Bản Sắc Khoa Học trong Phật giáo Bài 3

Bài 3

*Liên quan đến TỨ DIỆU ĐẾ (Catu Ariya Saccāni)

<>Kỳ nầy, chúng tôi xin trình bày về những “đặc điểm KHOA HỌC” trong giáo lý nhà Phật, liên quan đến Tứ Diệu Đế, hay liên quan đến Bốn Sự Thật Siêu Việt. -TỨ DIỆU ĐẾ (-Tiếng Pāḷī “CATU ARIYA SACCᾹNI”) trước tiên là NỀN TẢNG TƯ DUY (Patiṭṭhānasassa saṅkappa) của người theo đạo Phật. -Cần nhấn mạnh rằng, Tứ Diệu Đế hay Bốn Sự Thật Siêu Việt (còn gọi là 4 CHÂN LÝ) không phải là những “GIÁO LÝ HUYỀN BÍ”, mà loài người không thể tìm hiểu, phân tích hay suy luận về NGUỒN gốc của THỰC TẠI.

*Xưa nay, những “lời tiết lộ” của một giáo chủ, thường nặng về THẦN HỌC (théologie), thiên vềMẶC KHẢI. Và các vấn đề then chốt được một giáo chủ thốt ra, đều thuộc về lãnh vực SIÊU HÌNH, nằm ngoài sức hiểu biết của con người. Nói chung, trong hầu hết các tín ngưỡng ngoài Phật giáo, NIỀM TIN phải là điều tiên quyết, bất khả tranh luận hay từ chối…vì lý do gì.

*Nhưng Phật Giáo thì khác, nhất là “Đạo Phật Nguyên Thủy” do Đức Thích-ca Mâu-ni lưu lại, NIỀM TIN trong đạo Phật, là một “biểu lộ của ý thức chấp nhận hợp lý”. Ngày xưa, chính Đức Phật đã “phản đối” sự bất công, sự phân biệt giai cấp, “đả phá” mọi tình trạng mê tín(=ngu dân), trong xã hội Bà-la-môn (Brahamanisme). -Nói rõ hơn, NIỀM TIN trong đạo Phật, vốn đến từ tính soi sáng, hay KHAI TRÍ. Nó không phải là hậu quả của áp đặt “Phật quyền”.

*NIỀM TIN ấy phải là “dấu hiệu” của TỰ NGUYỆN HƯỚNG THIỆN, hoàn toàn nằm trong “khả năng tri kiến” của con người (dù cho còn phàm). -Thiết nghĩ, chúng tôi nêu ra loạt bài “BẢN SẮC KHOA HỌC TRONG ĐẠO PHẬT”, chẳng những đã không quá đáng, mà còn là một đóng góp thiết thực vào nền văn minh nhân loại ! -Mục đích chính là để “đánh tan” một số “lầm tưởng”, cho rằng “đạo Phật cũng nghịch chiều khoa học, như những tín ngưỡng khác”!  

<>Để chứng minh điều đó, chúng tôi xin nhắc lại 1trong 3từ ngữ (tham sân si), rất thường nghe trong ngôn ngữ nhà Phật, là…SI. Và theo “Phật học A-tỳ-đạt-ma” (Abhidhamma), thì tật “SI” (moha) vốn phát sinh từ tình trạng “VÔ MINH” (avijjā), -mà trong tiếng Pāḷī, chữ có nghĩa “đối nghịch” với VÔ MINH” (avijjā), là “MINH” (dịch ra Pālī là “VIJJᾹ”).  

Chúng ta có thể viết ra “sự tương phản” ấy bằng “công thức” như sau :

VÔ MINH (avijjā) > < MINH (vijjā).

*Rồi “hiển nhiên hơn nữa”, là khi tra cứu…chúng ta thấy trong tự điển PALI-ENGLISH, của 2 học giả nổi tiếng về Pāḷī-Saṅskrit, là 2 giáo sư T.W. RHYS DAVIDS và WILLIAM STEDE, Đại học Oxford, Anh quốc phát hành (trang 617), chữ “VIJJᾹ” được dịch ra Anh ngữ là “SCIENCE”, tương đương với danh từ “KHOA HỌC” trong “hán việt”.

Còn một tự điển khác là cuốn ENGLISH-PALI của Ngài A.P.Buddhadatta Mahāthera, cao tăng xứ Phật giáo Tích-lan (ở trang 486) cũng dịch chữ “SCIENCS” (=KHOA HỌC) ra tiếng Pāḷī là “VIJJᾹ”. Chưa kể, từ ngữ “VIJJᾹ” (=Minh hay Anh Minh) cũng có nghĩa trong tiếng Anh là “highest knowledge”, kiến thức cao nhất.

Từ đó, “Công thức” trên được bổ túc, thành :

VÔ MINH (avijjā) > < MINH = KHOA HỌC (vijjā), và

MINH = “VIJJᾹ” = KHOA HỌC = KIẾN THỨC CAO NHẤT.

<>Vả lại, không bắt buộc phải dựa vào kinh điển “PHẬT GIÁO NAM TRUYỀN” (dùng cổ ngữ Pāḷī hoặc Saṅskrit) để chỉ ra “Bản Sắc Khoa Học trong đạo Phật”, mà ngay cả căn cứ vào kinh điển “PHẬT GIÁO BẮC TRUYỀN”, dùng chữ “Hán” (=Phồn thể), thì các ĐOẠN KINH nói về “BÁT-NHÔ cũng đều được các nhà nghiên cứu Phật học danh tiếng (truyền thống Trung hoa) xưa nay, nhìn nhận là “GIÁO LÝ CỐT LÕI SOI SÁNG” của nhà Phật.

*“BÁT-NHÔ (Paññā=Prajña) ở đây, ám chỉ cái “TRI KIẾN TUYỆT LUÂN, HOÀN TOÀN” của Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác (Sammāsambhuddhañāna). -Nếu chúng ta không muốn xem BÁT-NHà là “Bản Sắc Khoa Học” trong Phật giáo, thì chúng ta gọi ẤY là gì ? Như vậy, nhóm từ đươc dùng để đặt tên cho loạt bài nầy…quả thật không nên bị hiểu lầm là “phóng đại” !

*Lại nữa, trong lập trình của THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN”, mà chúng tôi đã đề cập trong “Bài trước, VÔ MINH (Avijjā) chính là “khoen đầu”, khởi đông vòng luân hồi. Thay vì gọi là “vô minh”, chúng ta có thể dựa vào các tra cứu nói trên, thay thế 2 chữ vô minh” bằng 3 chữ RÕ NGHĨA hơn là “phản khoa học”. -Từ đó, chúng ta qui nạp rằng,“nếu ngược lại, sự khởi đầu ấy là MINH (VIJJᾹ=đúng khoa học, ANH MINH), thì BẢN CHẤT ĐÓ vốn triệt tiêu các khoen tương tác tiếp theo, để tất nhiên không có “duyên khởi luân hồi”. -Phật học còn gọi MINH hay “ANH MINH” (Vijjā) là “thuận pháp” (=dhammena), tức là CÓ PHẨM CÁCH SIÊU THOÁT đối trị hẳn “VÔ MINH” (Avijjā) hay “nghịch pháp” (adhammena).

-Và để cho đề tài được “sống động”, chúng tôi đề nghị quí vị, hãy xem TỨ DIỆU ĐẾ, hay Bốn Sự Thật Siêu Việt như một bức tranh triết luận, và hãy xem «BẢN SẮC KHOA HỌC trong NHÀ PHẬT» là “trật tự sắp đặt” của những nét trình bày “hữu minh” trên “bức tranh triết luận” ấy, để có sự “mạch lạc hóa” cái TÍNH TƯƠNG QUAN, của toàn bộ Phật giáo (Buddhassa desana), trong tiến trình GIÁC NGỘ (Bodhi).

*Nghĩa là ba chân lý, gồm KHỔ, TẬP, DIỆT, phối hợp với chân lý thứ tư (BÁT CHÁNH ĐẠO=sống sáng suốt theo phạm hạnh), phải nằm trong cái khung có“phân bổ khoa học”, để cho CHÂN LÝ NẦY được chứng minh rằng “NÓ vừa là nhân vừa là quả (liên quan) của CHÂN LÝ KIA”, trong vận hành THUẬN DUYÊN, khi cả hai nhất thời tương tác, và trong vận hành NGHỊCH DUYÊN, khi cả hai nhất thời không tương tác…NHẤT THỜI nói đây ám chỉ THỰC TẠI.

-Chỉ có Bản Chất Khoa Học trong Đạo Phật, mới có thể giúp cho TỨ DIỆU ĐẾ được người đời nghiên cứu, một cách thông thoáng. Nếu không, «Tứ Diệu Đế», sẽ bị coi là một “lý thuyết thuộc về siêu nhân” (Thánh đức). Còn những hạng “phàm phu tục tử” thì “chân lý cứu cánh” trong TỨ DIỆU ĐẾ sẽ tỏ ra rất mơ hồ và xa vời, hoàn toàn nằm ngoài tầm tri thức của thực tại con người. -Xin bắt đầu theo thứ tự :

<>Liên quan đến CHÂN LÝ hay SỰ THÂT THỨ I,

“KHỔ ĐẾ”(Dukkha Ariya Sacca).

 <>Tiếng Pālī của Phật gọi “SỰ THẬT THỨ NHẤT”(Pathama Sacca) là «Dukkha Ariya Sacca». Hai chữ «Ariya» và «Sacca» nằm ở vị trí thứ 2 và thứ 3 trong nhóm chữ nầy. Chiếu theo tự điển, thì chúng có nghĩa là «sự thật cao thượng» hay «chân lý cùng tột» (=DIỆU ĐẾ : Ariya Sacca). Nhưng quay sang «khái niệm» về 2 chữ ấy trong tư tưởng của chúng ta, thì không khéo chúng có thể bị xem là “có nội dung biệt lập”, tách khỏi vận hành tương tác chung, khó thấy mối quan hệ đến sự SOI SÁNG trong tri thức…của trung đạo.  -Vả lại, chính chữ “DUKKHA” mới là «phần nòng cốt» trong nhóm từ nầy, cần đến KHOA HỌC TRUNG ĐẠO.

*Nếu chúng ta không chú ý đến nội dung sâu sắc của NÓ trong bài kinh CHUYỂN PHÁP LUÂN (Dhammacakkappavattana sutta), thì «ý nghĩa» của NÓ, sẽ dường như chỉ là «KHỔ», theo cách nói chung chung. -Nhưng quả thật, nội dung của từ ngữ «DUKKHA» ở đây không giản dị. Đó là một «luận đề» phải gắn liền với KHOA HỌC TRUNG ĐẠO. Nếu không thì “Ý NGHĨA KHỔ” sẽ trở thành «méo mó», có thể bị hiểu sai cách !

*Vì khi «phân tích trên bề mặt chữ nghĩa» và «xuôi theo cảm giác đại cương», thì từ ngữ «DUKKHA» chuyên chở cái «nghĩa nôm na» là đau đớn, khó chịu, bất tọai nguyện, một tri giác tiêu cực tổng quát (một “nội dung” mà bất cứ sinh vật nào cũng cảm nhận được). -Hóa ra đệ nhất đế để “tiết lộ” cái «CHÂN LÝ CÙNG TỘT», chỉ «đại khái» như thế thôi ư ?!. -Ngược lại, nếu ẤY là «PHÁP GIÁC NGỘ RỐT RÁO», không có pháp nào hoàn hảo hơn, thì NÓ (=DUKKHA) phải có một CHIỀU SÂU RẤT MINH TRIẾT. -Do đó, người học Phật cần phải cẩn thận khi tìm hiểu chữ “DUKKHA”, hầu “khám phá” được Ý NGHĨA CHÂN ĐẾ của nó !

<>Và để xác nhân «nội dung» của chữ «DUKKHA» chuyên chở «Phật học giác ngộ cùng tột như thế nào», chúng ta phải khách quan tìm hiểu «chiều sâu» của NÓ, qua cả hai phương diện tích cực (thuận) lẫn tiêu cực (nghịch). Vì dịch thuật với chữ «KHỔ» đã phổ biến xưa nay, có thể che khuất mặt “tích cực”, một nửa “SỰ THẬT” (Saccatharu) còn lại…bị “bỏ quên”, -không được hiệu lực của TRUNG ĐẠO soi sáng. Đây mới là điểm “then chốt” !

-Cũng vì dịch thuật “DUKKHA” “KHỔ” nầy, mà ngày nay nhiều người trong chúng ta, đã lầm tưởng rằng «đạo Phật là tôn giáo nhìn đời toàn ĐAU KHỔ» !

*Và nhắc đến “KHOA HỌC TRUNG ĐẠO” là nhắc đến tính thiết thựccủaTRI KIẾN TRÒN ĐẦY trong đạo Phật. Nghĩa là, chúng ta phải nhìn vấn đề qua BẢN SẮC KHOA HỌC, để “khám phá” trọn vẹn NỘI DUNG của chữ «DUKKHA», không vội vã chấp nhận cái cảm tính bề mặt, bỏ qua sự soi sáng của phẩm Giác Ngộ, rằng «đạo Phật hằng làm cho nhân sinh thấy đúng, hiểu đúng, và nghĩ đúng, như một “lối sống đầy xác nghiệm chính đáng”, để tin đúng, hành động đúng,sống đúng (=LẠC QUAN) !

-Chắc quí vị cũng ngạc nhiên khi thấy chúng tôi thỉnh thoảng viết 2 từ ngữ “khoa học” và “trung đạo” thành “một nhóm” (!) -Lý do ?! -Vì “TRUNG ĐẠO” mà không có “KHOA HỌC” kèm theo, thì người ta sẽ hiểu lầm là “TRUNG ĐẠO chỉ là con ĐƯỜNGGIỮA cố định”. -Rồi khi chấp vào “CON ĐƯỜNG ĐÓ”, người ta sẽ mất trung đạophản khoa học, không còn là “bản sắcđưa đếnBÁT-NHÔ trong Phật giáo nữa.

<>Thực ra, «Ý NGHĨA GIÁO HÓA» của chữ “DUKKHA” ám chỉ rõ ràng rằng, «kiếp người vốn nằm giữa 2 tình trạng thuậnnghịch, khổvui». Đức Phật đã thuyết kinh CHUYỂN PHÁP LUÂN, để đưa ra một PHÉP SỐNG ĐÚNG CÁCH, đầy hiệu lực hóa giải khổ vui, hóa giải thuận nghịch. Do đó, người học Phật phải tìm hiểu đầy đủ «nội dung» của chữ “DUKKHA”, để không vướng vào cái lưới “nghĩ theo phần đông”, mà xưa nay dịch thuật DUKKHA là «KHỔ» đem lại. 

-Khi nhìn theo khía cạnh «UYÊN NGUYÊN» của chữ «DUKKHA», và với “chỉ quán thanh tịnh”, chúng ta thấy đó là tình trạng «KHUYNH ĐỘNG BẤT KỲ» trước khi VŨ TRỤ thành hình. Vì thuở đầu, tức là sau cuộc nổ lớn (big bang), tất cả chỉ là «MANG MANG VÔ CỰC». Thực trạng ấy gọi là «tập khí khởi tích lũy» (pathama khandha) của MỌI VẬN HÀNH HIẾU ĐỘNG (saṅkhāra kamma), gồm các yếu tố tạo ra “NHẤT UẨN” (sơ cấu), rồi trải qua một thời gian vô cùng dài…về sau trở thành “ĐA UẨN” (đa cấu), gia tăng chồng chất tập ấm từ 1 đến 2 – 3 – 4 – 5, gọi chung là NGŨ UẨN (=sắc, thọ, tưởng, hành, thức), để “hình thành” toàn thể chúng sanh “vô tình” (asaññāsatta) lẫn “hữu tình” (saññāsatta) chịu luân hồi sau này.

-Và hai thế lực “THUẬN lẫn NGHỊCH” thoạt đầu chưa có nội dung “ĐỐI KHÁNG” với nhau, xem là “KHỔ”. Chúng vốn đã «ngẫu nhiên», nên cần được tạm gọi là «tính CHỊU ĐỰNG» (=dukkha). Ấy là THÁI CỰC DUY TÁC (Kiriya).

*Lúc nhìn vào chữ «DUKKHA», chúng ta thấy có vần «DU», liên tưởng đến «biến cách» của NGÔN NGỮ HỌC (philologie), chúng ta liền tìm ra “lập nghĩa”…là «hàng hai», «đi đôi», hay «song đối». Rồi “khoa học quan sát”, trở thành “triết lý phát biểu” rằng, «hễ có cái nầy thì có cái kia». -Cuộc sống tương giao trên địa cầu và bầu khí quyển, là một cảnh giới chứa «vạn vật khi đã hiện hữu, thì tự nhiên vận hành từng cặp, song song, đối xứng…thuận và nghịch, hợp và tan xoay vần…». -Tức là “LƯỠNG NGHI” : I biến thành II (I=>II), hay I khác II (I=>II), rồi phân đôi (I=/=II), tạo thành 2 VẾ.

*Vả lại, chúng ta tra cứu âm «DUK» trong tiếng Magadhì (Ma-kiệt-đà) hay Pàlì (ngôn ngữ của kinh đô “Hoa-thị-thành” (Pātalīputta=Pālī) thời đức Phật, thì «DU» cũng có nghĩa là «hai», tương đương với các chữ «dvi», «dvà», «dve». -Và điều «trùng hợp lý thú» hơn nữa, là trong một số ngôn ngữ gốc «La-tinh», như Anh, Pháp, Ý…v…v…các chữ «dualité» và «duality» cũng đều ám chỉ VẬN HÀNH CĂN BẢN từ «từng cặp», còn được diễn dịch là «nhị biên», «song đối» hay «lưỡng diện». TƯƠNG HÀNH.

*Như vậy, chữ «DUKKHA» trong kinh Phật, ngoài cái nghĩa tiêu cực, được tạm dịch xưa nay là «KHỔ», nó còn hàm ý của «SỰ CHỊU ĐỰNG» 2 tình trạng đối nghịch, -chẳng hạng như hài lòng bất mãn, dễ chịu khó chịu, hạnh phúc khổ đau, tối tăm trong sáng, đẹp đẽ xấu xa, nặng nề nhẹ nhàng, thấp bé cao lớn, ngon dở…v…v…(có vô số từ ngữ, không thể nào kể xiết)…

<>Như vậy chữ “DUKKHA” không ám chỉ duy nhất một mặt tiêu cực, là KHỔ !

*Nếu xét lại «tính nghiệm chứng» từ “KHOA HỌC TRUNG ĐẠO”, chúng ta còn nhận thấy rằng, Đức Phật dùng chữ «DUKKHA» trong cái nghĩa «CHỊU ĐỰNG nhị biên», hơn là thu hẹp nội dung vào một mặt MANG LẤY CÁI KHỔ. Vì bất cứ ám chỉ nào thuộc về «biên kiến», cũng luôn luôn chuyên chở một phía, hay «phân nửa», một cách phiến diện, không trọn vẹn.

-Người ta vẫn thường nói, «50% của sự thật không phải là sự thật». Và nhất là cái phân nửa kia của sự thật, dù đã bị bỏ quên (hay che khuất), vẫn là «yếu tố then chốt» của “VẤN ĐỀ”, cần đến “2 chìa khóa” để khai mở, chứng minh một cách đầy đủ. Và theo KHOA HỌC, thì «cái phần thật ẤY vẫn ở đó, chỉ chờ được khám phá, công bố».

<>Mặt khác, phải chăng sự VÔ THƯỜNG (aniccà=impermanence) cũng hằng xác định VẠN VẬT LUÔN LUÔN THAY ĐỔI (!?). Nghĩa là cái «thực tại khổ» kia…sẽ biến đổi, để dẫn đến một «thực tại mới», khác hẳn trước (hay ngượi lại), tạm gọi là «TẬN», (tận khổ = vui). -Rồi sau đó, cái «vui» khi cuối đà, chấm dứt sẽ đưa đến cái «khổ», cứ thế xoay chiều liên tục. Và chính trong sự hoán vị xoay chiều tương đối ấy, một động tử TỰ MÌNH có thể trải nghiệm, khi áp dụng đúng PHÁP (khoa học trung đạo) của Bậc Giác Ngộ, để hóa giải thực tại nhị biêntiến hóa, chứ không nhất thiết chỉ TRÁNH tâm trạng KHỔ hay TÌM tâm trạng VUI…một cách lẩn quẩn. -CỐ CHẤP !

*Và thái độ gọi là «lạc quan» (sabbasubhava) trong nhà Phật, nếu được được biểu lộ…thì đó chính là lúc có SỰ HIỂU BIỂT ĐÚNG ĐẮN (chánh kiến) SỐNG TRẢI NGHIỆM LÀNH MẠNH (trung đạo), chứ không phải “sản phẩm của tưởng tượng” (ảo kiến). Ngoài ra, TÍNH VÔ CHẤP trong nhà Phật  còn cảnh báo rằng, “coi chừng LẠC QUAN MÙ QUÁNG cũng là một tác hại khác của lòng THAM !”.

<>Nghĩa là, không nên mắc dính vàocặp chữ “LẠC QUAN”, kiểu “quá đơn giản”, tránh hẳn 2 thái cực, rồi nghĩ rằng, «phần đầu của bài kinh CHUYỂN PHÁP LUÂN chỉ nhằm mục đích phủ nhận 2 hành động «khổ hạnh» và «lợi dưỡng» (=sống hành xác hay hưởng thụ), để ĐÓNG KHUNG “con đường giữa” một cách cứng ngắc ! Tức là rơi vào thành kiến chật hẹp, KHÔNG THẤY ĐƯỢC hiệu lực thật của TRUNG ĐẠO trong Bản Sắc Khoa Học của nhà Phật. Và đương nhiên không xác nhận được Bản sắc đó CHÍNH LÀ “khả năng” giúp chúng ta hóa giải các bế tắc, nhất là vấn đề «dịch thuật cổ điển» (đến từ Phật giáo phương Bắc, có thể làm cho các đời sau hiểu lầm “đạo Phật chỉ nói về khổ”, khiến cho con người rơi vào «sương mù» của chữ nghĩa, của cảm giác bất lực (=định nghiệp), tiêu cực nhìn đời một cách tuyệt vọng, «thả trôi theo giòng quả báo»…-Từ đó, tính TỰ LỰC NÒNG CỐTtrong mỗi cá nhân sẽ tan rã, làm giảm thiểu duyên lành đối với Phật giáo.

<>Khi đọc Phật ngôn «Dukkha Ariya Sacca», chúng ta nên nhớ rằng, sự thật muôn đời của kiếp người (nói riêng), và của chúng sanh hữu tình (nói chung) là chịu đựng nhị biên đối đãi (?!). -Nghĩa là CHỊU ĐƯNG cả khổ lẫn vui, cả hài lòng lẫn bất mãn, cả hạnh phúc lẫn đau khổ, cả thành công lẫn thất bại…v..v…một cách tương đối, -chứ không phải duy nhất là CHỊU ĐỰNG KHỔ trong mọi trường hợp…một cách phiến diện. (=Tiền đề của sợ sệt).

