xuôi” nói trên, có thể đến từ SỰ MẤT THĂNG BẰNG bỡi “5 công phu tu tập”, là 1/tín, 2/tấn, 3/NIỆM, 4/định, và 5/tuê. -Kinh THANH TỊNH ĐẠO chỉ rõ “nếu “4 công phu”, tín căn, tấn căn, định căn, và tuệ căn hay tín lực, tấn lực, định lực, và tuệ lực…mà chiếm ƯU THẾ (Aḍhipati), thì sự MẤT THĂNG BẰNG sẽ xảy ra. -Nhưng đặc biệt khi NIỆM CĂN hay NIỆM LỰC mà trở thành ƯU THẾ, thì “4 tuyệt công còn lại” (tín, tấn, định, tuệ) sẽ tự nhiên THĂNG BẰNG, một cách tiến hóa. -Đó là DIỆU DỤNG của BÁT-NHÃ (Prajña=tuệ kim cương).
-Do đó, niệm căn (saṭi-iṅdriya) và niêm lực (saṭi-bāla) là cặp “song tuyệt” cần thiết nhất, -gọi chung là CHÁNH NIỆM (Sammā-saṭi). -Sự Liên quan của nó như sau, niệm căn là nhân, và niệm lực là quả, trong “bộ song ngũ”, gồm 1/tín căn, 2/tấn căn, 3/NIỆM căn, 4/định căn, 5/tuệ căn, và 1/tín lực, 2/tấn lực, 3/NIỆM lực, 4/định lực, và 5/tuệ lực. -Quan sát chúng ta thấy “NIỆM” nằm ở vị trí số 3, cân bằng giữa 1-2 và 3-4. -Ở đây, CĂN (Iṅdriya) và LỰC (Bala) có thể ví như 2 mặt của một đồng tiền. Hễ có cái nầy thì phải có cái kia, không thể tách rời !
*Mặt khác, cũng xin chớ nhầm “VÔ NGÔ do tư tưởng “không cố gắng để mình trở thành cái gì hết”, với “sự ám chỉ” một “loại chúng sanh vô tưởng” (Asaññasatta), được đề cập trong VI DIỆU PHÁP (Abhidhamma). -Đây là một loại “sinh linh đặc biệt”, mà khuôn khổ bài 6 nầy không cho phép trình bày dài dòng. Chúng tôi chỉ xin giới thiệu và “lưu ý” mà thôi, nếu bàn sâu thì sẽ làm loãng đề tài chính.
–Còn nói về “sinh hoạt thần kinh” theo Y KHOA, thì “buông xuôi” TRI THỨC, là vô tình nuôi dưỡng “mầm mất trí nhớ”, hổ trợ cho sự phát sinh BỆNH QUÊN, nhất là khi về già. -Nếu một “NGƯỜI VÔ NGÔ đang sống, mà chẳng cố gắng để trở thành cái gì hết, thì họ sẽ bất cần biết “mình là ai”, bất cần biết “mình tên gì”, bất cần biết “mình ở đâu”…v…v….(kể cả ra đường không cần biết lối về), tập khí ấy sẽ có hại cho não bộ và sự sống bình thường !
*Trường hợp một người đang sống lành mạnh và tin tưởng rằng, “THÂN TÂM” nầy (=xác thịt và quả tim) là một “hợp thể có ĐIỆN TRƯỜNG kỳ diệu” (tương đương với tinh thần). “Hợp thể” ấy phải có một “năng lực thiêng liêng, tích cực” để duy trì tính SINH HOẠT tiến hóa. -Và khi thân tâm TAN RÃ, năng lượng thiêng liêng kia sẽ không mất. “NÓ” có thể tùy duyên tùy nghiệp, mà “tái xuất hiện” một cách hợp lý, vào vận hành LUÂN HỒI trong các CÕI SỐNG, dưới dạng khác…thì đó cũng là một phương diện của “khoa học tâm linh”, phát sinh từ TRÍ TUỆ (Ñāna). -Kiến thức về phương diện “LUÂN HỒI” (vô hình) nầy vốn “ăn khớp” với LUẬT NGHIỆP QUẢ (Kamma-vipāka niyama) trong nhà Phật.
