GIÁO DỤC PHẬT GIÁO và DUY TRÌ HÒA BÌNH.

Cư sĩ Tuệ Lạc trình bày bằng Pháp ngữ cũng như Anh ngữ tại

DIỄN ĐÀN QUỐC TẾ LẦN I

do VIỆN PHẬT HỌC LINH SƠN Vitry tổ chức, với hơn 10 quốc gia Phật giáo tham dự*, vào các ngày 2 và 3 tháng 11 năm 2019. Sau đây là bản dịch Việt.

————–

Nam mô Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

-Kính bạch Hòa thượng Pasadika, Viện trưởng Viện Phật Học LS Vitry.

-Kính bạch Hòa thượng Dhammratana, Tổng giám đốc Viện Phật Học.

-Kính bạch chư tôn Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức, Tăng Ni.

-Khính thưa quí vị Giáo sư, Học giả, Trí thức, Văn sĩ, chuyên gia nghiên cứu, trong cũng như ngoài đạo Phật.

-Kính thưa quí ông, quí bà, cùng toàn thể thính chúng, thân hữu.

Tôi rất hân hạnh được tham dự DIỄN ĐÀN QUỐC TẾ nầy, để phát biểu ý kiến về chủ đề, xin tạm dịch là “Giáo dục Phật Giáo và sự duy trì hòa bình cho nhân loại”.

Tôi thường tự hỏi «Chỉ nhờ vào giáo dục Phật giáo thôi, hòa bình trên thế giới có thể được duy trì chăng?».

Tôi không tin hệ thống giáo dục nói chung, hệ thống giáo dục Phật giáo nói riêng ở HIỆN TẠI, có thể sản xuất ra những phần tử tốt và cần thiết, cho sự duy trì bình an trong xã hội. Nhưng tôi vẫn hy vọng rằng, chúng ta có thể tổ chức những cuộc gặp gỡ, hội thảo, những bàn tròn tham khảo, và những buổi thuyết trình về đề tài nầy, để đối thoại, trao đổi ý kiến…may ra sau cùng chúng ta có thể đạt đến một số «đồng thuận», để thí nghiệm trên thực tế. Đây chính là lý do mà tôi xin phép cống hiến một bài phân tích khiêm nhượng, và một ít đề nghị chân thành nầy trước quí vị hôm nay.

Trước tiên, chúng ta thử tìm hiểu «Thế nào là giáo dục Phật giáo trong hiện tại ?» và “Thế nào là giáo dục theo cách của Đức Phật thời nguyên thủy”. Rồi sau đó chúng ta sẽ tùy tiện qui nạp, xem công tác nầy ngày nay có thể thi hành và đóng góp thực sự vào việc duy trì bình an trong đời sống hằng ngày chăng (?).

A.-«GIÁO DỤC PHẬT GIÁO».

Để tôn trọng ý nghĩa thông thường của bốn chữ «GIÁO DỤC PHẬT GIÁO», chúng ta dĩ nhiên vẫn áp dụng một số nguyên tắc đang cập nhật, thuộc về «khoa học giáo huấn hiện đại», không thể tách rời lý thuyết (hay hình thức), nhưng CẦN THIẾT NHẤT  là chúng ta phải đặc biệt chú trọng đến cái «hiệu lực cuối cùng» của nó, tức là «chiều sâu» của GIÁO DỤC TÂM LINH.

Tôi cố ý nhấn mạnh nhóm từ «hiệu lực cuối cùng» hay «chiều sâu» (viết trong ngoặc kép) của GIÁO DỤC TÂM LINH, để nói lên rằng GIÁ TRỊ TINH THẦN chính là nòng cốt, và giá trị BỀ NGOÀI (=vật chất) chỉ là thứ yếu ! Nghĩa là làm sao để «GIÁO DỤC PHẬT GIÁO» có thể đào tạo một hay nhiều người trở thành thiện nhân trong tư cách cũng như trong tư tưởng. Rồi hai phẩm cách đó sẽ chứng thật rằng họ đã được «đạo Phật giáo dục» đầy đủ.