<>Bỡi THỰC TẠI nào cũng bao gồm cả nghịch lẫn thuận, hài lòng lẫn bất mãn hay khổ lẫn vui…mà mỗi chúng sanh phải trải nghiệm, nên «CHỊU ĐỰNG» mới là từ ngữ tròn đủ nghĩa lý, để chúng ta dùng ám chỉ một cách phương tiện, cho cả hai trạng thái tạo ra luân hồi, hàm chứa trong ĐỆ NHẤT ĐẾ Phật giáo (Buddhasàsanassa Pathama Dukkha Ariya Sacca).

Từ đó, chúng tôi đề nghị gọi ĐỆ NHẤT ĐẾ (Pathama Ariya Sacca) là «CHÂN LÝ CHỊU ĐỰNG nhị biên», thay vì quen gọi một cách «phiến diện», là KHỔ ĐẾ.  

*Và phải chăng vì “quá bị ám ảnh” bỡi cái «KHỔ» (Dukkha), mà người thiếu tự tin «CHẲNG MÀN» đến cái «VUI» (Sukha), nên đa số người đã mất bình tĩnh, quên hẳn rằng “TẤT CẢ đều TƯƠNG ĐỐI”. Rồi tư duy của họ dần dần trở thành sai lệch về ĐỆ NHẤT ĐẾ trong “giáo lý đức Phật”. Trầm trọng hơn nữa là họ vội vã kết luận rằng, «đạo Phật là tôn giáo nguyền rủa niềm vui», ngay cả NIỀM VUI THANH BẠCH ! -Hiện tượng “tiêu cực” vô cùng đáng tiếc !

-Đã từ lâu, chúng tôi vẫn tự hỏi «tại sao một giáo lý tuyệt vời» của Đức Phật, một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác (Sammā Sambuddha) lại… chẳng những đã không soi sáng, khai thông…thức tỉnh cho con người, trong cảnh CHỊU ĐỰNG triền miên THUẬN NGHỊCH (khổ-vui), mà còngây hiểu lầm”, học thuyết tiêu cực, làm cho người đời “chán nãn, buông xuôi(?!). -Hiện tượng nầy, nếu không đến từ “DỊCH THUẬT” và “DIỄN GIẢNG” phiến diện, THIẾU KHOA HỌC…thì không còn lý do nào khác !?  

*Mỗi khi nhớ đến hai chữ TRUNG ĐẠO trong kinh CHUYỂN PHÁP LUÂN, chúng tôi chợt nhận ra rằng, sự diễn giải “đóng khung giáo lý”, chấp cứng vào văn tự dịch thuật, hay vào thành kiến tông phái, “ngu tín” của một số người nhân danh “Phật học”…đã làm cho chúng ta ngày hôm nay, không hiểu đúng Phật ngôn, không làm tròn bổn phận «người theo đạo Phật».Nhất là trong thời đại VĂN MINH LÝ HÓA chi phối tất cả sinh hoạt.

<>Nói tóm lại, Chân Lý Thứ Nhất hay «DUKKHA ARIYA SACCA» ám chỉ sự thật CHỊU ĐỰNG khổ vui trong CẢ HAI trạng thái đối nghịch, bất luận là trạng thái nào xảy ra trước. Và tất cả vận hành (bao gồm khổ vui) đều có điểm bắt đầu và có điểm chấm dứt (tùy độ dày của nghiệp quả, phối hợp với cơ duyên hiện tại (có thể khuyến thiện), chứ không duy nhất phải CHỊU ĐỰNG quả báo định mệnh…một cách bất khả hóa giải, để chỉ gọi tổng quát trên bề mặt, là «KHỔ ĐẾ» (hay khổ là thật muôn đời) ! -Và như thế thì “LUẬT VÔ THƯỜNG không vận hành, không tuần hoàn, không biển đổi hay sao ?”!

<>Vả lại, pháp NHỊ BIÊN SONG ĐỐI (dualité), há đã chẳng cho chúng ta biết rằng, xuyên qua một kiếp sống, có bao nhiêu cái “khổ”, thì cũng có chừng ấy cái “vui” tương đối, xen kẽ. Và KHỔ lẫn VUI của người nào thì «đè nặng» lên THÂN lẫn TÂM chính người ấy, chứ sự CHỊU ĐỰNG KHỔ VUI không chọn lựa riêng rẽ “đối tượng duy nhất” là thân xác hay tinh thần.

Tiền đề trung đạo» của bài kinh CHUYỂN PHÁP LUÂN có thể thức tỉnh chúng ta, tránh được thiên kiến «đánh giá thấp sự hữu dụng của vật chất», và «chỉ đề cao giá trị tinh thần».

-Nhiều đoạn trong kinh…Phật đã khuyên chúng ta rằng, «THÂN TÂM luân hồi nầy tuy là kho chứa của những tật xấu, nhưng nó cũng là PHƯƠNG TIỆN CẤN THIẾT, để tu hành tiến hóa, khởi sinh, nuôi dưỡngtích tụ tánh tốt, đức lành».

*Nếuchúng ta có thể phạm nhiều tội lỗi, với THÂN TÂM nầy, thìchúng ta cũng có thể tạo nhiều phúc đức với NÓ, xuyên qua ý thức hướng thiện TRUNG ĐẠO…không rơi vào BIÊN KIẾN, sống giảm thiểu nghiệp xấu, phát triển nghiệp tốt. Từ đó, chúng ta biến THÂN TÂM nầy thành một kiếp sống, hay “ngũ uẩn” (với 5 tập khí SẮC, THỌ, TƯỞNG, HÀNH, THỨC) tươi tỉnh, quân bình, thanh tịnh vị tha.

<>Sự HIỂU ĐÚNG Chân Lý Thứ Nhất trong chữ “DUKKHA”, sẽ đưa chúng ta ra khỏi THÀNH KIẾN bạc nhược, tối tăm, cuồng tín, bế tắc…không vùi dập kiếp sống trong KHỔ HẠNH, không say sưa đắm chìm trong LỢI DƯỠNG (đầu hàng lòng tham), mà sáng suốt sống hợp lý với an vui lành mạnh của thể xác, và không cực đoan rèn luyện tinh thần một cách đui mù, vì VÔ MINH vi tế…như CÁI GƯƠNG đạo sĩ Tất-đạt-đa đã khổ hạnh cùng cực suốt sáu năm trường, một cách vô ích, trước khi áp dụng TRUNG ĐẠO và thành Phật !

*Hai tình trạng KHỔ (Dukkha) và VUI (Sukha) đều nằm trong mỗi con người phàm tục. Chúng ta KHÔNG NÊN tin rằng «xem đời tuyệt đối là bể khổ, thì có nhiều hy vọng thành Phật», hay «thấy đời có niềm vui thì có ít hy vọng Giác Ngộ, rồi tiếp tục sinh tử, luân hồi». Và đừng quên rằng kinh Phật có bộ JᾹTAKA (“Túc Sinh Truyện” nói về TIỀN THÂN BỒ-TÁT=Bodhisatvā), ghi lại khá nhiều giai thoại, khuyên người đời thường xuyên làm lành, tạo PHƯỚC (kusala kamma, puñña). -Mà «tạo phước là gì, nếu không phải xây dựng niềm vui !?».

<>Nói về «KHỔ ĐẾ», chỉ liên quan đến 50% của SỰ CHỊU ĐỰNG bất mãn (hay KHỔ) -và 50% “hài lòng” (VUI) còn lại không được nêu ra…thì đã có quá nhiều sách vở gọi là «Phật giáo» thường xuyên mô tả rồi. -Đại khái như «sanh-lão-bệnh-tử là khổ», «thương mà phải xa, ghét phải gần là khổ», «muốn mà không được, được mà không muốn là khổ»..v.v..

Nhưng trên thực tế, chúng ta thấy -“THƯƠNG nếu có phước thì cũng được GẦN”, -“GHÉT nếu hữu phước thì cũng được TÁCH XA”, -“MUỐN GÌ lắm khi CÓ PHƯỚC cũng đạt được”, hoặc -“KHÔNG MUỐN thì nhiều lúc vẫn không bao giờ thấy”…v…v…chứ không phải luôn luôn cố định ! -Chưa kể, trước các pháp nhị biên thế gian, như thịnh và suy, khen và chê, giàu và nghèo, đẹp và xấu, mạnh và yếu, hòa bình và chiến tranh, yên ổn và sóng gió, TẤT CẢ ĐỀU CÓ 2 MẶT để cho con người CHỊU ĐỰNG thuận lẫn nghịch một cách xen kẽ, tương đối.

-Nhưng chữ «KHỔ» (=bất mãn) xưa nay vốn được «phóng đại», từ MỘT NỬA tiêu cực của sự CHỊU ĐỰNG thành TOÀN BỘ bất hạnh trong cuộc đời. Còn nửa kia là cái «VUI» (hài lòng), là nhân DUYÊN tích cực, vẫn rất cần thiết cho sự sống…lại bị «dịch thuật» bỏ qua, nếu không muốn nói là «nhân danh Phật giáo ruồng bỏ»…thì thật là đáng tiếc !

*Chưa kể, «LUẬT VÔ THƯỜNG (aniccà niyama) luôn luôn không cho phép bất cứ vật gì giữ nguyên trạng, tuyệt đối không thay đổi». -Và ĐẠO GIÁC NGÔ (Phật áp dụng) chính là giải pháp khoa học nhất, để CÙNG VỚI luật vô thường “khai thông tri kiến”, giúp người hướng thiện có thể tiến hóa, kể từ đơn vị nền tảngcá nhân, trước khi “xây dựng xã hội”. 

-Ví như trong một bức tường, mà từng viên gạch đã tốt, thì toàn thể có thể xem là rắn chắc. Ngược lại, một tấm vách dù bề ngoài trưng ra có vài phần đẹp đẽ, “hợp lý” đến đâu, cũng không thể gọi là bền bĩ, nếu các khuyết điểm bên trong mỗi viên gạch…chưa được kiện toàn !

*Nói tóm lại, ĐỆ NHẤT CHÂN LÝ (Pathama Ariya Sacca), tạm gọi là khổ đế”(DUKKHA)trong nhà Phật,cần phải được phân tích tận cùng, trưng bày hết cái CHIỀU SÂU (fonde, subtilité) của NHỊ BIÊN (dualité), qua ánh sáng của TRUNG ĐẠO, để sự “hiểu biết phiến diện” xưa nay, phải được điêu chỉnh một cách xây dựng (=minh bạch), vì đạo Phật là một “tôn giáo” vốn có “BẢN SẮC KHOA HỌC”.

<>Liên quan đến CHÂN LÝ hay SỰ THẬT THỨ II :

TẬP ĐẾ (Samudaya Ariya Sacca)

-Nói theo chiều sâu, SỰ THẬT (Sacca) gọi là TẬP ĐẾ (Samudaya=nguồn gốc), chính là tình trạng TÍCH TỤ (khandha) hay CHỒNG CHẤT (sañcaya) của năng lượng đen tối (uyyāma kaṇha) do KHỞI HÀNH VÔ MINH (Avijjà paccayà saṅkhārā), được lập lại vô số lần, bỡi những chu kỳ khuynh động (saṃsāra), và do lậu hoặc (āsava) làm cho ô-nhiễm «sức tự chiếu» (CÁI BIẾT)* (viññānaṃ dūseti) của «giòng điện tâm» (citta), cũng như do vận chuyển lý hóa làm cho ô-nhiễm «từ trường» (vāyumaṇḍalaṃ dūseti) của “CẤU KẾT TỨ ĐẠI* (catu mahàdhàtupaccaya = “đất”, “nước”, “lửa”, “khí”), tức là “VẬT CHẤT” (rūpa) xuất hiện do  NGHIỆP (kamma) tạo thành…như sau :

*«CÁI BIẾT» (=sức tự chiếu) ám chỉ toàn bộ «tinh thần», phản ảnh của “giòng điện tâm”.

CẤU KẾT TỨ ĐẠI» ám chỉ «thể xác», không ngừng suy đồi “biến dạng”, vô thường (aniccā).

<>Trong TÂM TÁNH của mỗi con người (hay một chúng sanh hữu tình), thì «TẬP ĐẾ» là «cái kho hiểu biết bị ô nhiễm», Phật học gọi NÓ là CHỒNG CHẤT SI MÊ (moha), chứa quá nhiều «vọng động đui mù» (taṅhà) từ vô số kiếp luân hồi. Và vì SI MÊ TÍCH LŨY nên kho ấy không bao giờ đầy. -Cũng gọi là túi tham vô đáy !

*THAM (lobha) ở đây đồng nghĩa với thu vô, và VỌNG (taṅhā) đồng nghĩa với tìm mãi. Từ đó, tâm tánh con người không bao giờ thõa mãn, luôn luôn khao khát (rāga), làm DUYÊN KHỞI của phản đối (paṭikkosati), của nổi loạn (dubbhati), và sau cùng là của bạo động (atikkamati), dưới nhiều dạng khác nhau, bộc lộ hay nham hiểm (vyāpāda).

*Từ đó LÒNG THAM (lobha) “biến tính” thành tật sân (dosa), hay hờn oán (paṭigha), một nội dung hỗn loạn âm u(ākulatā hetu), khuynh đảo càng lâu càng bồi dưỡng cho SI MÊ (Moha).

*Đa số phàm nhân thường nghĩ rằng, THAM và SÂN là 2 tật xấu khởi thủy khác nhau. Nhưng theo Phật học, thì tham sân vốn đến cùng một gốc (samudaya). Ấy là VÔ MINH (Avijjā), “tiền thân” của SI MÊ (moha). THAM và SÂN ví như hai mặt của một đồng tiền. Khi có MẶT NẦY thì phải có MẶT KIA, hoặc ngược lại.

Ngoại diện» (dassana) của THAM và SÂN hằng biểu lộ rất «phức tạp» (saṅkiṇṇa). -Có khi CHÚNG “đóng kịch”, trình diễn…dù bằng “ánh mắt tha thiết”, hay “cử chỉ ưu ái”, -như “nụ cười dễ dãi”, như “thái độ nhường nhịn”…nhưng gốc vẫn là do động cơ THAM. -Có khi CHÚNG lòi ác tính, biểu lộ bằng sự “hung hăng lẫn bực bôi”, hay “phản ứng khắc nghiệt lẫn khó khăn”, -như phun ra lời lẽ cộc cằn, hành vi tàn nhẫn, nét mặt hung ác, bất bình, bạo động…kể cả CÁI mà người ta gọi là “tính nóng nhưng thẳng thắn”, “thích công bằng chống bất công”..v…v…gốc vẫn thuộc về tật SÂN (dosa). Người “tự tử” cũng do SÂN HẬN cực độđiên loạn…tìm cái chết. Do đó, nếu may mắn được cứu sống, thì họ lại MỪNG (=THAM).

<>Theo kinh Phật, NGUỒN GỐC của chịu đưng NGHỊCH THUẬN,KHỔ VUI (=DUKKHA) là THAM LAM (lobha) hay DỤC VỌNG (taṅhà). Nói cách khác, TẬP ĐẾ (Samudaya Ariya Sacca)NGUYÊN NHÂN của KHỔ ĐẾ (Dukkha Ariya Sacca), hay «chân lý thứ hai nguyên nhâncủa chân lý thứ nhất». Nghĩa là, sở dĩ loài người nói riêng, và chúng sanh hữu tình nói chung, chịu đựng vô số NGHỊCH hay THUẬN, dễ chịu (mānāpa) lẫn khó chịu (amānāpa), chỉ vì sự THAM MUỐN rồi VỌNG ĐỘNG (Lobha, Taṅhā) không ngừng.

*Nếu phát biểu một cách TỈNH THỨC, ĐÓ là tiến trình “nhân DUYÊN quả”,-giống như cái hệ luận «ắt có và đủ» trong toán học vậy. Nhưng nhóm từ «nhân DUYÊN quả» kia, khi không nêu rõ mối tương quan TÂM VẬT (áp dụng qua khoa học trung đạo), thì người ta có thể “phê phán” là NÓ «lủng củng», «không thực tại», và “chẳng cụ thể”, vì không có “qui tắc” ấn định.

*“PHÊ PHÁN” như vậy…bỡi hầu hết ai cũng nghĩ rằng, «THIẾU ham muốn thì một người có thể làm được gì ?!». -Ngay cả để đạt được một mục tiêu tầm thường nhất, người ta cũng phải có động lực ham muốn ! “-Phật giáo chủ trương triệt tiêu lòng tham, mà tiếp tục sinh hoạt bình thường trong cuộc sống, là một điều làm sao không lủng củng ?!”.

<>“BẢN SẮC KHOA HỌC trong Phật giáo” được chúng tôi mạnh dạn nêu ra đây, là để hóa giải «sự lủng củng» ấy. -Đặc biệt la là «củng củng trong ngôn ngữ qui ước», và đồng thời «lủng củng trong quan niệm chế định». -Lủng củng thứ nhất là nếu thiếu khoa học (không hợp lý), thì tư tưởng bị «cầm tù» bỡi chữ nghĩa. -Lủng củng thứ hai là nếu thiếu khoa học (không trung đạo), thì tinh thần bị «cột trói» bỡi quan niệm (=cố chấp).

*Đây chính là lý do sâu sắc, mà trong phần mở đầu của bài pháp thứ nhất (CHUYỂN PHÁP LUÂN=Dhammacakkappavattana sutta) đức Phật đã nêu ra tuyệt pháp TRUNG ĐẠO (Majjhima paṭipadā) rất KHOA HỌC, như một «tiêu chuẩn khai thông», để những ai học Phật với TÂM TƯ CỞI MỞ, có thể tự mình soi sáng, tìm ra khía cạnh khả thi, chính đáng mà đi tới…vượt qua những cái KHUNG của chữ nghĩa, và của QUAN NIỆM cố hữu.

-Phải chăng Bậc Toàn Giác (Sammā Sambuddha) đã biết trước «điều nầy có thể xảy ra trong tương lai, khi sự diễn giảng Phật giáo qua sách vở, và qua ngôn từ, –nếu phản khoa học (vô minh=avijjā)…sẽ có thể làm cho người đời cảm thấy Phật giáo “mâu thuẫn” hay «lủng củng», giảm mất rất nhiều hiệu lực khuyến thiện, độ sinh ?!

<>Câu chuyện một đứa bé thuộc “Gia Đình Phật Tử” hỏi mẹ “Mẹ ơi ham học có phải là tham lam không mẹ ?”. Mẹ nó vội khôn khéo trả lời rằng, “Ham họcviệc tốt, thì không sao, con phải chăm chỉ học hành, càng nhiềucàng giỏi càng tốt !”. Thằng bé tin mẹ, lập tức tự nhủ thầm trong đầu một cách ngây thơ, “lòng tham cũng có phương diện tốt”.

*Theo VI DIỆU PHÁP, thì 3 NHÂN DỮ3 NHÂN LÀNH được trình bày như sau :

1-THAM LAM (lobha) là «động cơ xấu», thiên hẳn về thu vào, nhắm đến tài vật từ các phía.

2-SÂN HẬN (dosa) là «phản ứng xấu», ngã hẳn về nóng giận, chống lại cái gì cản trở.

3-SI MÊ (moha) là «không biết cách», hoang mang, phiêu lưu theo nghiệp, tư ý bất định…

4-VÔ THAM (alobha) là «động cơ tốt», thiên về hy sinh, nhất thời° muốn giúp người khác.

5-VÔ SÂN (adosa) là «không bất mãn», ngã về phía ôn hòa, nhất thời° muốn thân thiện.

6-VÔ SI (Amoha) là «tĩnh biết», sáng suốt trước thực tại, nhất thời° hóa giải thuận hay nghịch.

Lưu ý :

<>Ba «cặp chữ» nhất thời° có khoen ghi trên (trong các câu số 4, số 5 và số 6), ám chỉ rằng, “khi nó phát sinh trong tâm, thì lúc ấy (hay nhất thời) có ảnh hưởng mạnh” của THIỆN PHÁP. -Vô tham (4), vô sân (5),vô si (6) nói ở đây, vốn không có mặt thường xuyên trong tâm một người phàm khi chưa có quyết định lành mạnh (=HƯỚNG THIỆN).

-Và theo VI DIỆU PHÁP (Abhidhamma), thì 3 từ ngữ “VÔ THAM”, “VÔ SÂN”, và “VÔ SI” tạm dùng, vốn để qui cho “nội dung” một số hành động cứu giúp kẻ khác của người phàm hướng thiện. Chúng không ám chỉ sự hoàn toàn hết tham, hết sân, hết si, như 3 đức tánh tinh khiết tự nhiên trong một Thánh nhân đã giải thoát, hay trong Phật.

-Nói cách khác, một hành động được gọi là vô tham, vô sân, hay vô si, chỉ là một hành động của người phàm lúc ĐANG hướng thiện. -Nhờ «động cơ» của «3 nhân lành» ấy nhất thời một «phàm nhân» mới ra tay giúp người (tạo thiện nghiệp=kusala kamma). Nghĩa là, 3 từ ngữ vô tham, vô sân, vô si trong Phật học A-tỳ-dạt-ma (Abhidhamma), KHÔNG ám chỉ “dù đang hành động tốt, một mạnh thường quân trong khi làm điều lành ấy, đã hoàn toàn hết tham, hết sân, và hết si, như Đức Phật». -Kính mong được minh bạch ở điểm nầy !

*Vả lại, người noi gương Phật, quyết tâm sống chánh mạng (một phẩm cách đạo đức trong Bát Chánh Đạo), nếu là cư sĩ, thì khi ấy họ vẫn duy trì sinh kế hợp pháp (tiếp tục nghề nghiệp bình thường), thu nhập đúng lẽ đạo cho cá nhân mình (nuôi thân vô hại). Nhưng vì hướng thiện, nên họ vẫn thỉnh thoảng (hoặc thường xuyên) -“chia xẻ một phần tài vật đến kẻ thiếu thốn (=vô tham)”, -“đối xử ôn hòa với xung quanh (=vô sân)”, hay -“tỏ ra sáng suốt trước mộ số hiện tượng hấp dẫn từ cuộc đời (=vô si)”. Và trong khi phát ra hành động thiện ấy, tâm họ nhất thời có thể ở trong trạng thái “vô tham”, “vô sân”, hay “vô si” vậy.

-Khi hiến tặng vật gì cho ai, mà tâm còn tham vật ấy, người ta không thể làm được.

Thử cân nhắc “6 NHÂN” đưa đến hành động nêu trên…để thấy :

<>THAMVÔ THAM đều là «động cơ» của người tạo nghiệp, nhưng có 2 cách :

-Khi tham thì phát ra hành động ích kỷ, bất thiện (akusala kamma), độc ác, có hại đến kẻ khác. Khi Vô tham thì phát ra hành động vị tha, thiện (kusala kamma), vô hại, hữu ích cho kẻ khác.  