*Nhắc lại “định nghĩa qui ước” rằng, “VÔ NGÃ (Anatta) là cái TÔI không có bản vị”. -Chúng ta thử bình tâm suy xét, rằng vào tuổi già khi thân thể bắt đầu bệnh hoạn, -một cách không tránh khỏi (!) để cuối cùng phải chết…thì ai là người có thể phủ nhận tính thực tế và chứng nghiệm của sự thật HOÀN KHÔNG ấy ở cuối đời ?! -Cần gì phải “học Phật” mới biết ! Vì sau đó, mỗi “cá nhân” chỉ được “tượng trưng” bằng một nấm mồ, hay một bình tro màu xám, chẳng có BẢN VỊ gì cả. -Nếu thân nhân hay những ai khác ca ngợi, và tạc tượng trân trọng đến đâu, -thì theo đạo Phật, đó chỉ là MỘT DẠNG lòng tham của những người còn sống. -Nghĩa là “cái được gọi là TÔI (hay NGÃ), chỉ hiện hữu từ khi chào đời cho đến khi tắt thở” !
<>Nhưng theo “khoa học tâm linh”, thì những “ấn tượng” hay “sóng điện” của mọi hành động (tốt hay xấu), lúc còn sống của một người, hằng lưu lại trong đại môi trường SINH HOẠT, -đạo Phật gọi toàn bộ những “ấn tượng” hay “sóng điện” ấy, là cảnh giới NGHIỆP QUẢ (Kammavipākaloka). -Tại sao ? -Vì “đại môi trường SINH HOẠT” và cảnh giới NGHIỆP QUẢ vốn “đồng tánh”, nói theo KHOA HỌC LÝ HÓA. Ấy gọi chung là MÔI TRƯỜNG ĐỘNG (Saṅkhārābhūmi), luôn luôn “lưu trử” ấn tượng, sóng điện và lượng tử….xuyên qua thời gian và không gian, tương đương với NGHIỆP QUẢ trong Phật giáo.
*Đến đây, vấn đề được đặt ra với KHOA HỌC THÂN TÂM (Pañcakhandha VIJJᾹ), liên quan đến hỗn hợp một thời của thể xác và tinh thần…từng sống rồi chết, và đã hoàn toàn TAN RÃ, là “kiếp trước kết thúc bằng KHÔNG, và sau đó bắt đầu bằng CÓ, nếu ấy là sự thật thì “vận hành chuyển hóa” như thế nào, để cho mắt thịt dù chẳng nhìn thấy cụ thể, cũng có thể dùng “mắt tâm”(trí tuệ) nắm bắt được một cách hợp lý !?”
<>Xin thưa, đây là hiệu lực của VẬT LÝ (physique), “phản động vì có động” (action ré-action) trong KHOA HỌC NGÀY NAY, hay hiệu lực của “trách nhiệm do tri thức” (vipākacitta)) trong “Giáo lý Nghiệp Quả” thuyết minh bỡi Đức Phật.Hai nhóm từ “PHẢN ĐỘNG VÌ CÓ ĐỘNG”hay “TRÁCH NHIỆP DO TRI THỨC” vốnlà 2 phương diện LÝ và HÓA rất khoa học. Nó đại diện cho các châm ngôn đầy minh triết hay cho lý lẽ của TRÍ THANH TỊNH (=Bát-nhã), hằng có mặt, nơi tư tưởng của các khoa học gia, trong và ngoài đạo Phật.
*Hơn nữa, hai chữ “VÔ NGÔ (Anatta) mà chúng ta đề cập hôm nay, đã đến từ bài pháp thứ hai của đức Phật (Dutiya Buddhadesanā), sau khi Ngài đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác (Sammāsambuddha) cạnh gốc cây Bồ-đề (Bodhirukkha), Bodhigaya Ấn-độ ngày xưa.
Bài PHÁP thứ II ấy, gọi tên đầy đủ là “VÔ NGÃ TƯỚNG KINH” (Anattalakkhaṇasutta).
<>“VÔ NGÔ ở đây ám chỉ sự qui nạp “TÍNH VÔ BẢN VỊ” nơi thân tâm (hay ngũ uẩn=pañcakhandha) con người, do kết hợp mà thành. Trong tiếng Pāḷī, đức Phật đã nhấn mạnh, “KHÔNG CÓ NGà trong ngũ uẩn”, hoặc đúng hơn “ngũ uẩn CHẲNG PHẢI LÀ NGÔ (=Anatta). -Nghĩa là, NGŨ UẨN chỉ là NĂM PHỐI HỢP (hay “5 tập khí”, hoặc “5 tập ấm” (khandha), có thể mệnh danh một cách khác, là “KHO CHỨA, gồm “5 khối” như sau :
1/Khối thứ I, THÂN THỂ hay “sắc uẩn” (rūpakhandha), chứa tứ đại cấu hợp (thô cũng như tế), ám chỉ toàn bộ vật chất “đã bị nhiễm tam tật” (tham sân si) từ quá khứ.