Tất cả lời dạy của Đức Phật luôn luôn căn cứ trên đức hạnh, và cốt lõi của đức hạnh phải được bộc lộ, do sự thuần thục giữ giới lành ở thân cũng như ở tâm. Một Phật tử thuần thành thì đương nhiên sống không thể gây phương hại đến chúng sanh khác.

Chúng ta phải quan sát và thấy rằng «chương trình giáo dục nói chung, hiện nay nghiêng hẳn về thăng tiến thế gian», vốn luôn luôn hướng về mục tiêu vật chất (hay hình thức), để tiếp theo chúng ta “phối hợp như thế nào” cho GIÁO DỤC PHẬT GIÁO, phải thường xuyên được dẫn đạo bỡi THANH TỊNH TINH THẦN. Từ đó, cách sống của một người thuần thành trong đạo Phật, phải là biểu lộ của «văn hóa tâm linh» đã được Đức Phật vạch ra lúc Ngài còn sinh tiền. Một tâm thức thanh cao bao giờ cũng là «hoa trái» của sự lành mạnh hóa của THÂN và TÂM. Thân đóng vai phụ, tâm đóng vai chính.

GIÁO DỤC trong ĐẠO PHẬT cũng không cần đến sự hy sinh thân xác hay khổ hạnh. Vì Đức Phật đã trải qua một cách cùng cực và vô ích trong lãnh vực nầy. Cái «đặc tính tương sinh» (=xã hội) nòng cốt trong GIÁO DỤC PHẬT GIÁO, là trở thành «sự sống chẳng trục lợi trên kẻ khác» hay «không khai thác đồng loại».

Thế nhưng đã từ lâu, Phật giáo từng bị một phần nhân loại hiểu lầm, diễn dịch sai lạc, khi kết luận đạo Phật là tôn giáo của «duy linh tuyệt đối», hay tôn giáo của «tín điều», hoặc tôn giáo của «nghi lễ» với các hình thức cúng bái được xem là sinh hoạt của tâm linh. Và thỉnh thoảng cũng có không ít người nghĩ rằng, «đạo Phật là tôn giáo của sự thụ động», hay đơn giản «đạo Phật là tôn giáo của nghệ thuật an nhiên, thoát tục», như «ZEN» ở Nhật chẳng hạng, -hoặc «đạo Phật là tôn giáo của cảnh giới huyền bí», như «MẬT TÔNG» (Tantrisme) ở Tây-tạng…v…v…

Đức Phật khi còn tại thế, đã khuyến khích những ai theo Ngài, nên thường xuyên phát triển toàn diện con người, nhất là TÂM HẠNH. Đó chính là khả năng giúp hóa giải đa số các chịu đựng, các xung đột, nhắm vào hóa giải các đau khổ tinh thần nơi mỗi cá nhân, để sau cùng kẻ tu Phật có thể đạt tới cứu cánh (hay Phật tánh), bằng chính cố gắng của mình. Nhưng người ta đã hiểu lầm, chỉ nhớ đến Phật giáo qua các khía cạnh tiêu cực, và đóng khung Phật giáo trong một số giáo điều, cố chấp, làm cho hầu hết NÉT TÍCH CỰC của đạo Phật bị che khuất. Kết quả là hình ảnh của đạo Phật trở thành đa dạng, mất thăng bằng, như ngày nay.

THAM (lobha) SÂN (dosa) và SI (moha) là ba «nhược điểm cố hữu» trong thân thể con người. Nhưng vạn vật đều có «pháp đối trị» của NÓ, như «nguyên tắc nhị biên» (dualité) hằng xác nhận. Mỗi người tu Phật phải phát triển MẶT TỐT, đồng thời «canh tác» MẶT XẤU…để làm bộc lộ những phẩm tính xứng đáng, và tiêu trừ các lỗi lầm. Đây là mục đích của GIÁO DỤC ĐẠO PHẬT !