*Đối với một người phàm, chưa có bạn lành, không hướng thiện…thì NỘI DUNG của nhân «tham» tất nhiên là XẤU, như đã được trình bày trên đây.

*Nhưng đối với người tuy còn phàm mà có bạn lành, đang hướng thiện…thì NỘI DUNG của nhân «vô tham» tất nhiên là TỐT, và được hiểu ngược lại với tham.

<>Kế đến là SÂNVÔ SÂN. Cả 2 đều là «phản ứng» của NGÃ MẠN, hay biểu lộ mặt trái của THAMVÔ THAM lúc tạo nghiệp, cũng có 2 cách :

-Khi SÂN thì chịu nghịch cảm (akusala vedanā), bất thiện (KHỔ), có thể gây ra nhiều tội lỗi.  -Khi VÔ SÂN thì thuận cảm (kusala vedanā) thiện (VUI),thân tâm hòa bình xung quanh.

*Đối với một người phàm chưa có bạn lành, không hướng thiện…thì NỘI DUNG của nhân «sân» tất nhiên là XẤU, như đã được trình bày.

*Nhưng đối với người còn phàm mà có bạn lành, đang hướng thiện…thì NỘI DUNG của nhân «vô sân», đương nhiên là TỐT, cũng được hiểu như trên.  

<>Sau cùng, SIVÔ SI là 2 tình trạng TỐI SÁNG của TÂM THỨC trong hành động          lúc tạo nghiệp cũng có 2 cách :

-Khi SI thì làm sai, hướng vềTỐI. Thực tại suy đọa, VÔ MINH gia tăng, xa dần sự giác ngộ.   -Khi VÔ SI thì làm đúng, hướng về SÁNG. Thực tại tiến hóa. VÔ MINH giảm, gần cứu cánh.

*Đối với một người phàm chưa có bạn lành, không hướng thiện…thì NỘI DUNG của nhân «si» là XẤU, được trình bày như trước.

*Nhưng đối với người phàm mà có bạn lành, đang hướng thiện…thì NỘI DUNG của nhân «vô si» là TỐT, được hiểu như VÔ THAM, hay như VÔ SÂN vậy. 

<>Chưa kể SI (Moha) là GỐC XẤU của 3 NHÂN ÁC (Akusala hetu). Nếu phá được SI là “hóa giải được cả THAM lẫn SÂN. –Phương pháp hữu hiệu nhất để triệt tiêu ĐỘC SI là, “trung đạo trong giới”, “trung đạo trong định” và “trung đạo trong tuệ”, có nói trong bài trước.

*Đây chính là lý do khi nhớ đến TRUNG ĐẠO, thì người học Phật phải đặt ƯU TIÊN hàng đầu, là TU TẬP để giảm thiểu một cách khoa học cái SI (căn gốc cố hữu của tử sinh luân hồi), từ đó sống tỉnh thức hằng ngày, với «càng nhiều hành động vô si càng tốt» (amoha kamma).

<>Theo VI DIỆU PHÁP (Abhidhamma) trong nhà Phật, thì một «hành động VÔ SI» ám chỉ loại ứng xử có ĐỊNH TÂM soi sáng, như bình tĩnh trước mọi xung đột, có tinh thần độc lập, không bị ảnh hưởng bỡi tranh chấp thị phi, hay biết đối đãi bình đẳng với xung quanh.

Sự tu tập hạnh thanh tịnh nầy, một phàm nhân đang hướng thiện có thể khả dĩ làm được. Do đó, một người có «hành động vô si» không nhất thiết phải là bậc tâm thức đã hết si mê (như Thánh nhân hay Phật), mà chỉ là một người chăm lo GIỮ GIỚI (=lành cho thân), và HÀNH THIỀN (=lành cho tâm).

*Mặt khác, “Bản Sắc Khoa Học trong nhà Phật” cũng giúp cho người đang tu tập, trở thành SÁNG SUỐT một cách TRUNG ĐẠO, xuyên qua cách đối xử hằng ngày, dập tắt được «sự nung nấu» của lòng THAM (=ngã mạn), giảm thiểu được «tật bạo động, đốt cháy» của SÂN HẬN, và duy trì được sự tỉnh táo trước các đối tượng làm cho SI MÊ, nhiều khi rất vi tế !

QUI NẠP :

-Một người có hành vi vô tham (alobha kamma), không nhất thiết phải là người đã chấm dứt toàn bộ lòng tham, nhất là họ còn tham trong danh nghĩa, rằng «mình là kẻ phải sống đạo đức», và ý thức rằng, «hành động tu thân» ấy vốn là để thuần hóa tật THAM.

-Một người có hành vi vô sân (adosa kamma) cũng vậy, họ không nhất thiết phải là người đã chấm dứt toàn bộ sân hận, nhất là bề ngoài họ tỏ ra «biết chế ngự sự nóng giận», và tin rằng, «hành động tu thân» ấy vốn cũng là để giảm thiểu tật xấu, tự mình ĐỐT CHÁY tâm cơ. 

-Một người có hành vi vô si (amoha kamma), cũng không nhất thiết là người đã hoàn toàn hết si mê, rồi «hành động tu thân» ấy, trong chiều sâu, chính là để “giũa mòn”, hay làm mỏng dần dần hậu quả chồng chất của màng vô minh, U-TỐI.

*Mục đích chung của cả ba loại hành động tu thân kể trên, là không trử dưỡng cácÁC TÍNH hay giảm thiểu nghiệp bất thiện, đồng thời làm phát sinh TÁNH HIỀN, và phát triển nghiệp lành trong đời sống hằng ngày, -với nguyện lực của một người MUỐN CÓ nhiều phúc đức (=tham phước). -Nghĩa là, KHOA HỌC TRUNG ĐẠO khuyên chúng ta, trước tiên nên «định hướng lòng tham vào nẻo thiện, đồng thời đưa bản ngã vào ý thức trách nhiệm», luôn luôn nhớ đến 3 pháp NHÂN DUYÊN QUẢ. -Vì sao ?!

<> Vì đối phó với THAM SÂN SI mà không nhờ KHOA HỌC TRUNG ĐẠO, ví chẳng khác nào «một người muốn san bằng một ngọn núi, mà không tùy khả năng, để từ từ mang đất đi nơi khác. Trái lại, người ấy chỉ tìm cách làm cho nó biến mất, trong một thời gian ngắn». -Việc ấy hoàn toàn là tưởng tượng, không thực tế !

-Lời dạy của đức Phật về TRUNG ĐẠO phải được xem như «giáo lý khoa học», bỡi vì nó hữu hiệu trong mỗi trường hợp (dù cho căn cơ bất đồng) để đạt mục đích, chứ không phải là một «phương pháp quảng cáo trước nhiều người». Chúng ta đừng quên rằng “áp dụng chung cho số đông là kỷ luật”, mà «kỷ luật thì bao giờ cũng nghiêm khắc, tương đương với cứng ngắc» !

<>Nhưng Phật giáo nêu “Bản Sắc Khoa Học” để giúp cho từng người nói riêng, hay cho từng chúng sanh nói chung, tuy bất đồng căn cơ, vẫn có thể tạo duyên lành, tu thân tiến hóa…tuần tự giải thoát, biệt nghiệp trong cộng nghiệp…chứ Phật giáo không phải là «kỹ thuật đào tạo hàng loạt thánh nhân theo khuôn mẫu», như các thế lực tà kiến trên thế gian, chuyên lập “cơ xưởng trồng người”, nhồi sọ nhân sinh !

<>Hiền nhân nào thực hành Phật đạo CÓ KẾT QUẢ thì vị ấy biết. Và đã có nhiều bậc phạm hạnh, hằng ngày tu trì bề ngoài rất khắc khổ, nhưng họ vẫn sống an lạc bên trong, 1 cách nghiệm túc và TRUNG ĐẠO. -Người chủ quan nhìn vào bậc PHẠM HẠNH, có khi không nhận ra CHIỀU SÂU, và dễ phê phán lầm. -Xem ra TẬP ĐẾ được khoa học trung đạo trình bày, có vẻ dễ hiểu trên lý thuyết, nhưng dùng NÓ để HÓA GIẢI được TẬP ĐẾ (nhân luân hồi) thì rất khó trong thực hành !

*Hơn nữa, THAM SÂN SI chính là «3 động cơ HIỆN HỮU của con người», gọi chung là «tiềm lực của KIẾP SỐNG phàm tục». TIỀM LỰC đó cần phải được «CHUYỂN HÓA», để «BIẾN NÓ» trở thành «khả năng» tuyệt vời, hướng tới bờ giác ngộ. KIẾP SỐNG ấy một khi đã được chuyển hóa, ví như “chiếc bè hữu hiệu” (ám chỉ THÂN TÂM chứa lòng tham hướng thiện) được gắn liền với cánh bườm Phật giáola-bàn trung đạo, có thể vừa phát quang (đốt đèn “bác-nhã”), vừa vượt khỏi sóng lớn, đem tâm thức vào bờ. -Ai không đủ PHẠM HẠNH mà bồng bộtdẹp bỏ lòng tham và bản ngã” một cách “lý tưởng”, thì sẽ bế tắc !

*Nói tóm lại, một hành giả chưa đủ công phu ba-la-mật, KHÔNG THỂ dùng «phép lạ» tiêu diệt tham sân si ngã-mạn trong thời gian ngắn nhất để thành «Phật», vì «CỰC ĐOAN» ấy trong thực tại chỉ là «chối bỏ dụng cụ hữu hiệu», hay ví như «tự đóng kín con đường thoát hiểm». Và kiếp người thực ra rất ngắn, không «phép lạ» nào…có thể «biến thân tâm nầy», trở thành một đời sống chứa đầy THÁNH THIỆN (vô tham, vô sân, và )một cáchvô hành hữu đạt, để khi chết tâm linh không vướng mắc, hòng TÁI SINH an vui hơn trước !  

<>Liên quan đến CHÂN LÝ hay SỰ THẬT THỨ III :

DIỆT ĐẾ (Nirodha Samudaya Ariya Sacca).

*Theo “A-tỳ-đạt-ma”=VI DIỆU PHÁP (Abhidhamma), thì DIỆT ĐẾ (Nirodha Samudaya Ariya Sacca) dường như là “sự thật tối thượng” (Ariya Sacca), chỉ có trong Thánh nhân nào, đã đạt đến GIẢI THOÁT TAM GIỚI (“A-La-Hán Quả” (Arahattaphala) hay Phật Quả) .-Lúc ấy, sự VÔ MINH (Avijjā) nơi “tâm thức” của các Ngài, đã không còn nữa, hoàn toàn triệt tiêu, tức là THỰC TẠI của THÁNH và PHẬT là “ANH MINH” (Vijjā). Và đối với các Ngài, CÁI gọi là CHU KỲ SINH TỬ LUÂN HỒI (Samsāra) chắc chắn không lập lại.

<>Xin chép lại đoạn Kinh DIỆT ĐẾ (DỨT SINH TỬTHẬT), bằng chữ Pālī như sau :

“Avijjā tveva asesa virāgā nirodhā saṅkhāranirodho. Viññāna nirodhā nāmarūpanirodho. Nāmarūpanirodhā salāyatananirodho. Salāyatananirodhā phassanirodho. Phassanirodhā vedanānirodho. Vedanānirodhā taṇhānirodho. Taṇhānirodhā upādānanirodho. Upādānanirodhā bhavanirodho. Bhavanirodhā jātinirodho. Jātinirodhā jarāmaranaṃ. Sokaparidevadukkha domanassupāyāsā nirujjhanti.”

Bảng thoát dịch Việt ngữ :

“1/VÔ MINH diệt thì HÀNH diệt. 2/Hành diệt thì THỨC diệt. 3/Thức diệt thì DANH SẮC diệt. 4/Danh sắc diệt thì LỤC NHẬP diệt. 5/Lục nhập diệt thì XÚC diệt. 6/Xúc diệt thì THỌ diệt. 7/Thọ diệt thì ÁI diệt. 8/Ái diệt thì THỦ diệt. 9/Thủ diệt thì HỮU diệt. 10/Hữu diệt thì TÁI SINH diệt. 11/Tái sinh diệt thì LÃO BỆNH diệt. 12/Lão bệnh diệt thì TỬ diệt. -Tính cách diệt những thống khổ ấy, lý do là như thế”.

-Nhà Phật gọi phẩm cách DIỆT (Nirodha) nầy là Niết-bàn” (Nibbāna=Nirvāna), viên dung tối thượng, KHÔNG CÓ bất cứ “chứng đắc” nào trong ba cõi luân hồi…có thể so sánh.

Tuy nhiên :

*“DIỆT ĐẾ” là một “danh từ hán-việt” RẤT KHÓ “thông đạt”, -ngay cả với “trình độ Phật học uyên thâm”, -khoan nói đến “hiểu NIẾT-BÀN” chỉ xuyên qua “cách phát biểu nhị biên đối đãi” của ngôn ngữ phàm tình. Và để “ám chỉ” những gì thuộc về “DIỆT ĐẾ” (Nirodha Sacca) hay “NIẾT-BÀN” (Nibbāna), các nhà nghiên cứu đạo Phật xưa nay, trong khi diễn tả…chẳng những đã không dùng xác định, mà còn chẳng ngần ngại “dùng phủ định”, để “nhấn mạnh” rằng “NIẾT-BÀN” hay “DIỆT ĐẾ” không có “tính cách tương đương” với những gì con người tục lụy có thể suy tư, “nghĩ thấu”.

-Những dạng PHỦ ĐỊNH đó là “không tham, không sân, không si, không sanh, không diệt, không tăng, không giảm, không cao, không thấp, không tốt, không xấu, không đến, không đi, không hạnh phúc, không đau khổ…v…v…” -Thậm chí “PHỦ ĐỊNH” vượt qua cả cái khung “chân thiện mỹ” của thế gian, như….KHÔNG TỘI, KHÔNG PHƯỚC, KHÔNG THIỆN, KHÔNG ÁC, KHÔNG CAO, KHÔNG THẤP…-Làm sao kể hết được những “KHÔNG”, “KHÔNG”, và “KHÔNG” “KHÔNG” ấy ?!  

*Sách Phật qui nạp “DIỆT ĐẾ” (Nirodha Sacca)là “NIẾT-BÀN” (Nibbāna=Nirvāna), -nhưng mô tả niết-bàn thì toàn là những nhóm từ đối nghĩa với thực tại thế gian và “siêu hình” (=tưởng tượng hạnh phúc) trên THIÊN GIỚI. Nghĩa là, “khái niệm” về DIỆT ĐẾ trong phàm nhân chúng ta, vốn “không chính xác”. -Mà đã KHÔNG CHÍNH XÁC thì chắc chắn là “KHÔNG THẬT”, dù ĐÓ chỉ là “KHÔNG THẬT” một cách qui ước ! -Thành thử 2 chữ “DIỆT ĐẾ” đối với thực tại một phàm nhân, chỉ là cái CHÂN LÝ triết học (Tattañāna Sacca), chẳng bao giờ “nắm bắt cụ thể” được !

-Như vậy đức Phật nói “DIỆT ĐẾ” đến loài người làm chi ? Chẳng lẽ Ngài nêu ra DIỆT ĐẾ, chỉ để cho chính Ngài hoặc chư Thánh đã giải thoát nghe sao ?! Vả lại, Phật và chư Thánh A-la-hán đã hoàn toàn hết phiền não, thì biết DIỆT ĐẾ không cần thiết !  

-Thật là một tình trạng bế tắc tri kiến !

<>Đây chính là lý do chúng tôi nêu raBản Sắc Khoa Học (Vijjā ) trong đạo Phật”. Vì trước khi bắt đầu thuyết giảng “GIÁO PHÁP THẬM THÂM VI DIỆU” (gambhīra Buddhasāsanā), đưa đến “hiểu biết sự thật” cho con người, bằng bài kinh “CHUYỂN PHÁP LUÂN”, đức Phật đã “long trọng giới thiệu” TRUNG ĐẠO, như một châm ngôn khoa học, kiểu “cách vật, trí tri, thành ý, chánh tâm” trong MINH TRIẾT Phương Đông.

*“CÁCH VẬT” có nghĩa là “hội đủ chi tiết”. “TRÍ TRI” có nghĩa là «nhận thức soi sáng». “THÀNH Ý” có nghĩa là “tư tưởng viên dung”. “CHÁNH TÂM” có nghĩa là “qui nạp sự thật”. Hội đủ 4 yếu tố nầy, là có 4 phương diện “khả dĩ” để «khám phá chính xác vấn đề».

Chúng tôi nhắc lại «MINH TRIẾT Phương Đông» để cung cấp cho người nghiên cứu một số tư tưởng «tương đồng» với đạo Phật, và dựa trên kinh “CHUYỂN PHÁP LUÂN”, như một nguồn THƯ TỊCH đáng tin cậy nhất, để nêu ra “Bản Chất Khoa Học trong nhà Phật”, chứ không dám «cường điệu, chủ quan» ! -Tức là chúng tôi muốn thưa rằng “TRUNG ĐẠO” (Majhima paṭipadā) là “phương pháp” (=khoa học), mà đức Phật đã «thấy trước» và thuyết để lại cho chúng ta…. «ăn khớp» với  MINH TRIẾT Phương Đông.

-Rằng một khi đã sinh làm người phàm, tuy “thân tâm còn mang nặng tham sân si”, nhưng song song với NHU CẦU tiến hóa của nhân loại, con người đã có sẵn “mầm giác ngộ” và “tìềm năng khoa học”. Rồi trước những gì cao thâm, thuộc về siêu hình, hay Phật tính…nếu chúng ta không hiểu thấu, mà biết «khơi dậy» TRUNG ĐẠO rồi phát triển, nương vào Bản Sắc Khoa Học (Vijjā) trong nhà Phật để «nắm bắt»….thì chúng ta vẫn có thể “khai thông được các bế tác” một cách tương đối, tạo duyên “soi sáng” cho trí óc phàm phu.

*Hơn nữa, mặc dù «NIẾT-BÀN» là từ ngữ «thích hợp nhất» để tượng trưng cho CHÂN LÝ hay SỰ THẬT THỨ BA (diệt đế) trong Phật giáo. Nhưng kinh Phật lại nói rõ, «NIẾT-BÀN» không phải là một «CÕI HƯỞNG THỤ» để phàm nhân hướng đến, mong đợi…nên các nhóm từ “phủ định”, dùng diễn tả “niết-bàn” chẳng những đã không “QUI NẠP”, mà còn “PHÂN KỲ” trong khái niệm con người, gián tiếp nói lên tình trạng “vô chuẩn”, bất định… -Rồi để «thích ứng» với tầm hiểu biết phàm phu, người ta chỉ có thể “nhân cách hóa”, hay “cụ thể hóa” NIẾT BÀN, thành một thứ «hạnh phúc nghĩ ra được» (TƯƠNG ĐỐI, NGỤ NGÔN).

-Chẳng hạng như “niết-bàn ví như giờ phút mãn tù của một đại tội phạm, đã khủng bố, giết người”, được cởi hết xiềng xích, trả tự do. Hoặc “niết-bàn ví như giây phút thân thể của một bệnh nhân hết đau đớn, nhờ uống hay đúng cách”. Hay “niết-bàn ví như giờ phút có cứu tinh xuất hiện, chấm dứt sự lo sợ trước các nghịch cảnh mất mạng, đang đe dọa một đám nạn nhân hoàn toàn thất thế, bất lực…v…v…”(?).

Vì sao vẫn là TƯƠNG ĐỐI ?

-Vì “cựu đại tội phạm” kia hết KHỔ trong tù, thì sẽ gặp KHỔ khác sau khi NGOÀI TÙ. -Vì người khỏi BỆNH nầy thì sẽ bị nhiễm bệnh khác…KHI CÒN SỐNG. -Vì các “nạn nhân cộng nghiệp” hết bị ĐE DỌA bỡi nghịch cảnh nầy, thì sẽ đối diện với nghịch cảnh khác…TRONG CÕI CỘNG NGHIỆP đầy tham sân si.

-Nhưng NIẾT-BÀN giải thoát THAM SÂN SI nơi THÂN TÂM Phật thì TOÀN XẢ, không còn bất cứ lậu hoặc nào nữa, không còn bị hạn chế TRONG hay NGOÀI cái khung TÁI KHỔ.

<>Nếu phân tích “nguyên nghĩa” của chữ gốc NIBBᾹNA (=NIRVᾹNA), mà «ký âm» của NÓ, được viết ra «hán việt» là “Niết-Bàn”, thì chúng ta có “NIBBᾹNA” (Pāḷī) hay “NIRVᾹNA” (Saṅskrit), vốn đến từ 2 phần ráp lại, là “NI” và “VNA”. -«NI» có nghĩa là «KHÔNG» (=phủ định). -Còn «VᾹNA» có nghĩa là xiềng xích, gông cùm, gánh nặng (cũng ám chỉ tham, sân, si, thủ chấp, vướng mắc danh sắc).

*Như vậy, theo «nghĩa đen» lẫn «nghĩa bóng» trong tự điển, «NIẾT-BÀN» là trạng thái TỰ DO TUYỆT ĐỐI, bình an toàn xả…tâm không bị ràng buộc bỡi bất cứ cái gì hết. Đó là một THỰC TẠI thuộc về «cảm giác thăng hoa» của tri thức THANH TỊNH và TINH KHIẾT, chứ không phải là một «cảnh giới danh sắc cao sang» để hưởng thụ. -Chúng tôi càng chẳng hiểu tại sao có một số «thiền sư» bảo rằng «Thánh nhân lấy Niết-bàn làm mục tiêu để HƯỚNG ĐẾN». -Còn một số «tu sĩ Phật giáo» khác, thì lại bảo…«Niết-bàn là cảnh cực lạc» ?!

*Chưa kể Phật học cũng nói rõ, có 2 trạng thái TỰ DO (Udīreta), hữu hạn vô hạn. TỰ DO trong tam giới (luân hồi) thì hữu hạn (tương đối, không thể xem «tương đương» với «niết-bàn»). Và “TỰ DO” ngoài tam giới (dứt sinh tử) thì VÔ HẠN (vĩnh viễn, tương đương với PHẬT TÁNH). Đây mới thực sự là TỰ DO VÔ HẠN hay GIẢI THOÁT NIẾT-BÀN.

-Mặt khác, VI DIỆU PHÁP (Abhidhamma) còn «tiết lộ», rằng «Phật có 2 pháp niết bàn, HỮU DƯ niết-bàn, và VÔ DƯ niết-bàn. HỮU DƯ niết-bàn là khi Ngài chưa hết tuổi thọ, sống trong tự tại VÔ THAM, VÔ SÂN, VÔ SI, và TOÀN XẢ với những gì xung quanh, THANH TỊNH giữa thế tục đầy tham sân si, cố chấp. -VÔ DƯ niết-bàn là khi Ngài XẢ «báo thân cuối cùng», lìa trần…chấm dứt hoàn toàn sự luân hồi.