2/Khối thứ II, CẢM GIÁC hay “thọ uẩn”(vedanākhandha), chứa tất cả cảm tính (thanh cũng như trược, thiện cũng như ác), ám chỉ toàn bộ thất tình lục dục, lưu lai từ vô thủy quá khứ.
3/Khối thứ III, GHI NHỚ hay “tưởng uẩn” (saññākhandha), chứa tất cả ấn tượng (thanh cao cũng như thấp hèn, lành cũng như dữ, thuận cũng như nghịch), chồng chất từ quá khứ đến hiện tại, tức là toàn bộ ký ức.
4/Khối thứ IV, VẬN DỤNG hay “hành uẩn” (saṅkhārākhandha), chứa những “tiềm lực chuyển động” VẬT LÝ và TÂM LÝ (cụ thể cũng như trừu tượng, bộc lộ cũng như ngấm ngầm, mạnh cũng như yếu), đã “thuần thục” hay “còn vụng về”, từ vô thủy quá khứ.
5/Khối thứ V, HIỂU BIẾT hay “thức uẩn” (viññānakhandha), chứa “toàn bộ kiến thức” (trong sáng cũng như mù mờ, thăng bằng cũng như chênh lệch, khai phóng cũng như đóng khung, khai thông cũng như bế tắc), được tổng hợp…phản chiếu xuyên qua tất cả chu kỳ sinh diệt.
<>Và chỉ trong CÁI KHUNG của toàn bộ DANH SẮC (Nāmarūpakhandha) hay THÂN TÂM, cũng gọi là “NGŨ UẨN” (Pañcakkhandha) ấy, xuyên qua bài kinh “VÔ NGÃ TƯỚNG” (Anattalakkhaṇasutta), mà đức Phật đã minh bạch khai thị đệ cho tử và thính giả, bằng cách vấn đáp, xem “trong số 5 uẩn phối hợp thành con người”, có “uẩn nào” hay “nhóm uẩn nào” được con người thật sự “LÀM CHỦ”, có thể “xử dụng như ý muốn” chăng…thì câu trả lời luôn luôn là KHÔNG (Natthi).
<>Và để soi sáng lý VÔ NGÃ, vấn đề cần đặt ra cho người noi gương Phật, vốn chẳng phải là nhằm “xác nhận” CÓ(atthi) hayKHÔNG CÓ (natthi) bản vị (atma), của cái tôi VÔ THƯỜNG, biến hành không ngừng (sabba-sādhārana), -mà là khuyến khích “tháo gỡ” 5 KHỐI TẬP KHÍ hay ngũ uẩn (Pañca-khandhā). -Nói cách khác là làm sao đạt đến TRI THỨC THANH TỊNH (Pariñña), bằng CÔNG PHU tu tập một cách KHOA HỌC, đưa đến TUỆ BÁT-NHÃ (Prajña).
*Đồng thời…giáo pháp “thập độ ba-la-mật” (dasa-pāramī-dhammā) trong nhà Phật cũng chính là kỹ thuật hữu hiệu. (-Mời quí vị đọc thêm kinh “Thập Độ Ba-La-Mật”, nội dung bao gồm Giới Định Tuệ). Theo đó :
=> GIỚI (Sīla) và ĐỊNH (Samādhi) tháo gỡ NGHIỆP (kamma) tạo ra sắc uẩn (rūpa-khandha), thọ uẩn (vedanā-khandha), và tưởng uẩn (sañña-khandha).
=> TUỆ (Prajñā) tháo gỡ NGHIỆP (kamma) tạo ra hành uẩn (saṅkhāra-khandha) và thức uẩn (viññāna-khandha)…để sau cùng THẬP ĐỘ BA-LA-MẬT (paramattha) đưa TÁNH BIẾT (Cittaviññāna) trở về CHÂN TÂM (Yathābhūta).
*Khi đã thực hành đầy đủ công phu ấy, thì một bậc phạm hạnh chắc chắn sẽ không còn thắc mắc về “NGÔ, về “LUÂN HỒI”, về “VŨ TRỤ”, hay thậm chí về “NIẾT-BÀN” nữa. -Nhưng Ngài cũng KHÔNG trở thành “DUY VẬT” (=đoạn kiến) !