Kinh Kālāma, một bài giảng của Đức Phật, thuộc Tăng Chi Bộ (Aṅguttara nikāya), mà cả hai trường phái Nam truyền (=Theravada) lẫn Bắc truyền (=Mahāyana) đều thường nhắc đến như một «hiến chương» của sự «tự do tầm đạo» thuật lại rằng :

«Một thời, Đức Phật cùng chư đệ tử du hành ngang qua làng Kesaputta, và được dân chúng địa phương đón chào. Dân làng Kesaputta còn có tên là «bộ tộc Kālāma», bèn yêu cầu Phật khuyên họ phải làm sao, khi họ nghe những đạo sĩ đến đó trước, cứ đề cao giáo lý của mình, rồi chê bai học thuyết của đạo khác…

Để đáp lại, Đức Phật đã nói một bài pháp, mệnh danh là «Cách bước vào Pháp bảo» hay «Lời khuyên dành cho những người chưa có niềm tin, đang hoang mang trước những rao giảng cạnh tranh».

(Ngành khảo cổ ngày nay cho rằng, chỗ Đức Phật thuyết bài Pháp nầy hiện tại có tên là “Kesariya”, nước Ấn-độ. Ở đó còn lưu lại một Tháp kỷ niệm (Stupa).

Những điểm chính mà Phật đã thuyết cho dân Kālāma nghe như sau :

*Đừng vội tin những gì đã từng nghe và được lập lại (anussava).

*Đừng vội tin cái được gọi là «truyền thống» (paramparā).

*Đừng vội tin theo dư luận (itikirā).

*Đừng vội tin các điều nằm trong văn bản (piṭaka-sampadāna).

*Đừng vội tin sự phỏng đoán (takka-hetu).

*Đừng vội tin cái gọi là “châm ngôn” (naya-hetu).

*Đừng vội tin điều hợp lý trên bề mặt (ākāra-parivitakka).

*Đừng vội tin theo khuynh hướng cho rằng “ấy là điều đã được nhiều người nhìn nhận” (diṭṭhi-nij jhān-akkh-antiyā).

*Đừng vội tin vì cảm thấy “điều ấy rất có thể” (bhabba-rūpatāya).

*Đừng vội tin vì đó là thầy tổ (samaṇo no garū).

<>Nầy các người Kālāmas, khi chính các bạn xác chứng rằng, “những điều nầy tốt, không ai có thể chê trách, những điều ấy hằng được các bậc thiện trí thức khen ngợi, nếu đem ra áp dụng thì mang lại lợi ích và hạnh phúc” lúc đó quí vị hãy tin và ghi nhớ trong tâm…để thực hành.

Rõ ràng NỘI DUNG của bài kinh Kālāma, là khuyên người đời tránh xa các tình trạng cực đoan, cuồng tín, giáo điều, và hẹp hòi cố chấp.

Nội dung ấy đặt nền tảng trên trải nghiệm thực tế, và “xác chứng bằng kết quả tiến hóa”, để giải thoát các giáo điều và ngu tín, vốn chỉ là “sáng tác” của một số “tư tưởng gia”, quen “suy nghĩ phóng túng”.

Đức Phật, xuyên suốt 45 năm trường, cho đến giờ phút nhắm mắt, đã không ngừng di chuyển từ nơi nầy đến nơi khác, để GIÁO DỤC những thính giả của Ngài…bằng hành động thực tế và bằng tình thương. Ngài không phân biệt “đối tượng” thuộc tình trạng nào trong xã hội. Phật đã làm cho nhiều cá nhân trở thành tiến hóa, sống với tinh thần cởi mở và có hành vi cao thượng.

Nói cách khác, là Đức Phật đã dùng trọn cuộc đời của Ngài, để gieo rắc những “hạt lành” trong tâm trí người nghe, chỉ với mục đích cải thiệnsoi sáng. Ngài không chờ đợi một lợi lộc, danh tiếng, hay đáp ơn nào cả. Đồng thời, Ngài luôn luôn tự thân làm gương mẫu, GƯƠNG MẪU của một bậc đã “hoàn toàn tỉnh giác”, biết rõ vạn pháp.