Nghĩa là CHÂN LÝ DIỆT trong TỨ DIỆU ĐẾ ám chỉ cả 2 như sau :

*HỮU DƯ niết-bàn (Supādisesa nibbāna), thì DIỆT ĐẾ tương đương với PHIỀN NÃO TẬN (Ᾱsavakkhaya). Nhưng Phật còn sống, nên Ngài vẫn phải nằm trong cái khung TRUNG ĐẠO, có công phu Ba-la-mật «tiết chế» THÂN TỨ ĐẠI.

*VÔ DƯ NIẾT-BÀN (Anupādisesa nibbāna), thì DIỆT ĐẾ tương đương với  NGŨ UẨN TẬN hay DANH SẮC TẬN (Khandhakkhaya, Rūpamakkhaya), -tức là CỨU CÁNH TUYỆT ĐỐI (vô sinh tử), bất khả thuyết, bất khả tư nghì !  

-Ngoài ra, có một loại Niết-bàn thứ ba, mà rất ít sách Phật giáo nói đến, là «XÁ LỢI NIẾT-BÀN» (Sāri nibbāna). Đó là khi trên mặt đất không còn một ai tin tưởng vào giáo lý khuyến thiện của Phật, thì lúc ấy tất cả «Xá-lợi» của Ngài sẽ tự nhiên biến mất (=NIẾT-BÀN).

Nói tóm lại :

<> Để thuyết minh DIỆT ĐẾ, Bản Sắc Khoa Học trong đạo Phật lại còn “cần thiết” hơn nữa. Vì với «bản sắc» nầy, ĐẠO PHẬT mới hoàn toàn thích hợp, nêu ra «TUYỆT PHÁP» của TRÍ TUỆ, là BÁT-NHÃ (Prajña). Chính BÁT-NHÃ hay “Bản Sắc Khoa Học trong đạo Giác Ngộ” đã giúp cho người học Phật (Ariya puggala) và Bồ-Tát (Bodhisatva) đạt tới giải thoát Niết-bàn, mà không rơi vào CỰC ĐOAN, hướng đến DUY TÂM hay DUY VẬT.

-Ngoài ra, DUY VẬT CỰC ĐOAN còn có cái tên khác là ĐOẠN KIẾN (Uccheda diṭṭhi), -một trong 2 khuynh hướng PHẢN ĐAO ĐỨC, vô cùng nguy hiểm cho sự bình an của nhân loại nói riêng, và của chúng sanh nói chung. -Vì sao ?! -Vì «kẻ đọan kiến» chỉ tin vào SỨC MẠNH VẬT CHẤT và «MÁNH KHÓE TINH THẦN» do lòng THAM biến thành «ÓC THÔNG MINH» để hành động. Họ không tin có luân hồi, không quan tâm đến tội phước, không e-ngại nhân quả báo ứng kiếp nầy (hay kiếp sau).

Họ nghĩ rằng, CHẾT là HẾT, -«tử giả biệt luận» !

-Đối với kẻ đọan kiến, «đạo đức» vốn chỉ là «sách lược» của một số bộ óc «khôn ngoan», dùng mê hoặc đa số thực thà, để khi bị xúc phạm thì nạn nhân (quần chúng) không thẳng tay tiêu diệt đối thủ. Từ đó…người ĐOẠN KIẾN được «yên ổn», tìm cách san bằng chướng ngại.

*Khi quan sát 2 loại TÀ KIẾN (micchā diṭṭhi), là THƯỜNG KIẾN và ĐOẠN KIẾN, chúng ta thấy, –thường kiến thì tin tưởng vào «thần linh bất diệt, đa năng», một cách mù quáng, trở nên SI MÊ, DỊ ĐOAN, CUỒNG TÍN, -đoạn kiến thì không tin vào bất cứ «thần thánh thiêng liêng» nào cả, chỉ ỷ vào vào sức mạnh vật chất, và vào HIỆU LỰC của MÁNH KHÓE, dựa trên TÍNH GIAN XẢO, lừa gạt tối đa…rồi lôi kéo, tổ chức được quần chúng.

-Tuy cả 2 loại tà kiến đều có HẠI cho xã hội. Nhưng nếu so sánh thì «thường kiến» xem ra ít nguy hiểm hơnđoạn kiến.

Vì “người thường kiến” còn biết sợ «thần linh trừng phạt», nên có một số «ĐIỀU XẤU» (gọi là «cấm kỵ»), họ không dám làm. Và trong một chừng mực nào đó, những kẻ «điều khiển quần chúng», có thể dùng lý do «tránh chọc giận thần linh», để «quản lý» họ và bắt buộc họ phải phuc tùng, sống chung với xung quanh.

Trái lại, kẻ đoạn kiến thì tuyệt đối nguy hiểm, vì họ chẳng kiêng kỵ ai cả. Đối với họ, quyền lợi vật chấttrên hết, và “cách đối xử” của họ, bên ngoài dù có ngụy trang đi nữa, nhưng bên trong vẫn chẳng khác nào dã thú. -Người ta còn gọi ĐOẠN KIẾN là VÔ THẦN !

<>Liên quan đến CHÂN LÝ hay SỰ THẬT THỨ IV :

ĐẠO ĐẾ (Dukkha Nirodhagāminī Ariya Sacca)

Nhìn theo góc cạnh tri thức, chúng ta thấy…ĐẠO ĐẾ hay Bát Chánh Đạo (Atthaṅgika magga) vừa là một «lý thuyết phạm hạnh», vừa là một «khoa học giáo dục», có nội dung rất xây dựng trong «văn minh nhân loại», để «quản lý» xã hội vật chất một cách tiến bộ, và «quân bình» vận hành tinh thần một cách sáng suốt…nhằm nâng cao tư cách con người, để thăng hoa mỗi bản thân, đồng thời phục vụ cộng đồng nói riêng, và nhân loại nói chung.

*Phẩm cách đầu tiên của ĐẠO ĐẾ là CHÁNH KIẾN (sammā diṭṭhi). NÓ là ÁNH SÁNG của sự sống, hay NGUỒN GỐC của xây dựng xã hội nhân văn. Đức Phật đã nhấn mạnh nhiều lần rằng, tuy CHÁNH KIẾN chỉ có MỘT, nhưng TÀ KIẾN (micchā diṭṭhi) thì có khá NHIỀU». Các «tôn giáo cuồng tín» hay «chủ nghĩa cực đoan» là những DẠNG si mê khác nhau của TÀ KIẾN. Họhằng xửdụng đường lối ĐỘC ĐOÁN để tồn tại, và xung đột lẫn nhau để trục lợi. Tất cả các DẠNG ấy hợp lại, tạo ra tình trạng xấu, là TÀ KIẾN (micchā diṭṭhi).

*Nếu HOA TRÁI trổ ra từ CHÁNH KIẾN là sự AN LẠC, thì HẬU QUẢ của TÀ KIẾN là chịu đựng KHỔ ĐAU, để cho kiếp sống vận hành trong tối tăm, nghiền nát bình an xã hội, dưới dạng những chiến tranh hay tai họa, do chính con người tà kiến gây ra. –Rồi khi đối diện với tình trạng bế tắc, môt đàng thì vì si mê mà qui cho «THẦN LINH TRỪNG PHẠT», và đàng kia cũng vì si mê mà cho rằng, ấy là«VẬN HÀNH TỰ NHIÊN»…để cả 2 «củng cố» một «thực tại như nhau» vừa TÀ KIẾN, vừa NGU DÂN.

*Đức Phật ra đời ở Ấn-độ cách nay hơn 26 thế kỷ, giữa lúc đất nước nầy đang bị nhận chìm trong «đa thần giáo» (Bà-la-môn), và phân biệt giai cấp trầm trọng. CHÁNH KIẾN đã được Đức Phật NÊU CAO như một ngọn đuốc giữa đêm đen. Ngài đã dùng NÓ để soi sáng trong các ngõ ngách tinh thần, để chỉ rõ cái nhân xấu rất VÔ MINH của TÀ KIẾN.

<>Như trên đã nói, NHÂN XẤU nầy hằng làm cho TÀ KIẾN có 2 loại là thường kiến (sassatadiṭṭhi)và đoạn kiến» (micchedadiṭṭhi). THƯỜNG KIẾN thì nằm trong tôn giáo cuồng tín. CònĐOẠN KIẾNthì nằm trong chủ nghĩa cực đoan, giáo điều bưng bít. Cả hai đã trở thành dụng cụ nhồi sọ, ngu dân mạnh nhất,để một thiểu số cai trị vàkhai thác con người.

*Khi những kẻ cầm quyền trong một nước CHÁNH KIẾN, thì «thể chế» của họ sẽ đem lại đồng thuận, bình an và thịnh vượng cho người dân, tức là CHÍNH TRỊ (Kusala pālanā), hay QUẢN TRỊ nhà nước một cách CHÂN CHÍNH. Nhưng khi những kẻ cầm quyền trong một nướckhông có chánh kiến, hay TÀ KIẾN, thì «thể chế» của họ sẽ vô cùng độc tài, bóc lột người dân không nương tay, BẤT CÔNG xảy ra hằng ngày…gọi là TÀ TRỊ (Akusala pālanā).

*Và sau khi Bậc Toàn Giác (Sammā Sambuddha) nhắm mắt, nhất là trong giai đoạn ĐẠO PHẬT SUY ĐỒI, chánh kiến không còn nữa, thì các thể chế tà trị ấy, lại càng mạnh hơn, tha hồ mạo danh…tự xưng mình là «chính trị», để lừa gạt muôn dân, đánh lừa nhân loại.

<>Nói cách khác, khi NGỌN ĐUỐC CHÁNH KIẾN đã tắt, thì bình an của người dân trong một nước nói riêng, và trên cả thế giới chung, sẽ bị đe dọa…nếu không muốn nói là suy vong, chẳng còn được tôn trọng nữa. Nhà nước TÀ KIẾN chỉ là một «tổ chức» dùng sức mạnh «xâu xé quyền lực», và dùng tiền bạc «mua chuộc sự trung thành» của những phần tử xu thời, rồi áp đặt luật lệ chuyên chính để chà đạp công pháp. Từ đó, bất ổn liên tục xảy ra. Sự sống con người chìm sâu trong khổ cảnh, không ai đủ điều kiện để tố cáo và nói ra giải pháp. Họ cứ đổ bừa cho «thần quyền» hay«tự nhiên», và gọi ấy là «TAI ÁCH», để nuôi dưỡng «THỰC TẠI».

<>Nhắc lại ĐẠO ĐẾ hay Bát Chánh Đạo (Atthaṅgika magga), là phần thứ tư của TỨ DIỆU ĐẾ trong kinh Chuyển Pháp Luân (Dhammacakkappavattana sutta), mà Đức Phât đã thuyết tại vườn Lộc Giả (Isipatanamigadāya), gồm 8 PHẨM CÁCH đưa đến sáng suốt GIÁC NGỘ, là :

 1-CHÁNH KIẾN (Sammā diṭṭhi), thấy biết chân chánh.

 2-CHÁNH TƯ DUY (Sammā saṅkappo), suy nghĩ chân chánh.

 3-CHÁNH NGỮ (Sammā vācā), lời nói chân chánh.

 4-CHÁNH GHIỆP (Sammā kammanto), hành động chân chánh.

5-CHÁNH MẠNG (Sammā ājīvo), nuôi sống chân chánh.

6-CHÁNH TINH TẤN (Sammā vāyāmo), cố gắng hay chuyên cần chân chánh.

7-CHÁNH NIỆM (Sammā saṭi), nhớ biết chân chánh. (=Tỉnh thức)

8-CHÁNH ĐỊNH (Sammā samādhi), nhất tâm hay định thần chân chánh. (thanh tịnh).

Lược giải :

                                                       1-Chánh kiến :

a/Thấy biết THỰC TẠI đang chịu đựng các hiện tượng, các pháp hành (xuyên qua 6 giác quan) biến đổi không ngừng (vô thường), nhị biên thuận nghịch, vui khổ lẫn lộn, liên hoàn hoán vị, vừa thỏa mãn vừa bất mãn. THỰC TẠI tạm gọi là HIỆN HỮU, chỉ vừa mới bắt đầu đã ngấm ngầm biến đổi, để trở thành KHÔNG (suññatā). «HIỆN HỮU» chẳng bao giờ kéo dài, theo ý muốn của bất kỳ ai. Chịu đựng thăng trầm như thế gọi là “DUKKHᾹ”.

b/Thấy biết NGUYÊN NHÂN của chịu đưng THỰC TẠI, tức là các hiện tượng, các pháp hành (xuyên qua 6 giác quan) vốn có NGUỒN GỐC (Samudaya) từ xưa. Nguồn gốc ấy chính là ÁI DỤC (taṇhā), hay vô minh (avijjā) thèm khát (Rāga=tham=lobha), lôi kéo tràn ngập không ngừng nghỉ (DUKKHA SAMUDAYA) trong vận hành trước, xuyên qua bao nhiêu kiếp sống. 

c/Thấy biết CÓ thực trạng hết ái dục là Niết Bàn (Nibbāna), phẩm cách TOÀN XẢ (Upekkhā), giải thoát khỏi tất cả phiền não, triệt tiêu luân hồi, diệt khổ. (DUKKHA NIRODHA).

d/Thấy biết con đường chấm dứt ái dục (dukkha nirodha gāminī), với 8 CHI TIẾN HÓA (Atthaṅgika), đưa đến THANH TỊNH GIỚI (Sīla Visuddhi), THANH TỊNH TÂM (Citta Visuddhi), THANH TỊNH TRI KIẾN (Diṭṭhi Visuddhi=Paññā). Ấy là BÁT CHÁNH ĐẠO (Atthaṅgika magga).

<>Tưởng cũng nên thật khách quan, mà nói thêm rằng «CHÁNH KIẾN không nhất thiết chỉ làm tín đồ đạo Phật là chắc chắn CÓ được». Vì CHÁNH KIẾN trong nhà Phật vốn là nội dung của phẩm hạnh, là hoa trái của GIÁC NGỘ, và đồng thời cũng là HIỆU LỰC của TRUNG ĐẠO, do chư Phật thuyết minh, chứ không phải do thế gian «tấn phong».

*Mặc dù có nhiều kinh sách Phật học cho rằng «Thánh Nhân đã hoàn toàn giải thoát, thì luôn luôn có chánh kiến», nhưng những tài liệu ấy không có chỗ nào ấn định «một người phàm, hễ gia nhập đạo Phật, hay nhận lễ qui y tam bảo là tự nhiên có chánh kiến».

*Nói cách khác, CHÁNH KIẾN, hay sự THANH TỊNH SÁNG SUỐT, rất có thể được phát hiện ở những danh nhân ngoài đạo Phật, hoặc cũng tìm thấy nơi một số NGƯỜI HIỀN thuộc các nguồn văn hóa (hay tôn giáo) khác. Và cụm từ «văn hóa» (hay tôn giáo) khác ở đây, dĩ nhiên ám chỉ một quan niệm sống có thần linh hướng dẫn, chứ không «ám chỉ» cái nguồn gốc lành mạnh của «anh minh tri thức» (=CHÁNH KIẾN), phát ra từ TÂM ĐỨC con người.

-Xem ra, trong giới các chuyên gia khoa học lý hóa TÂY PHƯƠNG, chúng ta có thể thỉnh thoảng, hay thường gặp những nhân vật sống theo «CHÁNH KIẾN».

                                                      2-Chánh tư duy :

a/Thường xuyên suy nghĩ về PHÁP HÀNH XA LÌA ÁI DỤC. (Alobha kamma)

b/Thường xuyên suy nghĩ về KHÔNG LÀM HẠI CHÚNG SANH. (Adosa kamma=Avyākata).

c/Thường xuyên suy nghĩ về THANH LỌC và SOI SÁNG TINH THẦN (Amoha kamma)

d/Thường xuyên suy nghĩ về pháp KHÔNG DÍNH MẮC, vô chấp, XẢ (Upekkhā kamma).

                                                    3- Chánh ngữ :

                           a/Luôn luôn nói thật, không nói dối, nói vô hại.

                           b/Luôn luôn nói đoàn kết, không đâm thọc, không hai lưỡi.

                           c/Luôn luôn nói nhã nhặn, không thô tục, không cộc cằn, không châm chích.

                           d/Luôn luôn nói điều thực tế, không hoang đường, mê tín, dị đoan, vô ích.

                                                   4-Chánh nghiệp (hành động vô hại) :

                                 a/Không trực tiếp hay gián tiếp tham gia sát sinh,

                                 b/Không trực tiếp hay gián tiếp tham gia trộm cắp,

                                 c/Không trực tiếp hay gián tiếp tham gia tà dâm,

                                 d/Không trực tiếp hay gián tiếp tham gia hành hạ sinh vật.

                                                   5-Chánh mạng (sinh kế lành mạnh) :

            a/Không tà kiến, không chủ trương ngu dân, không núp bóng thần linh để nuôi mạng.

            b/Không trực tiếp hay gián tiếp buôn bán độc dược, võ khí, chất say, không tổ chức cá độ (đấu võ, đua ngựa, đá gà..v…v…) để nuôi mạng.

            c/Không mê tín, không xem bói, làm mai, nịnh bợ, bày mưu đấu tranh, đánh trận, gây thù hận rồi làm thầy kiện, trung gian chứa điếm, mở sòng bạc để nuôi mạng,

            d/Không làm không khuyến khích (hay đồng lõa) trong việc chăn nuôi thú vật, cung cấp trên thị trường, hay cho các lò sát sinh, để nuôi mạng.

          6-Chánh tinh tấn (=chuyên cần)  :

 a/Cố gắng chế ngự ngũ căn (túc 5 giác quan mắt, tai, mũi, lưỡi, thân).

 b/Cố gắng triệt tiêu ác ý, phát sinh ở tư tưởng, khi 5 căn tiếp xúc với 5 trần. 

 c/Cố gắng an trútrong chánh thiền. Thanh tịnh an chỉ (định) rồi Quán (minh sát).

 d/Cố gắng gìn giữ giới hạnh,của 1 trong 2 hạng người noi gương Phật (xuất gia hay cư sĩ).

                                                    7-Chánh niệm (sống theo Tứ Niệm Xứ) :

                                         a/Nhớ biết thực tại THÂN trong thân, NIỆM THÂN.

                                        b/Nhớ biết thực tại THỌ trong thọ, NIỆM THỌ.

                                        c/Nhớ biết thực tại TÂM trong tâm, NIỆM TÂM.

                                        d/Nhớ biết thực tại PHÁP trong pháp. NIỆM PHÁP.

                                     8-Chánh định (=nhất tâm an trú đề mục thanh tịnh) :

                a/Nhất tâm (=toàn định) để ý thức vắng lặng, vượt tầm, tứ, hỉ, và lạc. Tâm chấm dứt lang thang trong vô minh (avijjā), cách ly TRẦN CẢNH (sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp).

                b/Nhất tâm (=toàn định) để ý thức không vướng các quả thiền.

                c/Nhất tâm (=toàn định) để ý thức chỉ hướng đến pháp xả và thánh đạo.

                d/Nhất tâm (=toàn định) để ý thức “đồng nhất” với“Sát-Na Niết Bàn”.

<>Và nếu nói về “TÍNH HỢP LÝ” (takkasattha), thì Bát Chánh Đạo hay CHÂN LÝ THỨ IV nầy, có một tương quan “NHÂN QUẢ LIÊN HOÀN” rất khoa học. Và đó là sự soi sáng sâu sắc, giúp người học Phật “xác nhận được” Bát Chánh Đạo cũng là BÁT THÁNH ĐẠO.  

TÍNH HỢP LÝ ấy là :

*Khi một người “không thấy biết đúng” hay không CHÁNH KIẾN (chi thứ nhất), thì “không thể suy nghĩ đúnghay có CHÁNH TƯ DUY (chi thứ hai) được. *Và khi một người “không suy nghĩ đúng” hay không CHÁNH TƯ DUY (chi thứ hai), thì “không thể phát ngôn đúng” hay có CHÁNH NGỮ (chi thứ ba) được. *Cứ thế tiếp tục cho đến “chi thứ bảy” và “chi thứ tám”, liên hệ đến phàm nhân. -Rằng khi một người phàm không có CHÁNH NIỆM (chi thứ bảy), thì không thể có CHÁNH ĐỊNH (chi thứ tám) được.

*Còn nói về “NHÂN QUẢ LIÊN HOÀN” nêu ra ở đây, thì ám chỉ chi đạo thứ tám (CHÁNH ĐỊNH) vừa là HIỆU QUẢ của chi thứ bảy (CHÁNH NIỆM), vừa là TIỀN ĐỀ của chi thứ nhất (CHÁNH KIẾN). -Rằng “nếu một người không CHÁNH ĐỊNH, thì hoàn toàn chưa đủ CHÁNH NIỆM (chi thứ bảy) và tất nhiên cũng rất khó có CHÁNH KIẾN (chi thứ nhất).

*Nhưng đối với THÁNH NHÂN, thì CHÁNH NIỆM (chi thứ bảy) và CHÁNH ĐỊNH (chi thứ tám) của các Ngài đã viên dung, hùng hậu, tức là đầy đủ BA-LA-MẬT (công phu tối thượng). Các Ngài sống hằng ngày trong BÁT-NHÃ hay CHÁNH KIẾN (chi thứ nhất), nên những phẩm cách thanh tịnh tiếp theo (trong Bát Chánh Đạo), như chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, và chánh tinh tấn…vốn luôn luôn đồng bộ.

<>Đến đây, chúng tôi xin mạn phép vắn tắc, không dài dòng, vì Bát Chánh Đạo đã có khá nhiều sách Phật học nói đến từ xưa đến nay, một cách rộng rãi.

-Vã lại, TRỌNG TÂM của “bài thứ 3” nầy là “Bản Sắc Khoa Học trong Phật giáo” liên quan đến TỨ DIỆU ĐẾ, vừa được chúng tôi cố gắng trình bày theo khả năng của mình. Nếu có gì sơ sót, kính mong chư thiện hữu trí thức bổ túc.

<>Nói tóm lại, nhờ “BẢN SẮC KHOA HỌC ” hay nhờ phẩm cách linh động tuyệt vời của BÁT-NHÃ (Prajña) trong nhà Phật, mà “Bậc Toàn Giác” (Sammā Sambuddha) đã thấy rõ và đầy đủ  CHIỀU SÂU của “bộ máy luân hồi” và tìm ra GIẢI PHÁP chấm dứt tử sinh, giúp chúng hữu tình tu thân thoát KHỔ.

———

Một mai rơi lại “luân hồi cũ”

Mới biết ngày xưa “pháp học lầm”!

——————————–

(Tuệ Lạc ghi lại tri kiến phát sinh nhờ CHỈ và QUÁN trong mùa “tịnh thất” 2021 tại Pháp)

BẢN SẮC KHOA HỌC

 Trong Phật giáo.