-Trong bài kinh VÔ NGÃ TƯỚNG, Đức Phật đã thanh tịnh qui nạp rằng “Nếu từ 1 đến 5 uẩn là TA hay là CỦA TA, thì con người có thể sai khiến nó như ý muốn, nhưng nếu con người không thể xử dụng được khi cần thiết, hay bất lực trước thực tại, thì con người chẳng những đã KHÔNG LÀM CHỦ ngũ uẩn, mà ngược lại còn bị nó gây khổ”.
-Vì sao ? -Vì theo lời Phật, NGŨ UẨN (Pañca-khandha) do nhân duyên TỨ ĐẠI kết hợp mà thành. Và cái gì do tứ đại KẾT HỢP thì dù chúng có HÌNH TƯỚNG hay VÔ HÌNH TƯỚNG, chúng luôn luôn VÔ DỤNG, bất thường, và là nguồn gốc của khổ não, -nhất là khi thân tâm yếu đi, không đủ mạnh như trước (hết duyên)…thì ngũ uẩn tự suy sụp, TAN RÃ.
<>Theo Phật học thì…TỨ ĐẠI thô (=nặng) hay tế (=nhẹ), chỉ có trong 2 cõi luân hồi là DỤC GIỚI (Kāmabhūmi) và SẮC GIỚI (Rūpabhūmi). -TỨ ĐẠI (Catu mahādhātu) nầy, ám chỉ “4 nguyên tố” (dhatu) có tên qui ước, tạm gọi là “ĐỊA” hay ĐẤT (Paṭhavī), “THỦY” hay NƯỚC (Ᾱpo), “HỎA” hay LỬA (Tejo), và “KHÍ” hay phong, gió (Vāyo).
-Xem ra kinh VÔ NGà TƯỚNG là một thông điệp về phàm nhân (tâm chứa đầy tham sân si), mà đức Phật để lại cho chúng ta đến ngày hôm nay rất rõ ràng, rằng “trong NGŨ UẨN không có NGÔ hay nói cách khác “NGŨ UẨN chẳng phải là NGÔ.
-Còn câu hỏi “tò mò” xa hơn rằng, “Ngoài cái KHUNG “NGŨ UẨN” ra, đức Phật có “nói gì về NGÃ trong các trường hợp khác chăng (!)” thì chưa nhà Phật học nào tìm ra tài liệu. Nhưng chúng tôi không dám chỉ dựa vào kinh “VÔ NGÃ TƯỚNG KINH”, mà KẾT LUẬN TOÀN DIỆN rằng, “Phật giáo chủ trương vô ngã, phủ nhận linh hồn”.
-Dù cho kinh Pāḷī của Phật Giáo Nguyên Thủy không dùng từ ngữ “linh hồn”, mà chỉ tạm dùng 2 chữ “tâm thức” (cittaviñāna) hay “tinh thần” (maṇo), thì cũng không có nghĩa là đạo Phật “phủ nhận phần tâm linh” (=siêu nhiên) trong mỗi con người. -Vì sao ? -Vì coi chừng…sự kết luận “VÔ NGÃ TOÀN DIỆN” có thể đưa chúng ta rơi vào đoạn kiến !
-Hãy nhớ thêm NỘI DUNG bài pháp thứ ba (Tatiya Buddhadesanā) của Đức Phật, tên là KINH PHẠM VÕNG (Brahmajalasutta). Trong bài pháp nầy, đức Phật đã nêu ra “62 TÀ KIẾN” (Micchādiṭṭhi), theo đó tư tưởng nào cho rằng “CHẾT LÀ HẾT”hay “tử giả biệt luận” thì được xếp vào hạng “đoạn diệt” (Ucchedavāda), hay “VÔ TRÍ PHÁP” (Adhammena), một loại TÀ KIẾN rất nguy hiểm cho tâm thức, có thể làm tinh thần bế tắc, thoái hóa và luôn luôn chìm sâu trong VÔ MINH (Avijjā).
<>Đức Phật là Bậc Toàn Tri Diệu Giác (Sammāsambuddha). Khi Ngài thuyết minh “TAM PHÁP ẤN kích thích sự GIÁC NGỘ”, Ngài đã biết trước “người đời sau có thể hiểu lầm 3 pháp ấy, mà trở thành bi quan, mất định hướng”, nên Ngài đã nhiều lần nhắc đến TRÍ THỨC trong mỗi người, như là KIM CHỈ NAM, được xem “tương đương” với CHÁNH KIẾN (Sammādiṭṭhi) và CHÁNH TƯ DUY (Sammāsaṅkappo) trong Bát Chánh Đạo.