Ngày nay, mỗi quốc gia đều có một “Bộ Giáo Dục”, mỗi tổ chức hay tôn gáo cũng đều có một “bộ phận”, được giao công tác “hướng dẫn”, “đào tạo”, và “sản xuất” những “phần tử tốt”, để đóng vai “công dân gương mẫu”, “hội viên dấn thân”, “đoàn quân bác ái”, và “những nhà hòa bình”…Nhưng đáng tiếc thay, là HẠNH PHÚC con người và HÒA BINH nhân loại, đã trở nên mỗi ngày một trở thành  mong manh. Chúng ta khoan nói đến bốn chữ “ổn định lâu dài” !

Tôi nghĩ rằng Đức Phật đã không “đốt giai đoạn”. Mỗi khi người bất hạnh đến gặp Phật với khó khăn gì, thì Ngài trước tiên giúp họ giải quyết khó khăn thực tế ấy trước. -Như thế gian thường nói “bụng đói thì chẳng làm gì được”. Ngài luôn luôn giúp họ “giải quyết” cái khó khăn trước mặt bằng “tri thức giải thoát” của một vị Phật, chứ không phải Ngài “trị bệnh tâm lý”, như kiểu nhiều kẻ phàm phu vội vàng lầm tưởng !

Tôi cũng tin rằng Đức Phật ĐÃ KHÔNG khuyên những người đang chết đói hãy “ngồi xuống tham thiền”. Trong trường hợp nầy, Ngài dĩ nhiên chia sớt vật thực, hay khuyến khích họ kiếm cái gì lành mạnh để ăn, và cần sống tích cực hơn, nhất là siêng năng làm việc một cách hợp pháp. Ngài không ngừng tỏa lòng từ bi đến những kẻ đói khát, đồng thời thuyết minh hậu quả sa đọa của sự trộm cắp.

Ngài cũng tán dương nghiệp lành của tinh thầnrộng lượng, thân hữu, biết chia xẻ. Nghĩa là, Đức Phật không những dùng giáo lý soi sáng thành phần sống trong bất hạnh, mà Ngài  còn khuyến khích những người giàu nói chung, và các hàng “Phật tử khá giả” nói riêng, nên bố thí hay giúp đỡ kẻ khốn khổ, một cách bất vụ lợi, không vướng mắc !

Bố thí hay giúp đỡ kẻ khốn khổ một cách bất vụ lợi, chẳng vướng mắc” ở đây không ám chỉ duy nhất là sự chia sớt phương tiện sống, mà còn bao gồm các phục vụ xã hội, hướng đến những kẻ kém may mắn giữa cuộc đời, với lòng tôn trọngđức tính bác ái.

Nghĩa là “Hoa trái” của GIÁO DỤC PHẬT GIÁO sẽ làm xuất hiện những bàn tay phục vụ nhân sinh với CHÁNH KIẾN.

B.-DUY TRÌ BÌNH AN.

Phần thứ hai của bài tham luận nói về “GIÁO DỤC PHẬT GIÁO” nầy nhắc đến “hiệu quả”  DUY TRÌ HẠNH PHÚC và HÒA BÌNH trong sự sống.

Hiệu quả nầy chứng minh cái khả năng GIÁO DỤC của ĐẠO PHẬT sẽ mang lại các đóng góp thực tế trong đời sống hằng ngày, xuyên qua các lĩnh vực sinh hoạt chung, như gia đình, xã hội, xứ sở, quốc tế, và sau cùng là toàn cầu.

Một người đã được đạo Phật giáo dục đầy đủ”, và có CHÁNH KIẾN…thì không bao giờ vô ý thức trước SỰ THẬT TƯƠNG SINH hay CHÂN LÝ NHÂN DUYÊN (Paṭicca samuppāda), luôn luôn hiện hữu một cách tùy thuộc (hay tương tác) trong sự sống. Từ đó suy ra, mục đích chính của GIÁO DỤC trong ĐẠO PHẬT là cải thiện tinh thần của con người. Nếu bỏ qua ƯU TIÊN nầy thì “giáo dục” sẽ không còn hiệu quả đóng góp vào bình an nhân loại.