Bài 3

*Liên quan đến TỨ DIỆU ĐẾ (Catu Ariya Saccāni)

<>Kỳ nầy, chúng tôi xin trình bày về những “đặc điểm KHOA HỌC” trong giáo lý nhà Phật, liên quan đến Tứ Diệu Đế, hay liên quan đến Bốn Sự Thật Siêu Việt. -TỨ DIỆU ĐẾ (-Tiếng Pāḷī “CATU ARIYA SACCᾹNI”) trước tiên là NỀN TẢNG TƯ DUY (Patiṭṭhānasassa saṅkappa) của người theo đạo Phật. -Cần nhấn mạnh rằng, Tứ Diệu Đế hay Bốn Sự Thật Siêu Việt (còn gọi là 4 CHÂN LÝ) không phải là những “GIÁO LÝ HUYỀN BÍ”, mà loài người không thể tìm hiểu, phân tích hay suy luận về NGUỒN gốc của THỰC TẠI.

*Xưa nay, những “lời tiết lộ” của một giáo chủ, thường nặng về THẦN HỌC (théologie), thiên vềMẶC KHẢI. Và các vấn đề then chốt được một giáo chủ thốt ra, đều thuộc về lãnh vực SIÊU HÌNH, nằm ngoài sức hiểu biết của con người. Nói chung, trong hầu hết các tín ngưỡng ngoài Phật giáo, NIỀM TIN phải là điều tiên quyết, bất khả tranh luận hay từ chối…vì lý do gì.

*Nhưng Phật Giáo thì khác, nhất là “Đạo Phật Nguyên Thủy” do Đức Thích-ca Mâu-ni lưu lại, NIỀM TIN trong đạo Phật, là một “biểu lộ của ý thức chấp nhận hợp lý”. Ngày xưa, chính Đức Phật đã “phản đối” sự bất công, sự phân biệt giai cấp, “đả phá” mọi tình trạng mê tín(=ngu dân), trong xã hội Bà-la-môn (Brahamanisme). -Nói rõ hơn, NIỀM TIN trong đạo Phật, vốn đến từ tính soi sáng, hay KHAI TRÍ. Nó không phải là hậu quả của áp đặt “Phật quyền”.

*NIỀM TIN ấy phải là “dấu hiệu” của TỰ NGUYỆN HƯỚNG THIỆN, hoàn toàn nằm trong “khả năng tri kiến” của con người (dù cho còn phàm). -Thiết nghĩ, chúng tôi nêu ra loạt bài “BẢN SẮC KHOA HỌC TRONG ĐẠO PHẬT”, chẳng những đã không quá đáng, mà còn là một đóng góp thiết thực vào nền văn minh nhân loại ! -Mục đích chính là để “đánh tan” một số “lầm tưởng”, cho rằng “đạo Phật cũng nghịch chiều khoa học, như những tín ngưỡng khác”!  

<>Để chứng minh điều đó, chúng tôi xin nhắc lại 1trong 3từ ngữ (tham sân si), rất thường nghe trong ngôn ngữ nhà Phật, là…SI. Và theo “Phật học A-tỳ-đạt-ma” (Abhidhamma), thì tật “SI” (moha) vốn phát sinh từ tình trạng “VÔ MINH” (avijjā), -mà trong tiếng Pāḷī, chữ có nghĩa “đối nghịch” với VÔ MINH” (avijjā), là “MINH” (dịch ra Pālī là “VIJJᾹ”).  

Chúng ta có thể viết ra “sự tương phản” ấy bằng “công thức” như sau :

VÔ MINH (avijjā) > < MINH (vijjā).

*Rồi “hiển nhiên hơn nữa”, là khi tra cứu…chúng ta thấy trong tự điển PALI-ENGLISH, của 2 học giả nổi tiếng về Pāḷī-Saṅskrit, là 2 giáo sư T.W. RHYS DAVIDS và WILLIAM STEDE, Đại học Oxford, Anh quốc phát hành (trang 617), chữ “VIJJᾹ” được dịch ra Anh ngữ là “SCIENCE”, tương đương với danh từ “KHOA HỌC” trong “hán việt”.

Còn một tự điển khác là cuốn ENGLISH-PALI của Ngài A.P.Buddhadatta Mahāthera, cao tăng xứ Phật giáo Tích-lan (ở trang 486) cũng dịch chữ “SCIENCS” (=KHOA HỌC) ra tiếng Pāḷī là “VIJJᾹ”. Chưa kể, từ ngữ “VIJJᾹ” (=Minh hay Anh Minh) cũng có nghĩa trong tiếng Anh là “highest knowledge”, kiến thức cao nhất.

Từ đó, “Công thức” trên được bổ túc, thành :

VÔ MINH (avijjā) > < MINH = KHOA HỌC (vijjā), và

MINH = “VIJJᾹ” = KHOA HỌC = KIẾN THỨC CAO NHẤT.

<>Vả lại, không bắt buộc phải dựa vào kinh điển “PHẬT GIÁO NAM TRUYỀN” (dùng cổ ngữ Pāḷī hoặc Saṅskrit) để chỉ ra “Bản Sắc Khoa Học trong đạo Phật”, mà ngay cả căn cứ vào kinh điển “PHẬT GIÁO BẮC TRUYỀN”, dùng chữ “Hán” (=Phồn thể), thì các ĐOẠN KINH nói về “BÁT-NHÔ cũng đều được các nhà nghiên cứu Phật học danh tiếng (truyền thống Trung hoa) xưa nay, nhìn nhận là “GIÁO LÝ CỐT LÕI SOI SÁNG” của nhà Phật.

*“BÁT-NHÔ (Paññā=Prajña) ở đây, ám chỉ cái “TRI KIẾN TUYỆT LUÂN, HOÀN TOÀN” của Bậc Chánh Đẳng Chánh Giác (Sammāsambhuddhañāna). -Nếu chúng ta không muốn xem BÁT-NHà là “Bản Sắc Khoa Học” trong Phật giáo, thì chúng ta gọi ẤY là gì ? Như vậy, nhóm từ đươc dùng để đặt tên cho loạt bài nầy…quả thật không nên bị hiểu lầm là “phóng đại” !

*Lại nữa, trong lập trình của THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN”, mà chúng tôi đã đề cập trong “Bài trước, VÔ MINH (Avijjā) chính là “khoen đầu”, khởi đông vòng luân hồi. Thay vì gọi là “vô minh”, chúng ta có thể dựa vào các tra cứu nói trên, thay thế 2 chữ vô minh” bằng 3 chữ RÕ NGHĨA hơn là “phản khoa học”. -Từ đó, chúng ta qui nạp rằng,“nếu ngược lại, sự khởi đầu ấy là MINH (VIJJᾹ=đúng khoa học, ANH MINH), thì BẢN CHẤT ĐÓ vốn triệt tiêu các khoen tương tác tiếp theo, để tất nhiên không có “duyên khởi luân hồi”. -Phật học còn gọi MINH hay “ANH MINH” (Vijjā) là “thuận pháp” (=dhammena), tức là CÓ PHẨM CÁCH SIÊU THOÁT đối trị hẳn “VÔ MINH” (Avijjā) hay “nghịch pháp” (adhammena).

-Và để cho đề tài được “sống động”, chúng tôi đề nghị quí vị, hãy xem TỨ DIỆU ĐẾ, hay Bốn Sự Thật Siêu Việt như một bức tranh triết luận, và hãy xem «BẢN SẮC KHOA HỌC trong NHÀ PHẬT» là “trật tự sắp đặt” của những nét trình bày “hữu minh” trên “bức tranh triết luận” ấy, để có sự “mạch lạc hóa” cái TÍNH TƯƠNG QUAN, của toàn bộ Phật giáo (Buddhassa desana), trong tiến trình GIÁC NGỘ (Bodhi).

*Nghĩa là ba chân lý, gồm KHỔ, TẬP, DIỆT, phối hợp với chân lý thứ tư (BÁT CHÁNH ĐẠO=sống sáng suốt theo phạm hạnh), phải nằm trong cái khung có“phân bổ khoa học”, để cho CHÂN LÝ NẦY được chứng minh rằng “NÓ vừa là nhân vừa là quả (liên quan) của CHÂN LÝ KIA”, trong vận hành THUẬN DUYÊN, khi cả hai nhất thời tương tác, và trong vận hành NGHỊCH DUYÊN, khi cả hai nhất thời không tương tác…NHẤT THỜI nói đây ám chỉ THỰC TẠI.

-Chỉ có Bản Chất Khoa Học trong Đạo Phật, mới có thể giúp cho TỨ DIỆU ĐẾ được người đời nghiên cứu, một cách thông thoáng. Nếu không, «Tứ Diệu Đế», sẽ bị coi là một “lý thuyết thuộc về siêu nhân” (Thánh đức). Còn những hạng “phàm phu tục tử” thì “chân lý cứu cánh” trong TỨ DIỆU ĐẾ sẽ tỏ ra rất mơ hồ và xa vời, hoàn toàn nằm ngoài tầm tri thức của thực tại con người. -Xin bắt đầu theo thứ tự :

<>Liên quan đến CHÂN LÝ hay SỰ THÂT THỨ I,

“KHỔ ĐẾ”(Dukkha Ariya Sacca).

 <>Tiếng Pālī của Phật gọi “SỰ THẬT THỨ NHẤT”(Pathama Sacca) là «Dukkha Ariya Sacca». Hai chữ «Ariya» và «Sacca» nằm ở vị trí thứ 2 và thứ 3 trong nhóm chữ nầy. Chiếu theo tự điển, thì chúng có nghĩa là «sự thật cao thượng» hay «chân lý cùng tột» (=DIỆU ĐẾ : Ariya Sacca). Nhưng quay sang «khái niệm» về 2 chữ ấy trong tư tưởng của chúng ta, thì không khéo chúng có thể bị xem là “có nội dung biệt lập”, tách khỏi vận hành tương tác chung, khó thấy mối quan hệ đến sự SOI SÁNG trong tri thức…của trung đạo.  -Vả lại, chính chữ “DUKKHA” mới là «phần nòng cốt» trong nhóm từ nầy, cần đến KHOA HỌC TRUNG ĐẠO.

*Nếu chúng ta không chú ý đến nội dung sâu sắc của NÓ trong bài kinh CHUYỂN PHÁP LUÂN (Dhammacakkappavattana sutta), thì «ý nghĩa» của NÓ, sẽ dường như chỉ là «KHỔ», theo cách nói chung chung. -Nhưng quả thật, nội dung của từ ngữ «DUKKHA» ở đây không giản dị. Đó là một «luận đề» phải gắn liền với KHOA HỌC TRUNG ĐẠO. Nếu không thì “Ý NGHĨA KHỔ” sẽ trở thành «méo mó», có thể bị hiểu sai cách !

*Vì khi «phân tích trên bề mặt chữ nghĩa» và «xuôi theo cảm giác đại cương», thì từ ngữ «DUKKHA» chuyên chở cái «nghĩa nôm na» là đau đớn, khó chịu, bất tọai nguyện, một tri giác tiêu cực tổng quát (một “nội dung” mà bất cứ sinh vật nào cũng cảm nhận được). -Hóa ra đệ nhất đế để “tiết lộ” cái «CHÂN LÝ CÙNG TỘT», chỉ «đại khái» như thế thôi ư ?!. -Ngược lại, nếu ẤY là «PHÁP GIÁC NGỘ RỐT RÁO», không có pháp nào hoàn hảo hơn, thì NÓ (=DUKKHA) phải có một CHIỀU SÂU RẤT MINH TRIẾT. -Do đó, người học Phật cần phải cẩn thận khi tìm hiểu chữ “DUKKHA”, hầu “khám phá” được Ý NGHĨA CHÂN ĐẾ của nó !

<>Và để xác nhân «nội dung» của chữ «DUKKHA» chuyên chở «Phật học giác ngộ cùng tột như thế nào», chúng ta phải khách quan tìm hiểu «chiều sâu» của NÓ, qua cả hai phương diện tích cực (thuận) lẫn tiêu cực (nghịch). Vì dịch thuật với chữ «KHỔ» đã phổ biến xưa nay, có thể che khuất mặt “tích cực”, một nửa “SỰ THẬT” (Saccatharu) còn lại…bị “bỏ quên”, -không được hiệu lực của TRUNG ĐẠO soi sáng. Đây mới là điểm “then chốt” !

-Cũng vì dịch thuật “DUKKHA” “KHỔ” nầy, mà ngày nay nhiều người trong chúng ta, đã lầm tưởng rằng «đạo Phật là tôn giáo nhìn đời toàn ĐAU KHỔ» !

*Và nhắc đến “KHOA HỌC TRUNG ĐẠO” là nhắc đến tính thiết thựccủaTRI KIẾN TRÒN ĐẦY trong đạo Phật. Nghĩa là, chúng ta phải nhìn vấn đề qua BẢN SẮC KHOA HỌC, để “khám phá” trọn vẹn NỘI DUNG của chữ «DUKKHA», không vội vã chấp nhận cái cảm tính bề mặt, bỏ qua sự soi sáng của phẩm Giác Ngộ, rằng «đạo Phật hằng làm cho nhân sinh thấy đúng, hiểu đúng, và nghĩ đúng, như một “lối sống đầy xác nghiệm chính đáng”, để tin đúng, hành động đúng,sống đúng (=LẠC QUAN) !

-Chắc quí vị cũng ngạc nhiên khi thấy chúng tôi thỉnh thoảng viết 2 từ ngữ “khoa học” và “trung đạo” thành “một nhóm” (!) -Lý do ?! -Vì “TRUNG ĐẠO” mà không có “KHOA HỌC” kèm theo, thì người ta sẽ hiểu lầm là “TRUNG ĐẠO chỉ là con ĐƯỜNGGIỮA cố định”. -Rồi khi chấp vào “CON ĐƯỜNG ĐÓ”, người ta sẽ mất trung đạophản khoa học, không còn là “bản sắcđưa đếnBÁT-NHÔ trong Phật giáo nữa.

<>Thực ra, «Ý NGHĨA GIÁO HÓA» của chữ “DUKKHA” ám chỉ rõ ràng rằng, «kiếp người vốn nằm giữa 2 tình trạng thuậnnghịch, khổvui». Đức Phật đã thuyết kinh CHUYỂN PHÁP LUÂN, để đưa ra một PHÉP SỐNG ĐÚNG CÁCH, đầy hiệu lực hóa giải khổ vui, hóa giải thuận nghịch. Do đó, người học Phật phải tìm hiểu đầy đủ «nội dung» của chữ “DUKKHA”, để không vướng vào cái lưới “nghĩ theo phần đông”, mà xưa nay dịch thuật DUKKHA là «KHỔ» đem lại. 

-Khi nhìn theo khía cạnh «UYÊN NGUYÊN» của chữ «DUKKHA», và với “chỉ quán thanh tịnh”, chúng ta thấy đó là tình trạng «KHUYNH ĐỘNG BẤT KỲ» trước khi VŨ TRỤ thành hình. Vì thuở đầu, tức là sau cuộc nổ lớn (big bang), tất cả chỉ là «MANG MANG VÔ CỰC». Thực trạng ấy gọi là «tập khí khởi tích lũy» (pathama khandha) của MỌI VẬN HÀNH HIẾU ĐỘNG (saṅkhāra kamma), gồm các yếu tố tạo ra “NHẤT UẨN” (sơ cấu), rồi trải qua một thời gian vô cùng dài…về sau trở thành “ĐA UẨN” (đa cấu), gia tăng chồng chất tập ấm từ 1 đến 2 – 3 – 4 – 5, gọi chung là NGŨ UẨN (=sắc, thọ, tưởng, hành, thức), để “hình thành” toàn thể chúng sanh “vô tình” (asaññāsatta) lẫn “hữu tình” (saññāsatta) chịu luân hồi sau này.

-Và hai thế lực “THUẬN lẫn NGHỊCH” thoạt đầu chưa có nội dung “ĐỐI KHÁNG” với nhau, xem là “KHỔ”. Chúng vốn đã «ngẫu nhiên», nên cần được tạm gọi là «tính CHỊU ĐỰNG» (=dukkha). Ấy là THÁI CỰC DUY TÁC (Kiriya).

*Lúc nhìn vào chữ «DUKKHA», chúng ta thấy có vần «DU», liên tưởng đến «biến cách» của NGÔN NGỮ HỌC (philologie), chúng ta liền tìm ra “lập nghĩa”…là «hàng hai», «đi đôi», hay «song đối». Rồi “khoa học quan sát”, trở thành “triết lý phát biểu” rằng, «hễ có cái nầy thì có cái kia». -Cuộc sống tương giao trên địa cầu và bầu khí quyển, là một cảnh giới chứa «vạn vật khi đã hiện hữu, thì tự nhiên vận hành từng cặp, song song, đối xứng…thuận và nghịch, hợp và tan xoay vần…». -Tức là “LƯỠNG NGHI” : I biến thành II (I=>II), hay I khác II (I=>II), rồi phân đôi (I=/=II), tạo thành 2 VẾ.

*Vả lại, chúng ta tra cứu âm «DUK» trong tiếng Magadhì (Ma-kiệt-đà) hay Pàlì (ngôn ngữ của kinh đô “Hoa-thị-thành” (Pātalīputta=Pālī) thời đức Phật, thì «DU» cũng có nghĩa là «hai», tương đương với các chữ «dvi», «dvà», «dve». -Và điều «trùng hợp lý thú» hơn nữa, là trong một số ngôn ngữ gốc «La-tinh», như Anh, Pháp, Ý…v…v…các chữ «dualité» và «duality» cũng đều ám chỉ VẬN HÀNH CĂN BẢN từ «từng cặp», còn được diễn dịch là «nhị biên», «song đối» hay «lưỡng diện». TƯƠNG HÀNH.

*Như vậy, chữ «DUKKHA» trong kinh Phật, ngoài cái nghĩa tiêu cực, được tạm dịch xưa nay là «KHỔ», nó còn hàm ý của «SỰ CHỊU ĐỰNG» 2 tình trạng đối nghịch, -chẳng hạng như hài lòng bất mãn, dễ chịu khó chịu, hạnh phúc khổ đau, tối tăm trong sáng, đẹp đẽ xấu xa, nặng nề nhẹ nhàng, thấp bé cao lớn, ngon dở…v…v…(có vô số từ ngữ, không thể nào kể xiết)…

<>Như vậy chữ “DUKKHA” không ám chỉ duy nhất một mặt tiêu cực, là KHỔ !

*Nếu xét lại «tính nghiệm chứng» từ “KHOA HỌC TRUNG ĐẠO”, chúng ta còn nhận thấy rằng, Đức Phật dùng chữ «DUKKHA» trong cái nghĩa «CHỊU ĐỰNG nhị biên», hơn là thu hẹp nội dung vào một mặt MANG LẤY CÁI KHỔ. Vì bất cứ ám chỉ nào thuộc về «biên kiến», cũng luôn luôn chuyên chở một phía, hay «phân nửa», một cách phiến diện, không trọn vẹn.

-Người ta vẫn thường nói, «50% của sự thật không phải là sự thật». Và nhất là cái phân nửa kia của sự thật, dù đã bị bỏ quên (hay che khuất), vẫn là «yếu tố then chốt» của “VẤN ĐỀ”, cần đến “2 chìa khóa” để khai mở, chứng minh một cách đầy đủ. Và theo KHOA HỌC, thì «cái phần thật ẤY vẫn ở đó, chỉ chờ được khám phá, công bố».

<>Mặt khác, phải chăng sự VÔ THƯỜNG (aniccà=impermanence) cũng hằng xác định VẠN VẬT LUÔN LUÔN THAY ĐỔI (!?). Nghĩa là cái «thực tại khổ» kia…sẽ biến đổi, để dẫn đến một «thực tại mới», khác hẳn trước (hay ngượi lại), tạm gọi là «TẬN», (tận khổ = vui). -Rồi sau đó, cái «vui» khi cuối đà, chấm dứt sẽ đưa đến cái «khổ», cứ thế xoay chiều liên tục. Và chính trong sự hoán vị xoay chiều tương đối ấy, một động tử TỰ MÌNH có thể trải nghiệm, khi áp dụng đúng PHÁP (khoa học trung đạo) của Bậc Giác Ngộ, để hóa giải thực tại nhị biêntiến hóa, chứ không nhất thiết chỉ TRÁNH tâm trạng KHỔ hay TÌM tâm trạng VUI…một cách lẩn quẩn. -CỐ CHẤP !

*Và thái độ gọi là «lạc quan» (sabbasubhava) trong nhà Phật, nếu được được biểu lộ…thì đó chính là lúc có SỰ HIỂU BIỂT ĐÚNG ĐẮN (chánh kiến) SỐNG TRẢI NGHIỆM LÀNH MẠNH (trung đạo), chứ không phải “sản phẩm của tưởng tượng” (ảo kiến). Ngoài ra, TÍNH VÔ CHẤP trong nhà Phật  còn cảnh báo rằng, “coi chừng LẠC QUAN MÙ QUÁNG cũng là một tác hại khác của lòng THAM !”.

<>Nghĩa là, không nên mắc dính vàocặp chữ “LẠC QUAN”, kiểu “quá đơn giản”, tránh hẳn 2 thái cực, rồi nghĩ rằng, «phần đầu của bài kinh CHUYỂN PHÁP LUÂN chỉ nhằm mục đích phủ nhận 2 hành động «khổ hạnh» và «lợi dưỡng» (=sống hành xác hay hưởng thụ), để ĐÓNG KHUNG “con đường giữa” một cách cứng ngắc ! Tức là rơi vào thành kiến chật hẹp, KHÔNG THẤY ĐƯỢC hiệu lực thật của TRUNG ĐẠO trong Bản Sắc Khoa Học của nhà Phật. Và đương nhiên không xác nhận được Bản sắc đó CHÍNH LÀ “khả năng” giúp chúng ta hóa giải các bế tắc, nhất là vấn đề «dịch thuật cổ điển» (đến từ Phật giáo phương Bắc, có thể làm cho các đời sau hiểu lầm “đạo Phật chỉ nói về khổ”, khiến cho con người rơi vào «sương mù» của chữ nghĩa, của cảm giác bất lực (=định nghiệp), tiêu cực nhìn đời một cách tuyệt vọng, «thả trôi theo giòng quả báo»…-Từ đó, tính TỰ LỰC NÒNG CỐTtrong mỗi cá nhân sẽ tan rã, làm giảm thiểu duyên lành đối với Phật giáo.

<>Khi đọc Phật ngôn «Dukkha Ariya Sacca», chúng ta nên nhớ rằng, sự thật muôn đời của kiếp người (nói riêng), và của chúng sanh hữu tình (nói chung) là chịu đựng nhị biên đối đãi (?!). -Nghĩa là CHỊU ĐƯNG cả khổ lẫn vui, cả hài lòng lẫn bất mãn, cả hạnh phúc lẫn đau khổ, cả thành công lẫn thất bại…v..v…một cách tương đối, -chứ không phải duy nhất là CHỊU ĐỰNG KHỔ trong mọi trường hợp…một cách phiến diện. (=Tiền đề của sợ sệt).