-Thậm chí chính “những lời dạy trong kinh sách cho là của Phật”, Ngài cũng khuyên chúng ta đừng nhắm mắt tin mù, mà phải dùng trí tuệ phân xét và kiểm chứng. -Như thế, chúng ta đủ thấy…Đức Phật đã “khuyến khích” trí tuệ như thế nào !
-Chẳng hạn như kinh KᾹLᾹMA (Kālāmasutta), thuyết tại làng Kesaputta (tra cứu theo Aṅguttara Ṇikāya, No. III-65=Tăng-chi Bộ kinh, số III-65), Phật đã nêu ra 10 trường hợp không nên VỘI TIN hay VỘI BỎ, mà phải bình tĩnh suy nghĩ thật kỹ, -rằng khi gặp 1 trong 10 điều sau đây, Phật khuyên chúng ta nên thận trọng :
1/Không tin ngay những gì đã được người khác chấp thuận, và đang được phổ thông,
2/Không tin ngay những gì gọi là tôn giáo, hay truyền thống do người xưa để lại,
3/Không tin ngay những tin đồn, vì nhiều người đã nghe, nhưng chẳng phản đối,
4/Không tin ngay những gì do “kinh sách” ấn định và hướng dẫn,
5/Không tin ngay các giả thuyết, tuy chưa trải nghiệm nhưng xét ra rất hợp lý,
6/Không tin ngay sự xác chứng bề ngoài, dựa theo châm ngôn ngạn ngữ,
7/Không tin ngay những “lời lẽ” của các cá nhân “nổi tiếng”, có nhiều “danh phận”,
8/Không tin ngay những gì mới nhìn qua giống như thực,
9/Không tin ngay những gì đến từ tài năng, quyền lực…của kẻ khác,
10/Không tin ngay những gì thuộc về ý kiến của tôn sư hay của giáo chủ.
<>Tóm lại, “TAM PHÁP ẤN kích thích sự GIÁC NGỘ” (=vô thường, khổ não, và vô ngã) trong nhà Phật, không phải là một “giáo lý mặc khải” kiểu “tín đồ nghe là phải tin”, với lý do rằng “đó là thiên ý, không ai được thắc mắc !” -Mà một cách khác, “TAM PHÁP ẤN kích thích sự GIÁC NGỘ” trong nhà Phật, là một “công thức minh triết”, vừa thuộc về “KHOA HỌC TÂM LINH”, vừa thuộc về VẬN HÀNH LÝ HÓA trong VĂN MINH HIỆN ĐẠI.
-Khi đã gọi là “công thức minh triết”, thì ý nghĩa sâu sắc của nó có thể bị “hiểu lệch”. Và nếu bị hiểu lầm, thì hiệu lực phục vụ của Phật giáo, đối với nhân loại nói riêng, và đối với chúng sanh trong TAM GIỚI nói chung…sẽ giảm thiểu hiệu quả.
<>Mặt khác, quả thật đáng tiếc…nếu “nội dung” của “Tam Pháp Ấn” là VÔ THƯỜNG (Aniccā), KHỔ NÃO (Upakkilesa dukkha), và VÔ NGÃ (Anatta) trong Phật giáo, không được “giải mã một cách soi sáng”, tương đương với 3 hiện tượng là BIẾN HÓA (transformation), XUNG ĐỘT (implosion) và HOÀN KHÔNG (Vide), như trong khoa học LÝ HÓA…thì Phật học khó có thể soi sáng tư duy con người thời đại, để tái lập THĂNG BẰNG TINH THẦN.
Nghĩa là :
*Khi hiểu và biết ĐÚNG về VÔ THƯỜNG (tức có chánh kiến và chánh tư duy, đối với“SẮC PHÁP” hữu hình, cũng như “DANH PHÁP” vô hình, -nói theo nhà Phật !)…thì con người sẽ bớt cố chấp vào những thực tại vật chất, như tài sản, sắc đẹp, thân nhân, bà con, địa phương, sông núi….., cũng sẽ bớt cố chấp vào những thực tại tinh thần, như danh dự, quyền lực, phẩm cách, chủ nghĩa, phúc đức, thân phận, thuận nghịch….. -Và họ tự động nghĩ rằng “tất cả những thứ ấy chỉ là vật liệu tạm thời để cộng nghiệp TỐT”, cho đến khi đạt tới GIÁC NGỘ.