CHÁNH KIẾN hằng giúp mỗi cá nhân nuôi dưỡng Ý THỨC CỘNG NGHIỆP, liên đới trong cuộc đời. Họ quan niệm rằng “một người được sống đầy đủ trong kiếp sống nầy, là nhờ ở kiếp trước, chính người ấy đã gieo trồng nghiêp lành, và hiện tại chỉ là gặt hái kết quả”. Còn một người vì nghiệp xấu quá khứ, mà hiện tại có đời sống thiếu thốn, thấp kém…cũng nhờ CHÁNH KIẾN mà tự biết rằng “Ấy là hậu quả của hành động do ta, bây giờ ta phải vui vẻ chấp nhận và ôn hòa cải thiện, để sống lành mạnh và siêng năng, ta không nên ganh ghét kẻ khác may mắn hơn mình, thì tâm ta sẽ an bình trong hiện tại, và có đời sống tốt về sau”.

CHÁNH KIẾN thúc đẩy con người chia xẻ một phần phương tiện sống của mình cho người khác, một cách chân thànhkính trọng, để họ tiếp tục có phước trong các kiếp sau. CHÁNH KIẾN cũng làm cho con người can đãm đối diện mọi trở ngại. Đó là một đặc tính nhân văn rất khoa học, luôn luôn được đề cao trong đạo Phật. Người có CHÁNH KIẾN như thế, thì có thể hòa nhập vào cộng đồng xã hội rất dễ dàng !

Trong lãnh vực chánh trị cũng vậy, một nhà lãnh đạo hay công chức các cấp nhà nước…khi có CHÁNH KIẾN (theo đạo Phật), thì không lạm dụng “quyền lực” hoặc “ưu thế” của mình, để tham nhũng hay hà hiếp dân lành. Vì họ luôn luôn tự ý thức rằng “địa vị của ta trong hiện tại không phải do phát sinh ngẫu nhiên, mà là hậu quả từ “hạnh kiểm tốt” của chính ta trong kiếp trước.

Từ đó, một công chức có CHÁNH KIẾN, không ỷ lạicố gắng quản trị hành chánh một cách thanh liêm, chân thành…nhằm làm tốt cái “bổn phận cầm quyền” của mình, hay duy trì phúc đức cho bản thân, đồng thời phát triển xã hội, cộng đồng, tạo bình an chung.

Nếu là một “Phật tử”, mỗi người hãy tự xem cái “tôi” của mình là một mảnh đất, và những Phật ngôn là các “dụng cụ canh nông”, để “canh tác tối đa” mảnh đất ấy, đồng thời “cô lập” và “lành hóa” tất cả cỏ độc, hầu gieo trồng đầy đủ các “thực vật hữu ích”, thích hợp cho sự nâng cao sức sống của mảnh đất. Mục đích là làm sao giảm thiểu tình trạng vô dụng của “mảnh đất gọi là tôi” ấy.

Một cái “tôi” phàm tục mà tự nhiên hoàn toàn thì không bao giờ có trên thế gian nầy, khỏi mất thời gian tìm kiếm. Do đó, không nên dựa vào thuyết “vô ngã” mà chúng ta cực đoan phủ nhận cái “tôi thực tại” một cách toàn diện và tuyệt đối.

Nhưng nhờ CHÁNH KIẾN chúng ta chỉ cần dứt khoát “dẹp đi” cái “tôi ích kỷ”, và biết “giữ lại” cái “tôi tử tế”, cái “tôi sáng suốt” và cái “tôi trách nhiệm”. Nhất là cái “TÔI” nầy đã được thấm nhuần giáo lý về “Ý THỨC CỘNG NGHIỆP” trong nhà Phật. Cái “TÔI” ấy đương nhiên thường xuyên quan niệm rằng “sự bình an của một người hôm nay luôn luôn tùy vào sự bình an của kẻ khác”. Hay “sự đau khổ trước mắt của một người không thể không ảnh hưởng đến một hay nhiều kẻ khác”. Luật TƯƠNG TÁC vốn là CHÂN LÝ muôn đời.