<>Bỡi THỰC TẠI nào cũng bao gồm cả nghịch lẫn thuận, hài lòng lẫn bất mãn hay khổ lẫn vui…mà mỗi chúng sanh phải trải nghiệm, nên «CHỊU ĐỰNG» mới là từ ngữ tròn đủ nghĩa lý, để chúng ta dùng ám chỉ một cách phương tiện, cho cả hai trạng thái tạo ra luân hồi, hàm chứa trong ĐỆ NHẤT ĐẾ Phật giáo (Buddhasàsanassa Pathama Dukkha Ariya Sacca).

Từ đó, chúng tôi đề nghị gọi ĐỆ NHẤT ĐẾ (Pathama Ariya Sacca) là «CHÂN LÝ CHỊU ĐỰNG nhị biên», thay vì quen gọi một cách «phiến diện», là KHỔ ĐẾ.  

*Và phải chăng vì “quá bị ám ảnh” bỡi cái «KHỔ» (Dukkha), mà người thiếu tự tin «CHẲNG MÀN» đến cái «VUI» (Sukha), nên đa số người đã mất bình tĩnh, quên hẳn rằng “TẤT CẢ đều TƯƠNG ĐỐI”. Rồi tư duy của họ dần dần trở thành sai lệch về ĐỆ NHẤT ĐẾ trong “giáo lý đức Phật”. Trầm trọng hơn nữa là họ vội vã kết luận rằng, «đạo Phật là tôn giáo nguyền rủa niềm vui», ngay cả NIỀM VUI THANH BẠCH ! -Hiện tượng “tiêu cực” vô cùng đáng tiếc !

-Đã từ lâu, chúng tôi vẫn tự hỏi «tại sao một giáo lý tuyệt vời» của Đức Phật, một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác (Sammā Sambuddha) lại… chẳng những đã không soi sáng, khai thông…thức tỉnh cho con người, trong cảnh CHỊU ĐỰNG triền miên THUẬN NGHỊCH (khổ-vui), mà còngây hiểu lầm”, học thuyết tiêu cực, làm cho người đời “chán nãn, buông xuôi(?!). -Hiện tượng nầy, nếu không đến từ “DỊCH THUẬT” và “DIỄN GIẢNG” phiến diện, THIẾU KHOA HỌC…thì không còn lý do nào khác !?  

*Mỗi khi nhớ đến hai chữ TRUNG ĐẠO trong kinh CHUYỂN PHÁP LUÂN, chúng tôi chợt nhận ra rằng, sự diễn giải “đóng khung giáo lý”, chấp cứng vào văn tự dịch thuật, hay vào thành kiến tông phái, “ngu tín” của một số người nhân danh “Phật học”…đã làm cho chúng ta ngày hôm nay, không hiểu đúng Phật ngôn, không làm tròn bổn phận «người theo đạo Phật».Nhất là trong thời đại VĂN MINH LÝ HÓA chi phối tất cả sinh hoạt.

<>Nói tóm lại, Chân Lý Thứ Nhất hay «DUKKHA ARIYA SACCA» ám chỉ sự thật CHỊU ĐỰNG khổ vui trong CẢ HAI trạng thái đối nghịch, bất luận là trạng thái nào xảy ra trước. Và tất cả vận hành (bao gồm khổ vui) đều có điểm bắt đầu và có điểm chấm dứt (tùy độ dày của nghiệp quả, phối hợp với cơ duyên hiện tại (có thể khuyến thiện), chứ không duy nhất phải CHỊU ĐỰNG quả báo định mệnh…một cách bất khả hóa giải, để chỉ gọi tổng quát trên bề mặt, là «KHỔ ĐẾ» (hay khổ là thật muôn đời) ! -Và như thế thì “LUẬT VÔ THƯỜNG không vận hành, không tuần hoàn, không biển đổi hay sao ?”!

<>Vả lại, pháp NHỊ BIÊN SONG ĐỐI (dualité), há đã chẳng cho chúng ta biết rằng, xuyên qua một kiếp sống, có bao nhiêu cái “khổ”, thì cũng có chừng ấy cái “vui” tương đối, xen kẽ. Và KHỔ lẫn VUI của người nào thì «đè nặng» lên THÂN lẫn TÂM chính người ấy, chứ sự CHỊU ĐỰNG KHỔ VUI không chọn lựa riêng rẽ “đối tượng duy nhất” là thân xác hay tinh thần.

Tiền đề trung đạo» của bài kinh CHUYỂN PHÁP LUÂN có thể thức tỉnh chúng ta, tránh được thiên kiến «đánh giá thấp sự hữu dụng của vật chất», và «chỉ đề cao giá trị tinh thần».

-Nhiều đoạn trong kinh…Phật đã khuyên chúng ta rằng, «THÂN TÂM luân hồi nầy tuy là kho chứa của những tật xấu, nhưng nó cũng là PHƯƠNG TIỆN CẤN THIẾT, để tu hành tiến hóa, khởi sinh, nuôi dưỡngtích tụ tánh tốt, đức lành».

*Nếuchúng ta có thể phạm nhiều tội lỗi, với THÂN TÂM nầy, thìchúng ta cũng có thể tạo nhiều phúc đức với NÓ, xuyên qua ý thức hướng thiện TRUNG ĐẠO…không rơi vào BIÊN KIẾN, sống giảm thiểu nghiệp xấu, phát triển nghiệp tốt. Từ đó, chúng ta biến THÂN TÂM nầy thành một kiếp sống, hay “ngũ uẩn” (với 5 tập khí SẮC, THỌ, TƯỞNG, HÀNH, THỨC) tươi tỉnh, quân bình, thanh tịnh vị tha.

<>Sự HIỂU ĐÚNG Chân Lý Thứ Nhất trong chữ “DUKKHA”, sẽ đưa chúng ta ra khỏi THÀNH KIẾN bạc nhược, tối tăm, cuồng tín, bế tắc…không vùi dập kiếp sống trong KHỔ HẠNH, không say sưa đắm chìm trong LỢI DƯỠNG (đầu hàng lòng tham), mà sáng suốt sống hợp lý với an vui lành mạnh của thể xác, và không cực đoan rèn luyện tinh thần một cách đui mù, vì VÔ MINH vi tế…như CÁI GƯƠNG đạo sĩ Tất-đạt-đa đã khổ hạnh cùng cực suốt sáu năm trường, một cách vô ích, trước khi áp dụng TRUNG ĐẠO và thành Phật !

*Hai tình trạng KHỔ (Dukkha) và VUI (Sukha) đều nằm trong mỗi con người phàm tục. Chúng ta KHÔNG NÊN tin rằng «xem đời tuyệt đối là bể khổ, thì có nhiều hy vọng thành Phật», hay «thấy đời có niềm vui thì có ít hy vọng Giác Ngộ, rồi tiếp tục sinh tử, luân hồi». Và đừng quên rằng kinh Phật có bộ JᾹTAKA (“Túc Sinh Truyện” nói về TIỀN THÂN BỒ-TÁT=Bodhisatvā), ghi lại khá nhiều giai thoại, khuyên người đời thường xuyên làm lành, tạo PHƯỚC (kusala kamma, puñña). -Mà «tạo phước là gì, nếu không phải xây dựng niềm vui !?».

<>Nói về «KHỔ ĐẾ», chỉ liên quan đến 50% của SỰ CHỊU ĐỰNG bất mãn (hay KHỔ) -và 50% “hài lòng” (VUI) còn lại không được nêu ra…thì đã có quá nhiều sách vở gọi là «Phật giáo» thường xuyên mô tả rồi. -Đại khái như «sanh-lão-bệnh-tử là khổ», «thương mà phải xa, ghét phải gần là khổ», «muốn mà không được, được mà không muốn là khổ»..v.v..

Nhưng trên thực tế, chúng ta thấy -“THƯƠNG nếu có phước thì cũng được GẦN”, -“GHÉT nếu hữu phước thì cũng được TÁCH XA”, -“MUỐN GÌ lắm khi CÓ PHƯỚC cũng đạt được”, hoặc -“KHÔNG MUỐN thì nhiều lúc vẫn không bao giờ thấy”…v…v…chứ không phải luôn luôn cố định ! -Chưa kể, trước các pháp nhị biên thế gian, như thịnh và suy, khen và chê, giàu và nghèo, đẹp và xấu, mạnh và yếu, hòa bình và chiến tranh, yên ổn và sóng gió, TẤT CẢ ĐỀU CÓ 2 MẶT để cho con người CHỊU ĐỰNG thuận lẫn nghịch một cách xen kẽ, tương đối.

-Nhưng chữ «KHỔ» (=bất mãn) xưa nay vốn được «phóng đại», từ MỘT NỬA tiêu cực của sự CHỊU ĐỰNG thành TOÀN BỘ bất hạnh trong cuộc đời. Còn nửa kia là cái «VUI» (hài lòng), là nhân DUYÊN tích cực, vẫn rất cần thiết cho sự sống…lại bị «dịch thuật» bỏ qua, nếu không muốn nói là «nhân danh Phật giáo ruồng bỏ»…thì thật là đáng tiếc !

*Chưa kể, «LUẬT VÔ THƯỜNG (aniccà niyama) luôn luôn không cho phép bất cứ vật gì giữ nguyên trạng, tuyệt đối không thay đổi». -Và ĐẠO GIÁC NGÔ (Phật áp dụng) chính là giải pháp khoa học nhất, để CÙNG VỚI luật vô thường “khai thông tri kiến”, giúp người hướng thiện có thể tiến hóa, kể từ đơn vị nền tảngcá nhân, trước khi “xây dựng xã hội”. 

-Ví như trong một bức tường, mà từng viên gạch đã tốt, thì toàn thể có thể xem là rắn chắc. Ngược lại, một tấm vách dù bề ngoài trưng ra có vài phần đẹp đẽ, “hợp lý” đến đâu, cũng không thể gọi là bền bĩ, nếu các khuyết điểm bên trong mỗi viên gạch…chưa được kiện toàn !

*Nói tóm lại, ĐỆ NHẤT CHÂN LÝ (Pathama Ariya Sacca), tạm gọi là khổ đế”(DUKKHA)trong nhà Phật,cần phải được phân tích tận cùng, trưng bày hết cái CHIỀU SÂU (fonde, subtilité) của NHỊ BIÊN (dualité), qua ánh sáng của TRUNG ĐẠO, để sự “hiểu biết phiến diện” xưa nay, phải được điêu chỉnh một cách xây dựng (=minh bạch), vì đạo Phật là một “tôn giáo” vốn có “BẢN SẮC KHOA HỌC”.

<>Liên quan đến CHÂN LÝ hay SỰ THẬT THỨ II :

TẬP ĐẾ (Samudaya Ariya Sacca)

-Nói theo chiều sâu, SỰ THẬT (Sacca) gọi là TẬP ĐẾ (Samudaya=nguồn gốc), chính là tình trạng TÍCH TỤ (khandha) hay CHỒNG CHẤT (sañcaya) của năng lượng đen tối (uyyāma kaṇha) do KHỞI HÀNH VÔ MINH (Avijjà paccayà saṅkhārā), được lập lại vô số lần, bỡi những chu kỳ khuynh động (saṃsāra), và do lậu hoặc (āsava) làm cho ô-nhiễm «sức tự chiếu» (CÁI BIẾT)* (viññānaṃ dūseti) của «giòng điện tâm» (citta), cũng như do vận chuyển lý hóa làm cho ô-nhiễm «từ trường» (vāyumaṇḍalaṃ dūseti) của “CẤU KẾT TỨ ĐẠI* (catu mahàdhàtupaccaya = “đất”, “nước”, “lửa”, “khí”), tức là “VẬT CHẤT” (rūpa) xuất hiện do  NGHIỆP (kamma) tạo thành…như sau :

*«CÁI BIẾT» (=sức tự chiếu) ám chỉ toàn bộ «tinh thần», phản ảnh của “giòng điện tâm”.

CẤU KẾT TỨ ĐẠI» ám chỉ «thể xác», không ngừng suy đồi “biến dạng”, vô thường (aniccā).

<>Trong TÂM TÁNH của mỗi con người (hay một chúng sanh hữu tình), thì «TẬP ĐẾ» là «cái kho hiểu biết bị ô nhiễm», Phật học gọi NÓ là CHỒNG CHẤT SI MÊ (moha), chứa quá nhiều «vọng động đui mù» (taṅhà) từ vô số kiếp luân hồi. Và vì SI MÊ TÍCH LŨY nên kho ấy không bao giờ đầy. -Cũng gọi là túi tham vô đáy !

*THAM (lobha) ở đây đồng nghĩa với thu vô, và VỌNG (taṅhā) đồng nghĩa với tìm mãi. Từ đó, tâm tánh con người không bao giờ thõa mãn, luôn luôn khao khát (rāga), làm DUYÊN KHỞI của phản đối (paṭikkosati), của nổi loạn (dubbhati), và sau cùng là của bạo động (atikkamati), dưới nhiều dạng khác nhau, bộc lộ hay nham hiểm (vyāpāda).

*Từ đó LÒNG THAM (lobha) “biến tính” thành tật sân (dosa), hay hờn oán (paṭigha), một nội dung hỗn loạn âm u(ākulatā hetu), khuynh đảo càng lâu càng bồi dưỡng cho SI MÊ (Moha).

*Đa số phàm nhân thường nghĩ rằng, THAM và SÂN là 2 tật xấu khởi thủy khác nhau. Nhưng theo Phật học, thì tham sân vốn đến cùng một gốc (samudaya). Ấy là VÔ MINH (Avijjā), “tiền thân” của SI MÊ (moha). THAM và SÂN ví như hai mặt của một đồng tiền. Khi có MẶT NẦY thì phải có MẶT KIA, hoặc ngược lại.

Ngoại diện» (dassana) của THAM và SÂN hằng biểu lộ rất «phức tạp» (saṅkiṇṇa). -Có khi CHÚNG “đóng kịch”, trình diễn…dù bằng “ánh mắt tha thiết”, hay “cử chỉ ưu ái”, -như “nụ cười dễ dãi”, như “thái độ nhường nhịn”…nhưng gốc vẫn là do động cơ THAM. -Có khi CHÚNG lòi ác tính, biểu lộ bằng sự “hung hăng lẫn bực bôi”, hay “phản ứng khắc nghiệt lẫn khó khăn”, -như phun ra lời lẽ cộc cằn, hành vi tàn nhẫn, nét mặt hung ác, bất bình, bạo động…kể cả CÁI mà người ta gọi là “tính nóng nhưng thẳng thắn”, “thích công bằng chống bất công”..v…v…gốc vẫn thuộc về tật SÂN (dosa). Người “tự tử” cũng do SÂN HẬN cực độđiên loạn…tìm cái chết. Do đó, nếu may mắn được cứu sống, thì họ lại MỪNG (=THAM).

<>Theo kinh Phật, NGUỒN GỐC của chịu đưng NGHỊCH THUẬN,KHỔ VUI (=DUKKHA) là THAM LAM (lobha) hay DỤC VỌNG (taṅhà). Nói cách khác, TẬP ĐẾ (Samudaya Ariya Sacca)NGUYÊN NHÂN của KHỔ ĐẾ (Dukkha Ariya Sacca), hay «chân lý thứ hai nguyên nhâncủa chân lý thứ nhất». Nghĩa là, sở dĩ loài người nói riêng, và chúng sanh hữu tình nói chung, chịu đựng vô số NGHỊCH hay THUẬN, dễ chịu (mānāpa) lẫn khó chịu (amānāpa), chỉ vì sự THAM MUỐN rồi VỌNG ĐỘNG (Lobha, Taṅhā) không ngừng.

*Nếu phát biểu một cách TỈNH THỨC, ĐÓ là tiến trình “nhân DUYÊN quả”,-giống như cái hệ luận «ắt có và đủ» trong toán học vậy. Nhưng nhóm từ «nhân DUYÊN quả» kia, khi không nêu rõ mối tương quan TÂM VẬT (áp dụng qua khoa học trung đạo), thì người ta có thể “phê phán” là NÓ «lủng củng», «không thực tại», và “chẳng cụ thể”, vì không có “qui tắc” ấn định.

*“PHÊ PHÁN” như vậy…bỡi hầu hết ai cũng nghĩ rằng, «THIẾU ham muốn thì một người có thể làm được gì ?!». -Ngay cả để đạt được một mục tiêu tầm thường nhất, người ta cũng phải có động lực ham muốn ! “-Phật giáo chủ trương triệt tiêu lòng tham, mà tiếp tục sinh hoạt bình thường trong cuộc sống, là một điều làm sao không lủng củng ?!”.

<>“BẢN SẮC KHOA HỌC trong Phật giáo” được chúng tôi mạnh dạn nêu ra đây, là để hóa giải «sự lủng củng» ấy. -Đặc biệt la là «củng củng trong ngôn ngữ qui ước», và đồng thời «lủng củng trong quan niệm chế định». -Lủng củng thứ nhất là nếu thiếu khoa học (không hợp lý), thì tư tưởng bị «cầm tù» bỡi chữ nghĩa. -Lủng củng thứ hai là nếu thiếu khoa học (không trung đạo), thì tinh thần bị «cột trói» bỡi quan niệm (=cố chấp).

*Đây chính là lý do sâu sắc, mà trong phần mở đầu của bài pháp thứ nhất (CHUYỂN PHÁP LUÂN=Dhammacakkappavattana sutta) đức Phật đã nêu ra tuyệt pháp TRUNG ĐẠO (Majjhima paṭipadā) rất KHOA HỌC, như một «tiêu chuẩn khai thông», để những ai học Phật với TÂM TƯ CỞI MỞ, có thể tự mình soi sáng, tìm ra khía cạnh khả thi, chính đáng mà đi tới…vượt qua những cái KHUNG của chữ nghĩa, và của QUAN NIỆM cố hữu.

-Phải chăng Bậc Toàn Giác (Sammā Sambuddha) đã biết trước «điều nầy có thể xảy ra trong tương lai, khi sự diễn giảng Phật giáo qua sách vở, và qua ngôn từ, –nếu phản khoa học (vô minh=avijjā)…sẽ có thể làm cho người đời cảm thấy Phật giáo “mâu thuẫn” hay «lủng củng», giảm mất rất nhiều hiệu lực khuyến thiện, độ sinh ?!

<>Câu chuyện một đứa bé thuộc “Gia Đình Phật Tử” hỏi mẹ “Mẹ ơi ham học có phải là tham lam không mẹ ?”. Mẹ nó vội khôn khéo trả lời rằng, “Ham họcviệc tốt, thì không sao, con phải chăm chỉ học hành, càng nhiềucàng giỏi càng tốt !”. Thằng bé tin mẹ, lập tức tự nhủ thầm trong đầu một cách ngây thơ, “lòng tham cũng có phương diện tốt”.

*Theo VI DIỆU PHÁP, thì 3 NHÂN DỮ3 NHÂN LÀNH được trình bày như sau :

1-THAM LAM (lobha) là «động cơ xấu», thiên hẳn về thu vào, nhắm đến tài vật từ các phía.

2-SÂN HẬN (dosa) là «phản ứng xấu», ngã hẳn về nóng giận, chống lại cái gì cản trở.

3-SI MÊ (moha) là «không biết cách», hoang mang, phiêu lưu theo nghiệp, tư ý bất định…

4-VÔ THAM (alobha) là «động cơ tốt», thiên về hy sinh, nhất thời° muốn giúp người khác.

5-VÔ SÂN (adosa) là «không bất mãn», ngã về phía ôn hòa, nhất thời° muốn thân thiện.

6-VÔ SI (Amoha) là «tĩnh biết», sáng suốt trước thực tại, nhất thời° hóa giải thuận hay nghịch.

Lưu ý :

<>Ba «cặp chữ» nhất thời° có khoen ghi trên (trong các câu số 4, số 5 và số 6), ám chỉ rằng, “khi nó phát sinh trong tâm, thì lúc ấy (hay nhất thời) có ảnh hưởng mạnh” của THIỆN PHÁP. -Vô tham (4), vô sân (5),vô si (6) nói ở đây, vốn không có mặt thường xuyên trong tâm một người phàm khi chưa có quyết định lành mạnh (=HƯỚNG THIỆN).

-Và theo VI DIỆU PHÁP (Abhidhamma), thì 3 từ ngữ “VÔ THAM”, “VÔ SÂN”, và “VÔ SI” tạm dùng, vốn để qui cho “nội dung” một số hành động cứu giúp kẻ khác của người phàm hướng thiện. Chúng không ám chỉ sự hoàn toàn hết tham, hết sân, hết si, như 3 đức tánh tinh khiết tự nhiên trong một Thánh nhân đã giải thoát, hay trong Phật.

-Nói cách khác, một hành động được gọi là vô tham, vô sân, hay vô si, chỉ là một hành động của người phàm lúc ĐANG hướng thiện. -Nhờ «động cơ» của «3 nhân lành» ấy nhất thời một «phàm nhân» mới ra tay giúp người (tạo thiện nghiệp=kusala kamma). Nghĩa là, 3 từ ngữ vô tham, vô sân, vô si trong Phật học A-tỳ-dạt-ma (Abhidhamma), KHÔNG ám chỉ “dù đang hành động tốt, một mạnh thường quân trong khi làm điều lành ấy, đã hoàn toàn hết tham, hết sân, và hết si, như Đức Phật». -Kính mong được minh bạch ở điểm nầy !

*Vả lại, người noi gương Phật, quyết tâm sống chánh mạng (một phẩm cách đạo đức trong Bát Chánh Đạo), nếu là cư sĩ, thì khi ấy họ vẫn duy trì sinh kế hợp pháp (tiếp tục nghề nghiệp bình thường), thu nhập đúng lẽ đạo cho cá nhân mình (nuôi thân vô hại). Nhưng vì hướng thiện, nên họ vẫn thỉnh thoảng (hoặc thường xuyên) -“chia xẻ một phần tài vật đến kẻ thiếu thốn (=vô tham)”, -“đối xử ôn hòa với xung quanh (=vô sân)”, hay -“tỏ ra sáng suốt trước mộ số hiện tượng hấp dẫn từ cuộc đời (=vô si)”. Và trong khi phát ra hành động thiện ấy, tâm họ nhất thời có thể ở trong trạng thái “vô tham”, “vô sân”, hay “vô si” vậy.

-Khi hiến tặng vật gì cho ai, mà tâm còn tham vật ấy, người ta không thể làm được.

Thử cân nhắc “6 NHÂN” đưa đến hành động nêu trên…để thấy :

<>THAMVÔ THAM đều là «động cơ» của người tạo nghiệp, nhưng có 2 cách :

-Khi tham thì phát ra hành động ích kỷ, bất thiện (akusala kamma), độc ác, có hại đến kẻ khác. Khi Vô tham thì phát ra hành động vị tha, thiện (kusala kamma), vô hại, hữu ích cho kẻ khác.  