*Khi hiểu và biết ĐÚNG về KHỔ NÃO (có chánh kiến và chánh tư duy, đối với“SẮC PHÁP” hữu hình, cũng như “DANH PHÁP” vô hình, -nói theo nhà Phật !)…thì con người sẽ bớt cố chấp vào những HIỆN TƯỜNG, như sinh, lão, bệnh, tử…thuộc về nội cảnh bản thân, hay bớt cố chấp vào biến hóa của vũ trụ, như thành trụ, hoại, không….thuộc về ngoại cảnh thế gian …. -Và họ tự động nghĩ rằng “những thứ ấy chỉ là vật liệu tạm thời để cộng nghiệp TỐT”, cho đến khi GIÁC NGỘ.
*Khi hiểu và biết ĐÚNG về VÔ NGÃ (tức có chánh kiến và chánh tư duy, đối với“SẮC PHÁP” hữu hình, cũng như “DANH PHÁP” vô hình, -nói theo nhà Phật !)…thì con người sẽ bớt cố chấp vào những hiện cảnh đa dạng, như còn mất, có không, cao hạ, khổ lạc thuộc về DỤC GIỚI…, -cũng như bớt cố chấp vào những thực tại tư kiến, như sắc không, hữu tưởng, vô tưởng, ly trí, hợp trí….thuộc về SẮC và VÔ SẮC. -Và họ tự động nghĩ rằng “tất cả những thứ ấy chỉ là vật liệu tạm thời để cộng nghiệp TỐT”, cho đến khi đạt tới TOÀN GIÁC.
<>Hơn nữa, theo Phật học, “vô ngã không phải là đoạn kiến”, vì trong TAM TẠNG kinh điển chữ Pāḷī, có một tài liệu quan trọng tên là JᾹTAKA (=Túc Sinh Truyên). Đó là quyển thứ 10 trong Tiểu Bộ Kinh Phật Giáo (Khuddaka Nikāya) thuộc TẠNG KINH (Suttapiṭaka). Sách nầy công bố 447=>450 câu chuyện “tiền thân Phật”, tức là “những kiếp TÁI SINH trong quá khứ để viên tròn hạnh độ đời của Bồ-tát (Bodhisattva)”, trước khi thành Phật (Buddha).
*Sự TÁI SINH là một “vận hành tự nhiên”, có thể nói là “rất khoa học”, khi “dòng điện tâm” (Bhavaṅga) còn chuyên thở “3 năng lượng xấu” (THAM-SÂN-SI), hết điều kiện nương tựa vào thân xác kiệt quệ, lúc suy tàn một kiếp sống, thì “tái hiện” bằng sự sống mới, theo QUẢ của NGHIỆP. -“Dòng điện” ấy thay đổi không ngừng xuyên qua mạch sống trước (purebhavaṅga), và biến thành TỪ TRƯỜNG…hút lấy “đối tượng tương ứng” (vipāka-paccaya), tạo ra “mạch sống sau” (pacchābhavaṅga), để “tái hoạt động”, theo duyên hệ NGHIỆP QUẢ (kammavipāka-paccaya). -TÁI SINH !
-Người ANH MINH (vịjjā) thì hiểu VÔ NGÃ bằng trí tuệ (Prajñā), có CHÁNH KIẾN (Sammādiṭṭhi). Người VÔ MINH (Avijjā) thì hiểu VÔ NGÃ bằng si mê (Moha), có TÀ KIẾN (Micchādiṭṭhi). Và ĐOẠN KIẾN (Ucchedadiṭṭhi) thì nguy hiểm nhất trong các thứ TÀ KIẾN !
<>Nhân loại là một đại tập thể đa văn hóa và bất đồng. Chúng ta rất khó hy vọng nhìn thấy “tất cả có trình độ TRI KIẾN bằng nhau”, nhưng trước hết, chỉ mong “những người cầm đầu các quốc gia tiến bộ, hùng mạnh trên thế giới có thể hiểu và biết đúng“TAM PHÁP ẤN” (vô thường, khổ não, vô ngã), một cách khoa học, sáng suốt…để hành động sao…cho cuộc sống của toàn thể các quốc gia trên quả đất nầy bớt đi xung đột, tái tạo bình an !
Cư sĩ Tuệ Lạc (NĐ) -Pháp quốc. Paris 27/09/2021.
(Ghi lại tri kiến…phát sinh nhờ CHỈ QUÁN trong mùa «tịnh thất»)