Vì không có một cõi sống nào được thành lập bỡi chỉ một sinh vật, mà trái lại nó là “kết quả tập hợp” của hai đơn vị sinh vật trở lên. Tất cả đang sống và cần thiết lẫn nhau !

Trong học đường, đã đến lúc phải giảng dạy một cách giản dị, và chứng minh cho toàn thể tuổi trẻ biết rằng, cái áo các em đang mặc trên người, không đơn giản chỉ là «có tiền mua, hiện hữu». -Mà nó hiện hữu là do một số đông người trong xã hội, đã trực tiếp hay gián tiếp tạo ra (Cộng nghiệp).

Hãy nhắc lại tiến trình làm việc, cho các em nghe, bắt đầu từ người sản xuất vật liệu căn bản (như trồng cây bông vải chẳng hạng), đến người thu hoạch kéo nó ra sợi, rồi người thợ dệt, thợ nhuộm màu với óc sáng tạo, trình bày những hoa văn xinh đẹp, rồi thợ cắt may, thợ ũi cho thẳng nếp, thợ bỏ từng chiếc áo vào bao, giao cho nhân viên bảo quản giữ kho, và nhân công tập hợp thành những «kiện hàng», chuyển qua phu khuân vát đưa lên xe, cho tài xế chuyên chở…v…v….Sau cùng là đến nhân viên chuyên môn trong việc chưng dọn mặt hàng.

Tất cả phải trải qua khá nhiều “khâu lao động”, lắm khi rất vất vả. Nhờ thế cái áo mới có cơ hội xuất hiện trong quầy hàng siêu thị ở ngoài chợ, hay nói chung là trên thương trường, để má em mua về cho em mặc.

Chưa kể tờ giấy bạc và giá trị của nó, mà mọi người dùng (như vật trung gian) để mua bán hằng ngày, cũng không phải chỉ do một người (biệt nghiệp) làm ra, mà do rất nhiều người (cộng nghiệp !) trong “chuỗi xã hội lao động dây chuyền”.

-Và câu chuyện cái áo chỉ là một trong muôn ngàn câu chuyện, nói về sự hiện hữu của một hay nhiều sản phẩm, đóng góp vào sự sống chung của loài người. Nhưng hầu hết những người mặc quần áo, cứ tưởng lầm rằng đó là sự sống riêng !

Và vì tư duy «sống riêng» hẹp hòi như thế, nên ai cũng cho là «ta sống, ta có việc làm, ta có lương (hay ta có của), là ta độc lập, ta không cần đến ai, ta không phải biết ơn ai cả». (?!)

Người tiêu thụ đừng quên rằng «ta có lương» hay «ta có của», cũng là do xã hội trực tiếp hay gián tiếp ban cho ta. Chớ biện luận một cách cô lập «lương là sự đền bù sức lao động của riêng ta» hay «của cải là kết quả của mồ hôi nước mắt do riêng ta, hay riêng ông cha ta đổ ra, và cái gì ta «làm chủ», không liên quan đến ai cả».

Hiện tại, hệ thống giáo dục khắp nơi trên thế giới, từ lâu đã “kết thúc nhiệm vụ” dưới hình thức sản xuất ra những chuyên viên, những cán bộ, và những cấp lãnh đạo cho tương lai…với đầu óc đầy vụ lợi.

Lối “giáo dục” nầy vốn kích thích sự ganh đua ích kỷ, sự cạnh tranh, sự đề cao, và “đào tạo” TẬT “thèm khát thành công” một cách đui mù, khiến cho các “thành phần tốt nghiệp”, sau khi ra trường sẽ sẵn sàng đè bẹp “đối thủ” bằng mọi giá, nếu không muốn nói là có thái độ khinh bỉ và tác hại đến bất cứ ai, là trở ngại cho việc trục lợi của mình.