*Đối với một người phàm, chưa có bạn lành, không hướng thiện…thì NỘI DUNG của nhân «tham» tất nhiên là XẤU, như đã được trình bày trên đây.

*Nhưng đối với người tuy còn phàm mà có bạn lành, đang hướng thiện…thì NỘI DUNG của nhân «vô tham» tất nhiên là TỐT, và được hiểu ngược lại với tham.

<>Kế đến là SÂNVÔ SÂN. Cả 2 đều là «phản ứng» của NGÃ MẠN, hay biểu lộ mặt trái của THAMVÔ THAM lúc tạo nghiệp, cũng có 2 cách :

-Khi SÂN thì chịu nghịch cảm (akusala vedanā), bất thiện (KHỔ), có thể gây ra nhiều tội lỗi.  -Khi VÔ SÂN thì thuận cảm (kusala vedanā) thiện (VUI),thân tâm hòa bình xung quanh.

*Đối với một người phàm chưa có bạn lành, không hướng thiện…thì NỘI DUNG của nhân «sân» tất nhiên là XẤU, như đã được trình bày.

*Nhưng đối với người còn phàm mà có bạn lành, đang hướng thiện…thì NỘI DUNG của nhân «vô sân», đương nhiên là TỐT, cũng được hiểu như trên.  

<>Sau cùng, SIVÔ SI là 2 tình trạng TỐI SÁNG của TÂM THỨC trong hành động          lúc tạo nghiệp cũng có 2 cách :

-Khi SI thì làm sai, hướng vềTỐI. Thực tại suy đọa, VÔ MINH gia tăng, xa dần sự giác ngộ.   -Khi VÔ SI thì làm đúng, hướng về SÁNG. Thực tại tiến hóa. VÔ MINH giảm, gần cứu cánh.

*Đối với một người phàm chưa có bạn lành, không hướng thiện…thì NỘI DUNG của nhân «si» là XẤU, được trình bày như trước.

*Nhưng đối với người phàm mà có bạn lành, đang hướng thiện…thì NỘI DUNG của nhân «vô si» là TỐT, được hiểu như VÔ THAM, hay như VÔ SÂN vậy. 

<>Chưa kể SI (Moha) là GỐC XẤU của 3 NHÂN ÁC (Akusala hetu). Nếu phá được SI là “hóa giải được cả THAM lẫn SÂN. –Phương pháp hữu hiệu nhất để triệt tiêu ĐỘC SI là, “trung đạo trong giới”, “trung đạo trong định” và “trung đạo trong tuệ”, có nói trong bài trước.

*Đây chính là lý do khi nhớ đến TRUNG ĐẠO, thì người học Phật phải đặt ƯU TIÊN hàng đầu, là TU TẬP để giảm thiểu một cách khoa học cái SI (căn gốc cố hữu của tử sinh luân hồi), từ đó sống tỉnh thức hằng ngày, với «càng nhiều hành động vô si càng tốt» (amoha kamma).

<>Theo VI DIỆU PHÁP (Abhidhamma) trong nhà Phật, thì một «hành động VÔ SI» ám chỉ loại ứng xử có ĐỊNH TÂM soi sáng, như bình tĩnh trước mọi xung đột, có tinh thần độc lập, không bị ảnh hưởng bỡi tranh chấp thị phi, hay biết đối đãi bình đẳng với xung quanh.

Sự tu tập hạnh thanh tịnh nầy, một phàm nhân đang hướng thiện có thể khả dĩ làm được. Do đó, một người có «hành động vô si» không nhất thiết phải là bậc tâm thức đã hết si mê (như Thánh nhân hay Phật), mà chỉ là một người chăm lo GIỮ GIỚI (=lành cho thân), và HÀNH THIỀN (=lành cho tâm).

*Mặt khác, “Bản Sắc Khoa Học trong nhà Phật” cũng giúp cho người đang tu tập, trở thành SÁNG SUỐT một cách TRUNG ĐẠO, xuyên qua cách đối xử hằng ngày, dập tắt được «sự nung nấu» của lòng THAM (=ngã mạn), giảm thiểu được «tật bạo động, đốt cháy» của SÂN HẬN, và duy trì được sự tỉnh táo trước các đối tượng làm cho SI MÊ, nhiều khi rất vi tế !

QUI NẠP :

-Một người có hành vi vô tham (alobha kamma), không nhất thiết phải là người đã chấm dứt toàn bộ lòng tham, nhất là họ còn tham trong danh nghĩa, rằng «mình là kẻ phải sống đạo đức», và ý thức rằng, «hành động tu thân» ấy vốn là để thuần hóa tật THAM.

-Một người có hành vi vô sân (adosa kamma) cũng vậy, họ không nhất thiết phải là người đã chấm dứt toàn bộ sân hận, nhất là bề ngoài họ tỏ ra «biết chế ngự sự nóng giận», và tin rằng, «hành động tu thân» ấy vốn cũng là để giảm thiểu tật xấu, tự mình ĐỐT CHÁY tâm cơ. 

-Một người có hành vi vô si (amoha kamma), cũng không nhất thiết là người đã hoàn toàn hết si mê, rồi «hành động tu thân» ấy, trong chiều sâu, chính là để “giũa mòn”, hay làm mỏng dần dần hậu quả chồng chất của màng vô minh, U-TỐI.

*Mục đích chung của cả ba loại hành động tu thân kể trên, là không trử dưỡng cácÁC TÍNH hay giảm thiểu nghiệp bất thiện, đồng thời làm phát sinh TÁNH HIỀN, và phát triển nghiệp lành trong đời sống hằng ngày, -với nguyện lực của một người MUỐN CÓ nhiều phúc đức (=tham phước). -Nghĩa là, KHOA HỌC TRUNG ĐẠO khuyên chúng ta, trước tiên nên «định hướng lòng tham vào nẻo thiện, đồng thời đưa bản ngã vào ý thức trách nhiệm», luôn luôn nhớ đến 3 pháp NHÂN DUYÊN QUẢ. -Vì sao ?!

<> Vì đối phó với THAM SÂN SI mà không nhờ KHOA HỌC TRUNG ĐẠO, ví chẳng khác nào «một người muốn san bằng một ngọn núi, mà không tùy khả năng, để từ từ mang đất đi nơi khác. Trái lại, người ấy chỉ tìm cách làm cho nó biến mất, trong một thời gian ngắn». -Việc ấy hoàn toàn là tưởng tượng, không thực tế !

-Lời dạy của đức Phật về TRUNG ĐẠO phải được xem như «giáo lý khoa học», bỡi vì nó hữu hiệu trong mỗi trường hợp (dù cho căn cơ bất đồng) để đạt mục đích, chứ không phải là một «phương pháp quảng cáo trước nhiều người». Chúng ta đừng quên rằng “áp dụng chung cho số đông là kỷ luật”, mà «kỷ luật thì bao giờ cũng nghiêm khắc, tương đương với cứng ngắc» !

<>Nhưng Phật giáo nêu “Bản Sắc Khoa Học” để giúp cho từng người nói riêng, hay cho từng chúng sanh nói chung, tuy bất đồng căn cơ, vẫn có thể tạo duyên lành, tu thân tiến hóa…tuần tự giải thoát, biệt nghiệp trong cộng nghiệp…chứ Phật giáo không phải là «kỹ thuật đào tạo hàng loạt thánh nhân theo khuôn mẫu», như các thế lực tà kiến trên thế gian, chuyên lập “cơ xưởng trồng người”, nhồi sọ nhân sinh !

<>Hiền nhân nào thực hành Phật đạo CÓ KẾT QUẢ thì vị ấy biết. Và đã có nhiều bậc phạm hạnh, hằng ngày tu trì bề ngoài rất khắc khổ, nhưng họ vẫn sống an lạc bên trong, 1 cách nghiệm túc và TRUNG ĐẠO. -Người chủ quan nhìn vào bậc PHẠM HẠNH, có khi không nhận ra CHIỀU SÂU, và dễ phê phán lầm. -Xem ra TẬP ĐẾ được khoa học trung đạo trình bày, có vẻ dễ hiểu trên lý thuyết, nhưng dùng NÓ để HÓA GIẢI được TẬP ĐẾ (nhân luân hồi) thì rất khó trong thực hành !

*Hơn nữa, THAM SÂN SI chính là «3 động cơ HIỆN HỮU của con người», gọi chung là «tiềm lực của KIẾP SỐNG phàm tục». TIỀM LỰC đó cần phải được «CHUYỂN HÓA», để «BIẾN NÓ» trở thành «khả năng» tuyệt vời, hướng tới bờ giác ngộ. KIẾP SỐNG ấy một khi đã được chuyển hóa, ví như “chiếc bè hữu hiệu” (ám chỉ THÂN TÂM chứa lòng tham hướng thiện) được gắn liền với cánh bườm Phật giáola-bàn trung đạo, có thể vừa phát quang (đốt đèn “bác-nhã”), vừa vượt khỏi sóng lớn, đem tâm thức vào bờ. -Ai không đủ PHẠM HẠNH mà bồng bộtdẹp bỏ lòng tham và bản ngã” một cách “lý tưởng”, thì sẽ bế tắc !

*Nói tóm lại, một hành giả chưa đủ công phu ba-la-mật, KHÔNG THỂ dùng «phép lạ» tiêu diệt tham sân si ngã-mạn trong thời gian ngắn nhất để thành «Phật», vì «CỰC ĐOAN» ấy trong thực tại chỉ là «chối bỏ dụng cụ hữu hiệu», hay ví như «tự đóng kín con đường thoát hiểm». Và kiếp người thực ra rất ngắn, không «phép lạ» nào…có thể «biến thân tâm nầy», trở thành một đời sống chứa đầy THÁNH THIỆN (vô tham, vô sân, và )một cáchvô hành hữu đạt, để khi chết tâm linh không vướng mắc, hòng TÁI SINH an vui hơn trước !  

<>Liên quan đến CHÂN LÝ hay SỰ THẬT THỨ III :

DIỆT ĐẾ (Nirodha Samudaya Ariya Sacca).

*Theo “A-tỳ-đạt-ma”=VI DIỆU PHÁP (Abhidhamma), thì DIỆT ĐẾ (Nirodha Samudaya Ariya Sacca) dường như là “sự thật tối thượng” (Ariya Sacca), chỉ có trong Thánh nhân nào, đã đạt đến GIẢI THOÁT TAM GIỚI (“A-La-Hán Quả” (Arahattaphala) hay Phật Quả) .-Lúc ấy, sự VÔ MINH (Avijjā) nơi “tâm thức” của các Ngài, đã không còn nữa, hoàn toàn triệt tiêu, tức là THỰC TẠI của THÁNH và PHẬT là “ANH MINH” (Vijjā). Và đối với các Ngài, CÁI gọi là CHU KỲ SINH TỬ LUÂN HỒI (Samsāra) chắc chắn không lập lại.

<>Xin chép lại đoạn Kinh DIỆT ĐẾ (DỨT SINH TỬTHẬT), bằng chữ Pālī như sau :

“Avijjā tveva asesa virāgā nirodhā saṅkhāranirodho. Viññāna nirodhā nāmarūpanirodho. Nāmarūpanirodhā salāyatananirodho. Salāyatananirodhā phassanirodho. Phassanirodhā vedanānirodho. Vedanānirodhā taṇhānirodho. Taṇhānirodhā upādānanirodho. Upādānanirodhā bhavanirodho. Bhavanirodhā jātinirodho. Jātinirodhā jarāmaranaṃ. Sokaparidevadukkha domanassupāyāsā nirujjhanti.”

Bảng thoát dịch Việt ngữ :

“1/VÔ MINH diệt thì HÀNH diệt. 2/Hành diệt thì THỨC diệt. 3/Thức diệt thì DANH SẮC diệt. 4/Danh sắc diệt thì LỤC NHẬP diệt. 5/Lục nhập diệt thì XÚC diệt. 6/Xúc diệt thì THỌ diệt. 7/Thọ diệt thì ÁI diệt. 8/Ái diệt thì THỦ diệt. 9/Thủ diệt thì HỮU diệt. 10/Hữu diệt thì TÁI SINH diệt. 11/Tái sinh diệt thì LÃO BỆNH diệt. 12/Lão bệnh diệt thì TỬ diệt. -Tính cách diệt những thống khổ ấy, lý do là như thế”.

-Nhà Phật gọi phẩm cách DIỆT (Nirodha) nầy là Niết-bàn” (Nibbāna=Nirvāna), viên dung tối thượng, KHÔNG CÓ bất cứ “chứng đắc” nào trong ba cõi luân hồi…có thể so sánh.

Tuy nhiên :

*“DIỆT ĐẾ” là một “danh từ hán-việt” RẤT KHÓ “thông đạt”, -ngay cả với “trình độ Phật học uyên thâm”, -khoan nói đến “hiểu NIẾT-BÀN” chỉ xuyên qua “cách phát biểu nhị biên đối đãi” của ngôn ngữ phàm tình. Và để “ám chỉ” những gì thuộc về “DIỆT ĐẾ” (Nirodha Sacca) hay “NIẾT-BÀN” (Nibbāna), các nhà nghiên cứu đạo Phật xưa nay, trong khi diễn tả…chẳng những đã không dùng xác định, mà còn chẳng ngần ngại “dùng phủ định”, để “nhấn mạnh” rằng “NIẾT-BÀN” hay “DIỆT ĐẾ” không có “tính cách tương đương” với những gì con người tục lụy có thể suy tư, “nghĩ thấu”.

-Những dạng PHỦ ĐỊNH đó là “không tham, không sân, không si, không sanh, không diệt, không tăng, không giảm, không cao, không thấp, không tốt, không xấu, không đến, không đi, không hạnh phúc, không đau khổ…v…v…” -Thậm chí “PHỦ ĐỊNH” vượt qua cả cái khung “chân thiện mỹ” của thế gian, như….KHÔNG TỘI, KHÔNG PHƯỚC, KHÔNG THIỆN, KHÔNG ÁC, KHÔNG CAO, KHÔNG THẤP…-Làm sao kể hết được những “KHÔNG”, “KHÔNG”, và “KHÔNG” “KHÔNG” ấy ?!  

*Sách Phật qui nạp “DIỆT ĐẾ” (Nirodha Sacca)là “NIẾT-BÀN” (Nibbāna=Nirvāna), -nhưng mô tả niết-bàn thì toàn là những nhóm từ đối nghĩa với thực tại thế gian và “siêu hình” (=tưởng tượng hạnh phúc) trên THIÊN GIỚI. Nghĩa là, “khái niệm” về DIỆT ĐẾ trong phàm nhân chúng ta, vốn “không chính xác”. -Mà đã KHÔNG CHÍNH XÁC thì chắc chắn là “KHÔNG THẬT”, dù ĐÓ chỉ là “KHÔNG THẬT” một cách qui ước ! -Thành thử 2 chữ “DIỆT ĐẾ” đối với thực tại một phàm nhân, chỉ là cái CHÂN LÝ triết học (Tattañāna Sacca), chẳng bao giờ “nắm bắt cụ thể” được !

-Như vậy đức Phật nói “DIỆT ĐẾ” đến loài người làm chi ? Chẳng lẽ Ngài nêu ra DIỆT ĐẾ, chỉ để cho chính Ngài hoặc chư Thánh đã giải thoát nghe sao ?! Vả lại, Phật và chư Thánh A-la-hán đã hoàn toàn hết phiền não, thì biết DIỆT ĐẾ không cần thiết !  

-Thật là một tình trạng bế tắc tri kiến !

<>Đây chính là lý do chúng tôi nêu raBản Sắc Khoa Học (Vijjā ) trong đạo Phật”. Vì trước khi bắt đầu thuyết giảng “GIÁO PHÁP THẬM THÂM VI DIỆU” (gambhīra Buddhasāsanā), đưa đến “hiểu biết sự thật” cho con người, bằng bài kinh “CHUYỂN PHÁP LUÂN”, đức Phật đã “long trọng giới thiệu” TRUNG ĐẠO, như một châm ngôn khoa học, kiểu “cách vật, trí tri, thành ý, chánh tâm” trong MINH TRIẾT Phương Đông.

*“CÁCH VẬT” có nghĩa là “hội đủ chi tiết”. “TRÍ TRI” có nghĩa là «nhận thức soi sáng». “THÀNH Ý” có nghĩa là “tư tưởng viên dung”. “CHÁNH TÂM” có nghĩa là “qui nạp sự thật”. Hội đủ 4 yếu tố nầy, là có 4 phương diện “khả dĩ” để «khám phá chính xác vấn đề».

Chúng tôi nhắc lại «MINH TRIẾT Phương Đông» để cung cấp cho người nghiên cứu một số tư tưởng «tương đồng» với đạo Phật, và dựa trên kinh “CHUYỂN PHÁP LUÂN”, như một nguồn THƯ TỊCH đáng tin cậy nhất, để nêu ra “Bản Chất Khoa Học trong nhà Phật”, chứ không dám «cường điệu, chủ quan» ! -Tức là chúng tôi muốn thưa rằng “TRUNG ĐẠO” (Majhima paṭipadā) là “phương pháp” (=khoa học), mà đức Phật đã «thấy trước» và thuyết để lại cho chúng ta…. «ăn khớp» với  MINH TRIẾT Phương Đông.

-Rằng một khi đã sinh làm người phàm, tuy “thân tâm còn mang nặng tham sân si”, nhưng song song với NHU CẦU tiến hóa của nhân loại, con người đã có sẵn “mầm giác ngộ” và “tìềm năng khoa học”. Rồi trước những gì cao thâm, thuộc về siêu hình, hay Phật tính…nếu chúng ta không hiểu thấu, mà biết «khơi dậy» TRUNG ĐẠO rồi phát triển, nương vào Bản Sắc Khoa Học (Vijjā) trong nhà Phật để «nắm bắt»….thì chúng ta vẫn có thể “khai thông được các bế tác” một cách tương đối, tạo duyên “soi sáng” cho trí óc phàm phu.

*Hơn nữa, mặc dù «NIẾT-BÀN» là từ ngữ «thích hợp nhất» để tượng trưng cho CHÂN LÝ hay SỰ THẬT THỨ BA (diệt đế) trong Phật giáo. Nhưng kinh Phật lại nói rõ, «NIẾT-BÀN» không phải là một «CÕI HƯỞNG THỤ» để phàm nhân hướng đến, mong đợi…nên các nhóm từ “phủ định”, dùng diễn tả “niết-bàn” chẳng những đã không “QUI NẠP”, mà còn “PHÂN KỲ” trong khái niệm con người, gián tiếp nói lên tình trạng “vô chuẩn”, bất định… -Rồi để «thích ứng» với tầm hiểu biết phàm phu, người ta chỉ có thể “nhân cách hóa”, hay “cụ thể hóa” NIẾT BÀN, thành một thứ «hạnh phúc nghĩ ra được» (TƯƠNG ĐỐI, NGỤ NGÔN).

-Chẳng hạng như “niết-bàn ví như giờ phút mãn tù của một đại tội phạm, đã khủng bố, giết người”, được cởi hết xiềng xích, trả tự do. Hoặc “niết-bàn ví như giây phút thân thể của một bệnh nhân hết đau đớn, nhờ uống hay đúng cách”. Hay “niết-bàn ví như giờ phút có cứu tinh xuất hiện, chấm dứt sự lo sợ trước các nghịch cảnh mất mạng, đang đe dọa một đám nạn nhân hoàn toàn thất thế, bất lực…v…v…”(?).

Vì sao vẫn là TƯƠNG ĐỐI ?

-Vì “cựu đại tội phạm” kia hết KHỔ trong tù, thì sẽ gặp KHỔ khác sau khi NGOÀI TÙ. -Vì người khỏi BỆNH nầy thì sẽ bị nhiễm bệnh khác…KHI CÒN SỐNG. -Vì các “nạn nhân cộng nghiệp” hết bị ĐE DỌA bỡi nghịch cảnh nầy, thì sẽ đối diện với nghịch cảnh khác…TRONG CÕI CỘNG NGHIỆP đầy tham sân si.

-Nhưng NIẾT-BÀN giải thoát THAM SÂN SI nơi THÂN TÂM Phật thì TOÀN XẢ, không còn bất cứ lậu hoặc nào nữa, không còn bị hạn chế TRONG hay NGOÀI cái khung TÁI KHỔ.

<>Nếu phân tích “nguyên nghĩa” của chữ gốc NIBBᾹNA (=NIRVᾹNA), mà «ký âm» của NÓ, được viết ra «hán việt» là “Niết-Bàn”, thì chúng ta có “NIBBᾹNA” (Pāḷī) hay “NIRVᾹNA” (Saṅskrit), vốn đến từ 2 phần ráp lại, là “NI” và “VNA”. -«NI» có nghĩa là «KHÔNG» (=phủ định). -Còn «VᾹNA» có nghĩa là xiềng xích, gông cùm, gánh nặng (cũng ám chỉ tham, sân, si, thủ chấp, vướng mắc danh sắc).

*Như vậy, theo «nghĩa đen» lẫn «nghĩa bóng» trong tự điển, «NIẾT-BÀN» là trạng thái TỰ DO TUYỆT ĐỐI, bình an toàn xả…tâm không bị ràng buộc bỡi bất cứ cái gì hết. Đó là một THỰC TẠI thuộc về «cảm giác thăng hoa» của tri thức THANH TỊNH và TINH KHIẾT, chứ không phải là một «cảnh giới danh sắc cao sang» để hưởng thụ. -Chúng tôi càng chẳng hiểu tại sao có một số «thiền sư» bảo rằng «Thánh nhân lấy Niết-bàn làm mục tiêu để HƯỚNG ĐẾN». -Còn một số «tu sĩ Phật giáo» khác, thì lại bảo…«Niết-bàn là cảnh cực lạc» ?!

*Chưa kể Phật học cũng nói rõ, có 2 trạng thái TỰ DO (Udīreta), hữu hạn vô hạn. TỰ DO trong tam giới (luân hồi) thì hữu hạn (tương đối, không thể xem «tương đương» với «niết-bàn»). Và “TỰ DO” ngoài tam giới (dứt sinh tử) thì VÔ HẠN (vĩnh viễn, tương đương với PHẬT TÁNH). Đây mới thực sự là TỰ DO VÔ HẠN hay GIẢI THOÁT NIẾT-BÀN.

-Mặt khác, VI DIỆU PHÁP (Abhidhamma) còn «tiết lộ», rằng «Phật có 2 pháp niết bàn, HỮU DƯ niết-bàn, và VÔ DƯ niết-bàn. HỮU DƯ niết-bàn là khi Ngài chưa hết tuổi thọ, sống trong tự tại VÔ THAM, VÔ SÂN, VÔ SI, và TOÀN XẢ với những gì xung quanh, THANH TỊNH giữa thế tục đầy tham sân si, cố chấp. -VÔ DƯ niết-bàn là khi Ngài XẢ «báo thân cuối cùng», lìa trần…chấm dứt hoàn toàn sự luân hồi.