Chưa kể một số “cơ sở giáo dục nổi tiếng”, hiện nay đang đòi học phí rất cao, và chỉ tuyển chọn những sinh viên “xuất sắc nhất”, cũng chỉ đào tạo để “cung cấp nhân sự”, cho các vai trò nhắm vào quyền lực, nhắm vào danh tiếng, nhắm vào ưu thế lợi nhuận. Kết quả, cái xã hội mà chúng ta phải thấy, tất nhiên sẽ là xã hội “khát khao khen thưởng”, tranh đấu danh lợi, sát phạt lẫn nhau, để gọi là “tiến thân”, và thuộc về sân khấu của đua đòi hưởng thụ vật chất.

Còn những “HỌC ĐƯỜNG” khác, gọi là “CHUYÊN MÔN”…thì chỉ nhằm đề cao một số “TƯ TƯỞNG DUY VẬT” bằng những phương pháp vô cùng “tinh vi” và “hiện đại”, được trang bị một cách máy móc, với nhiều phương tiện thông tin vi tính…thì trong chiều sâu xem ra chẳng là gì cả, nếu không muốn nói đó là dùng “tiến bộ vật chất” để “nhồi sọ học viên”, làm sao cho họ coi thường tâm linh lẫn đạo đức, sống nghiêng hẳn trong thực tại vật chất, và tận dụng “óc khôn ngoan” để tranh thủ tối đa lợi lộc, đồng thời nuôi dưỡng khả năng sẵn sàng nghiền nát đối thủ.

Và ngay cả trong tôn giáo, một số tu sĩ đã quên mất thiên chức của mình là làm gương để “hướng dẫn tinh thần”. Họ nghiêng hẳn về hưởng thụ lợi lộc vật chất và trở thành giàu có, sau một thời gian “thâm niên tu hành” nào đó. Trong số ấy thỉnh thoảng cũng có vài “tu sĩ” xảo trá, tự “phong thánh” cho mình, và bắt tín đồ phải “thờ phượng họ” như Phật, Thánh.

Đa số những “cơ sở giáo dục” xưa nay đã là nguồn gốc của những THỰC TẠI và HIỆN TƯỢNG như vừa nói, thì xã hội loài người làm sao có thể có đông đảo cá nhân đầy tâm huyết, để xây dựng hạnh phúc và bình an chung ?! -Khoan nói đến chuyện DUY TRÌ !

GIÁO DỤC theo Đức PHẬT vốn đặt trọng tâm nơi sự huấn luyện thân tâm, nhất là thanh cao tinh thần, hay “đào tạo trong chiều sâu” cho cái “TÔI”, hầu cải thiện một người thành “biểu tượng” của CHÁNH KIẾN (Sammā diṭṭhi). Và hầu hết chúng ta đều biết rằng CHÁNH KIẾN là yếu tố thứ nhất (hay nền tảng không thể thiếu) trong BÁT CHÁNH ĐẠO, do Đức Phật đã thuyết ở phần cuối (tức là ĐẠO ĐẾ) của bài pháp thứ nhất, sau khi Ngài thành Phật.

Là những người noi gương Đức Phật, chúng ta phải khách quan mà “xác nhận” rằng, “CHÁNH KIẾN không nhất thiết chỉ có trong đạo Phật, mà bất cứ ai (không phân biệt tôn giao) sống hằng ngày với tính hợp lý, với tư tưởng quân bình, với định tâm, với niềm tin độc lập, và với thói quen hành động theo khoa học, đều có thể có CHÁNH KIẾN.

Một “Phật tử”, được “giáo dục đầy đủ”, là một người đã THỰC HÀNH các pháp thanh lọc THÂN lẫn TÂM, biểu lộ rõ rệt tính VÔ HẠI đối với xã hội cũng như đối với mình. Và TRUNG ĐẠO (Majhima magga) chính là cách sống của mỗi Phật tử. Tất cả trạng thái cực đoan, cuồng tín, cố chấp…không thể hiện hữu trong tinh thần của một người sống theo đạo Phật. Từ đó, một Phật tử không thể làm cho kẻ khác đau khổ, hay hành động phương hại đến sự bình an chung. Ngược lại đó không phải là Phật tử.