Nghĩa là CHÂN LÝ DIỆT trong TỨ DIỆU ĐẾ ám chỉ cả 2 như sau :

*HỮU DƯ niết-bàn (Supādisesa nibbāna), thì DIỆT ĐẾ tương đương với PHIỀN NÃO TẬN (Ᾱsavakkhaya). Nhưng Phật còn sống, nên Ngài vẫn phải nằm trong cái khung TRUNG ĐẠO, có công phu Ba-la-mật «tiết chế» THÂN TỨ ĐẠI.

*VÔ DƯ NIẾT-BÀN (Anupādisesa nibbāna), thì DIỆT ĐẾ tương đương với  NGŨ UẨN TẬN hay DANH SẮC TẬN (Khandhakkhaya, Rūpamakkhaya), -tức là CỨU CÁNH TUYỆT ĐỐI (vô sinh tử), bất khả thuyết, bất khả tư nghì !  

-Ngoài ra, có một loại Niết-bàn thứ ba, mà rất ít sách Phật giáo nói đến, là «XÁ LỢI NIẾT-BÀN» (Sāri nibbāna). Đó là khi trên mặt đất không còn một ai tin tưởng vào giáo lý khuyến thiện của Phật, thì lúc ấy tất cả «Xá-lợi» của Ngài sẽ tự nhiên biến mất (=NIẾT-BÀN).

Nói tóm lại :

<> Để thuyết minh DIỆT ĐẾ, Bản Sắc Khoa Học trong đạo Phật lại còn “cần thiết” hơn nữa. Vì với «bản sắc» nầy, ĐẠO PHẬT mới hoàn toàn thích hợp, nêu ra «TUYỆT PHÁP» của TRÍ TUỆ, là BÁT-NHÃ (Prajña). Chính BÁT-NHÃ hay “Bản Sắc Khoa Học trong đạo Giác Ngộ” đã giúp cho người học Phật (Ariya puggala) và Bồ-Tát (Bodhisatva) đạt tới giải thoát Niết-bàn, mà không rơi vào CỰC ĐOAN, hướng đến DUY TÂM hay DUY VẬT.

-Ngoài ra, DUY VẬT CỰC ĐOAN còn có cái tên khác là ĐOẠN KIẾN (Uccheda diṭṭhi), -một trong 2 khuynh hướng PHẢN ĐAO ĐỨC, vô cùng nguy hiểm cho sự bình an của nhân loại nói riêng, và của chúng sanh nói chung. -Vì sao ?! -Vì «kẻ đọan kiến» chỉ tin vào SỨC MẠNH VẬT CHẤT và «MÁNH KHÓE TINH THẦN» do lòng THAM biến thành «ÓC THÔNG MINH» để hành động. Họ không tin có luân hồi, không quan tâm đến tội phước, không e-ngại nhân quả báo ứng kiếp nầy (hay kiếp sau).

Họ nghĩ rằng, CHẾT là HẾT, -«tử giả biệt luận» !

-Đối với kẻ đọan kiến, «đạo đức» vốn chỉ là «sách lược» của một số bộ óc «khôn ngoan», dùng mê hoặc đa số thực thà, để khi bị xúc phạm thì nạn nhân (quần chúng) không thẳng tay tiêu diệt đối thủ. Từ đó…người ĐOẠN KIẾN được «yên ổn», tìm cách san bằng chướng ngại.

*Khi quan sát 2 loại TÀ KIẾN (micchā diṭṭhi), là THƯỜNG KIẾN và ĐOẠN KIẾN, chúng ta thấy, –thường kiến thì tin tưởng vào «thần linh bất diệt, đa năng», một cách mù quáng, trở nên SI MÊ, DỊ ĐOAN, CUỒNG TÍN, -đoạn kiến thì không tin vào bất cứ «thần thánh thiêng liêng» nào cả, chỉ ỷ vào vào sức mạnh vật chất, và vào HIỆU LỰC của MÁNH KHÓE, dựa trên TÍNH GIAN XẢO, lừa gạt tối đa…rồi lôi kéo, tổ chức được quần chúng.

-Tuy cả 2 loại tà kiến đều có HẠI cho xã hội. Nhưng nếu so sánh thì «thường kiến» xem ra ít nguy hiểm hơnđoạn kiến.

Vì “người thường kiến” còn biết sợ «thần linh trừng phạt», nên có một số «ĐIỀU XẤU» (gọi là «cấm kỵ»), họ không dám làm. Và trong một chừng mực nào đó, những kẻ «điều khiển quần chúng», có thể dùng lý do «tránh chọc giận thần linh», để «quản lý» họ và bắt buộc họ phải phuc tùng, sống chung với xung quanh.

Trái lại, kẻ đoạn kiến thì tuyệt đối nguy hiểm, vì họ chẳng kiêng kỵ ai cả. Đối với họ, quyền lợi vật chấttrên hết, và “cách đối xử” của họ, bên ngoài dù có ngụy trang đi nữa, nhưng bên trong vẫn chẳng khác nào dã thú. -Người ta còn gọi ĐOẠN KIẾN là VÔ THẦN !

<>Liên quan đến CHÂN LÝ hay SỰ THẬT THỨ IV :

ĐẠO ĐẾ (Dukkha Nirodhagāminī Ariya Sacca)

Nhìn theo góc cạnh tri thức, chúng ta thấy…ĐẠO ĐẾ hay Bát Chánh Đạo (Atthaṅgika magga) vừa là một «lý thuyết phạm hạnh», vừa là một «khoa học giáo dục», có nội dung rất xây dựng trong «văn minh nhân loại», để «quản lý» xã hội vật chất một cách tiến bộ, và «quân bình» vận hành tinh thần một cách sáng suốt…nhằm nâng cao tư cách con người, để thăng hoa mỗi bản thân, đồng thời phục vụ cộng đồng nói riêng, và nhân loại nói chung.

*Phẩm cách đầu tiên của ĐẠO ĐẾ là CHÁNH KIẾN (sammā diṭṭhi). NÓ là ÁNH SÁNG của sự sống, hay NGUỒN GỐC của xây dựng xã hội nhân văn. Đức Phật đã nhấn mạnh nhiều lần rằng, tuy CHÁNH KIẾN chỉ có MỘT, nhưng TÀ KIẾN (micchā diṭṭhi) thì có khá NHIỀU». Các «tôn giáo cuồng tín» hay «chủ nghĩa cực đoan» là những DẠNG si mê khác nhau của TÀ KIẾN. Họhằng xửdụng đường lối ĐỘC ĐOÁN để tồn tại, và xung đột lẫn nhau để trục lợi. Tất cả các DẠNG ấy hợp lại, tạo ra tình trạng xấu, là TÀ KIẾN (micchā diṭṭhi).

*Nếu HOA TRÁI trổ ra từ CHÁNH KIẾN là sự AN LẠC, thì HẬU QUẢ của TÀ KIẾN là chịu đựng KHỔ ĐAU, để cho kiếp sống vận hành trong tối tăm, nghiền nát bình an xã hội, dưới dạng những chiến tranh hay tai họa, do chính con người tà kiến gây ra. –Rồi khi đối diện với tình trạng bế tắc, môt đàng thì vì si mê mà qui cho «THẦN LINH TRỪNG PHẠT», và đàng kia cũng vì si mê mà cho rằng, ấy là«VẬN HÀNH TỰ NHIÊN»…để cả 2 «củng cố» một «thực tại như nhau» vừa TÀ KIẾN, vừa NGU DÂN.

*Đức Phật ra đời ở Ấn-độ cách nay hơn 26 thế kỷ, giữa lúc đất nước nầy đang bị nhận chìm trong «đa thần giáo» (Bà-la-môn), và phân biệt giai cấp trầm trọng. CHÁNH KIẾN đã được Đức Phật NÊU CAO như một ngọn đuốc giữa đêm đen. Ngài đã dùng NÓ để soi sáng trong các ngõ ngách tinh thần, để chỉ rõ cái nhân xấu rất VÔ MINH của TÀ KIẾN.

<>Như trên đã nói, NHÂN XẤU nầy hằng làm cho TÀ KIẾN có 2 loại là thường kiến (sassatadiṭṭhi)và đoạn kiến» (micchedadiṭṭhi). THƯỜNG KIẾN thì nằm trong tôn giáo cuồng tín. CònĐOẠN KIẾNthì nằm trong chủ nghĩa cực đoan, giáo điều bưng bít. Cả hai đã trở thành dụng cụ nhồi sọ, ngu dân mạnh nhất,để một thiểu số cai trị vàkhai thác con người.

*Khi những kẻ cầm quyền trong một nước CHÁNH KIẾN, thì «thể chế» của họ sẽ đem lại đồng thuận, bình an và thịnh vượng cho người dân, tức là CHÍNH TRỊ (Kusala pālanā), hay QUẢN TRỊ nhà nước một cách CHÂN CHÍNH. Nhưng khi những kẻ cầm quyền trong một nướckhông có chánh kiến, hay TÀ KIẾN, thì «thể chế» của họ sẽ vô cùng độc tài, bóc lột người dân không nương tay, BẤT CÔNG xảy ra hằng ngày…gọi là TÀ TRỊ (Akusala pālanā).

*Và sau khi Bậc Toàn Giác (Sammā Sambuddha) nhắm mắt, nhất là trong giai đoạn ĐẠO PHẬT SUY ĐỒI, chánh kiến không còn nữa, thì các thể chế tà trị ấy, lại càng mạnh hơn, tha hồ mạo danh…tự xưng mình là «chính trị», để lừa gạt muôn dân, đánh lừa nhân loại.

<>Nói cách khác, khi NGỌN ĐUỐC CHÁNH KIẾN đã tắt, thì bình an của người dân trong một nước nói riêng, và trên cả thế giới chung, sẽ bị đe dọa…nếu không muốn nói là suy vong, chẳng còn được tôn trọng nữa. Nhà nước TÀ KIẾN chỉ là một «tổ chức» dùng sức mạnh «xâu xé quyền lực», và dùng tiền bạc «mua chuộc sự trung thành» của những phần tử xu thời, rồi áp đặt luật lệ chuyên chính để chà đạp công pháp. Từ đó, bất ổn liên tục xảy ra. Sự sống con người chìm sâu trong khổ cảnh, không ai đủ điều kiện để tố cáo và nói ra giải pháp. Họ cứ đổ bừa cho «thần quyền» hay«tự nhiên», và gọi ấy là «TAI ÁCH», để nuôi dưỡng «THỰC TẠI».

<>Nhắc lại ĐẠO ĐẾ hay Bát Chánh Đạo (Atthaṅgika magga), là phần thứ tư của TỨ DIỆU ĐẾ trong kinh Chuyển Pháp Luân (Dhammacakkappavattana sutta), mà Đức Phât đã thuyết tại vườn Lộc Giả (Isipatanamigadāya), gồm 8 PHẨM CÁCH đưa đến sáng suốt GIÁC NGỘ, là :

 1-CHÁNH KIẾN (Sammā diṭṭhi), thấy biết chân chánh.

 2-CHÁNH TƯ DUY (Sammā saṅkappo), suy nghĩ chân chánh.

 3-CHÁNH NGỮ (Sammā vācā), lời nói chân chánh.

 4-CHÁNH GHIỆP (Sammā kammanto), hành động chân chánh.

5-CHÁNH MẠNG (Sammā ājīvo), nuôi sống chân chánh.

6-CHÁNH TINH TẤN (Sammā vāyāmo), cố gắng hay chuyên cần chân chánh.

7-CHÁNH NIỆM (Sammā saṭi), nhớ biết chân chánh. (=Tỉnh thức)

8-CHÁNH ĐỊNH (Sammā samādhi), nhất tâm hay định thần chân chánh. (thanh tịnh).

Lược giải :

                                                       1-Chánh kiến :

a/Thấy biết THỰC TẠI đang chịu đựng các hiện tượng, các pháp hành (xuyên qua 6 giác quan) biến đổi không ngừng (vô thường), nhị biên thuận nghịch, vui khổ lẫn lộn, liên hoàn hoán vị, vừa thỏa mãn vừa bất mãn. THỰC TẠI tạm gọi là HIỆN HỮU, chỉ vừa mới bắt đầu đã ngấm ngầm biến đổi, để trở thành KHÔNG (suññatā). «HIỆN HỮU» chẳng bao giờ kéo dài, theo ý muốn của bất kỳ ai. Chịu đựng thăng trầm như thế gọi là “DUKKHᾹ”.

b/Thấy biết NGUYÊN NHÂN của chịu đưng THỰC TẠI, tức là các hiện tượng, các pháp hành (xuyên qua 6 giác quan) vốn có NGUỒN GỐC (Samudaya) từ xưa. Nguồn gốc ấy chính là ÁI DỤC (taṇhā), hay vô minh (avijjā) thèm khát (Rāga=tham=lobha), lôi kéo tràn ngập không ngừng nghỉ (DUKKHA SAMUDAYA) trong vận hành trước, xuyên qua bao nhiêu kiếp sống. 

c/Thấy biết CÓ thực trạng hết ái dục là Niết Bàn (Nibbāna), phẩm cách TOÀN XẢ (Upekkhā), giải thoát khỏi tất cả phiền não, triệt tiêu luân hồi, diệt khổ. (DUKKHA NIRODHA).

d/Thấy biết con đường chấm dứt ái dục (dukkha nirodha gāminī), với 8 CHI TIẾN HÓA (Atthaṅgika), đưa đến THANH TỊNH GIỚI (Sīla Visuddhi), THANH TỊNH TÂM (Citta Visuddhi), THANH TỊNH TRI KIẾN (Diṭṭhi Visuddhi=Paññā). Ấy là BÁT CHÁNH ĐẠO (Atthaṅgika magga).

<>Tưởng cũng nên thật khách quan, mà nói thêm rằng «CHÁNH KIẾN không nhất thiết chỉ làm tín đồ đạo Phật là chắc chắn CÓ được». Vì CHÁNH KIẾN trong nhà Phật vốn là nội dung của phẩm hạnh, là hoa trái của GIÁC NGỘ, và đồng thời cũng là HIỆU LỰC của TRUNG ĐẠO, do chư Phật thuyết minh, chứ không phải do thế gian «tấn phong».

*Mặc dù có nhiều kinh sách Phật học cho rằng «Thánh Nhân đã hoàn toàn giải thoát, thì luôn luôn có chánh kiến», nhưng những tài liệu ấy không có chỗ nào ấn định «một người phàm, hễ gia nhập đạo Phật, hay nhận lễ qui y tam bảo là tự nhiên có chánh kiến».

*Nói cách khác, CHÁNH KIẾN, hay sự THANH TỊNH SÁNG SUỐT, rất có thể được phát hiện ở những danh nhân ngoài đạo Phật, hoặc cũng tìm thấy nơi một số NGƯỜI HIỀN thuộc các nguồn văn hóa (hay tôn giáo) khác. Và cụm từ «văn hóa» (hay tôn giáo) khác ở đây, dĩ nhiên ám chỉ một quan niệm sống có thần linh hướng dẫn, chứ không «ám chỉ» cái nguồn gốc lành mạnh của «anh minh tri thức» (=CHÁNH KIẾN), phát ra từ TÂM ĐỨC con người.

-Xem ra, trong giới các chuyên gia khoa học lý hóa TÂY PHƯƠNG, chúng ta có thể thỉnh thoảng, hay thường gặp những nhân vật sống theo «CHÁNH KIẾN».

                                                      2-Chánh tư duy :

a/Thường xuyên suy nghĩ về PHÁP HÀNH XA LÌA ÁI DỤC. (Alobha kamma)

b/Thường xuyên suy nghĩ về KHÔNG LÀM HẠI CHÚNG SANH. (Adosa kamma=Avyākata).

c/Thường xuyên suy nghĩ về THANH LỌC và SOI SÁNG TINH THẦN (Amoha kamma)

d/Thường xuyên suy nghĩ về pháp KHÔNG DÍNH MẮC, vô chấp, XẢ (Upekkhā kamma).

                                                    3- Chánh ngữ :

                           a/Luôn luôn nói thật, không nói dối, nói vô hại.

                           b/Luôn luôn nói đoàn kết, không đâm thọc, không hai lưỡi.

                           c/Luôn luôn nói nhã nhặn, không thô tục, không cộc cằn, không châm chích.

                           d/Luôn luôn nói điều thực tế, không hoang đường, mê tín, dị đoan, vô ích.

                                                   4-Chánh nghiệp (hành động vô hại) :

                                 a/Không trực tiếp hay gián tiếp tham gia sát sinh,

                                 b/Không trực tiếp hay gián tiếp tham gia trộm cắp,

                                 c/Không trực tiếp hay gián tiếp tham gia tà dâm,

                                 d/Không trực tiếp hay gián tiếp tham gia hành hạ sinh vật.

                                                   5-Chánh mạng (sinh kế lành mạnh) :

            a/Không tà kiến, không chủ trương ngu dân, không núp bóng thần linh để nuôi mạng.

            b/Không trực tiếp hay gián tiếp buôn bán độc dược, võ khí, chất say, không tổ chức cá độ (đấu võ, đua ngựa, đá gà..v…v…) để nuôi mạng.

            c/Không mê tín, không xem bói, làm mai, nịnh bợ, bày mưu đấu tranh, đánh trận, gây thù hận rồi làm thầy kiện, trung gian chứa điếm, mở sòng bạc để nuôi mạng,

            d/Không làm không khuyến khích (hay đồng lõa) trong việc chăn nuôi thú vật, cung cấp trên thị trường, hay cho các lò sát sinh, để nuôi mạng.

          6-Chánh tinh tấn (=chuyên cần)  :

 a/Cố gắng chế ngự ngũ căn (túc 5 giác quan mắt, tai, mũi, lưỡi, thân).

 b/Cố gắng triệt tiêu ác ý, phát sinh ở tư tưởng, khi 5 căn tiếp xúc với 5 trần. 

 c/Cố gắng an trútrong chánh thiền. Thanh tịnh an chỉ (định) rồi Quán (minh sát).

 d/Cố gắng gìn giữ giới hạnh,của 1 trong 2 hạng người noi gương Phật (xuất gia hay cư sĩ).

                                                    7-Chánh niệm (sống theo Tứ Niệm Xứ) :

                                         a/Nhớ biết thực tại THÂN trong thân, NIỆM THÂN.

                                        b/Nhớ biết thực tại THỌ trong thọ, NIỆM THỌ.

                                        c/Nhớ biết thực tại TÂM trong tâm, NIỆM TÂM.

                                        d/Nhớ biết thực tại PHÁP trong pháp. NIỆM PHÁP.

                                     8-Chánh định (=nhất tâm an trú đề mục thanh tịnh) :

                a/Nhất tâm (=toàn định) để ý thức vắng lặng, vượt tầm, tứ, hỉ, và lạc. Tâm chấm dứt lang thang trong vô minh (avijjā), cách ly TRẦN CẢNH (sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp).

                b/Nhất tâm (=toàn định) để ý thức không vướng các quả thiền.

                c/Nhất tâm (=toàn định) để ý thức chỉ hướng đến pháp xả và thánh đạo.

                d/Nhất tâm (=toàn định) để ý thức “đồng nhất” với“Sát-Na Niết Bàn”.

<>Và nếu nói về “TÍNH HỢP LÝ” (takkasattha), thì Bát Chánh Đạo hay CHÂN LÝ THỨ IV nầy, có một tương quan “NHÂN QUẢ LIÊN HOÀN” rất khoa học. Và đó là sự soi sáng sâu sắc, giúp người học Phật “xác nhận được” Bát Chánh Đạo cũng là BÁT THÁNH ĐẠO.  

TÍNH HỢP LÝ ấy là :

*Khi một người “không thấy biết đúng” hay không CHÁNH KIẾN (chi thứ nhất), thì “không thể suy nghĩ đúnghay có CHÁNH TƯ DUY (chi thứ hai) được. *Và khi một người “không suy nghĩ đúng” hay không CHÁNH TƯ DUY (chi thứ hai), thì “không thể phát ngôn đúng” hay có CHÁNH NGỮ (chi thứ ba) được. *Cứ thế tiếp tục cho đến “chi thứ bảy” và “chi thứ tám”, liên hệ đến phàm nhân. -Rằng khi một người phàm không có CHÁNH NIỆM (chi thứ bảy), thì không thể có CHÁNH ĐỊNH (chi thứ tám) được.

*Còn nói về “NHÂN QUẢ LIÊN HOÀN” nêu ra ở đây, thì ám chỉ chi đạo thứ tám (CHÁNH ĐỊNH) vừa là HIỆU QUẢ của chi thứ bảy (CHÁNH NIỆM), vừa là TIỀN ĐỀ của chi thứ nhất (CHÁNH KIẾN). -Rằng “nếu một người không CHÁNH ĐỊNH, thì hoàn toàn chưa đủ CHÁNH NIỆM (chi thứ bảy) và tất nhiên cũng rất khó có CHÁNH KIẾN (chi thứ nhất).

*Nhưng đối với THÁNH NHÂN, thì CHÁNH NIỆM (chi thứ bảy) và CHÁNH ĐỊNH (chi thứ tám) của các Ngài đã viên dung, hùng hậu, tức là đầy đủ BA-LA-MẬT (công phu tối thượng). Các Ngài sống hằng ngày trong BÁT-NHÃ hay CHÁNH KIẾN (chi thứ nhất), nên những phẩm cách thanh tịnh tiếp theo (trong Bát Chánh Đạo), như chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, và chánh tinh tấn…vốn luôn luôn đồng bộ.

<>Đến đây, chúng tôi xin mạn phép vắn tắc, không dài dòng, vì Bát Chánh Đạo đã có khá nhiều sách Phật học nói đến từ xưa đến nay, một cách rộng rãi.

-Vã lại, TRỌNG TÂM của “bài thứ 3” nầy là “Bản Sắc Khoa Học trong Phật giáo” liên quan đến TỨ DIỆU ĐẾ, vừa được chúng tôi cố gắng trình bày theo khả năng của mình. Nếu có gì sơ sót, kính mong chư thiện hữu trí thức bổ túc.

<>Nói tóm lại, nhờ “BẢN SẮC KHOA HỌC ” hay nhờ phẩm cách linh động tuyệt vời của BÁT-NHÃ (Prajña) trong nhà Phật, mà “Bậc Toàn Giác” (Sammā Sambuddha) đã thấy rõ và đầy đủ  CHIỀU SÂU của “bộ máy luân hồi” và tìm ra GIẢI PHÁP chấm dứt tử sinh, giúp chúng hữu tình tu thân thoát KHỔ.

———

Một mai rơi lại “luân hồi cũ”

Mới biết ngày xưa “pháp học lầm”!

——————————–

(Tuệ Lạc ghi lại tri kiến phát sinh nhờ CHỈ và QUÁN trong mùa “tịnh thất” 2021 tại Pháp)

Laisser un commentaire