Hơn nữa, trong chiều sâu và trong thực tế, GIÁO DỤC của ĐẠO PHẬT không đối nghịch với bất cứ “truyền thống học đường” nào. NÓ chỉ “đơn giản” là cái khoa học làm cho con người biết sống một cách thường xuyên lành mạnh, với sự tỉnh thức thanh tịnh.

Nền GIÁO DỤC đó đã được thuyết minh bỡi một NGƯỜI HOÀN TOÀN GIÁC NGỘ (hay Phật), chứ không phải bỡi một đại diện cho Thần LINH nào hết. Bỡi vậy, GIÁO DỤC trong đạo Phật cần phải được trình bày thật rõ ràng đến quần chúng. -Nhất là CỐT LÕI của đạo đức trong nhà Phật phải được thuyết minh, càng nhiều càng tốt…để “xoa dịu” các khủng hoảng và đe dọa giữa cuộc đời !

Đức Phật đã là một bậc GƯƠNG MẪU thì những đệ tử của Ngài trong các thế hệ sau nầy, phải KHÔNG THỂ thiếu những “gương sáng”. Nếu giáo lý của Đức Phật đã mang lại cho những ai theo chân Ngài, sự hiểu biết trong sáng, thì sự THỰC HÀNH Phật ngôn sẽ phát sinh TUỆ TRI trong họ. TUỆ TRI ấy gọi là CHÁNH TRÍ chỉ được đạt tới xuyên qua kinh nghiệm xác chứng và có giá trị tiến hóa.

Đến đây, tôi thích dùng danh từ “Phật kiến” (hay “thanh tịnh tri kiến”), hơn là “Chánh kiến”, để kính trọng các tôn giáo khác. Vì hai chữ “CHÁNH KIẾN” không dành riêng cho đạo Phật.

C.-KẾT LUẬN và ĐỀ NGHỊ.

Bao lâu mà những người có trách nhiệm với các cơ sở GIÁO DỤC “ngoài Phật giáo” hay “trong Phật giáo”, còn thờ ơ trước SỰ KHẨN CẤP, là phải lành mạnh hóa tư tưởng, và chừng nào mà họ không xem “VÂN HÓA TINH THẦN”  là “nền tảng hành xử không thể thiếu” của một con người, thì nền giáo dục hiện tại chỉ là bộ máy tiếp tục “sản xuất” những “con người tốt nghiệp” với “tư cách bề ngoài”, nhằm ưu đãi các “kết quả” thuộc về “hình thức”.

Hiệu năng của GIÁO DỤC để đóng góp vào sự HÒA HỢP đời sống trong xã hội, do đó sẽ trở thành SỐ KHÔNG. Tinh thần “dấn thân” nếu có, vốn chỉ là cho mình, chứ không phải cho người khác, và các “hình thức nghiêm chỉnh” chỉ là cái bề ngoài trang trí cho bề trong ích kỷ.

Làm sao một xã hội có thể kiến tạo và duy trì hạnh phúc (hay hòa bình) cho cộng đồng, với những bộ óc “trí thức” hẹp hòi chỉ biết luôn luôn vụ lợi ?! Đó chính là lý do mà chúng tôi đã nêu ra trên đây, rằng những người có tâm huyết phải ngồi lại với nhau, và cố gắng nghiên cứu, trao đổi ý kiến, để may ra có thể tìm được phương cách cụ thể, hầu thực hiện và đạt đến thành quả mông muốn của GIÁO DỤC.

Phần tôi, xin phép nêu ra mấy đề nghị khiêm nhượng như sau :

<>Thứ nhất, chúng ta phải thay đổi tận gốc rễ, cái hệ thống giáo dục nặng về lợi nhuận hiện tại, vì nó chỉ nhằm đáp ứng tham vọng cá nhân, và dẫn đến lạc hướng.

<>Thứ hai, chúng ta nên thay đổi tư duy chung, và phải thực hiện một cuộc cải cách tinh thần.

<>Thứ ba, chúng ta cần trình bày hai chữ “ĐẠO ĐỨC” trong Phật giáo, một cách soi sáng, tránh tất cả những điểm khó hiểu.

<>Thứ tư, chúng ta nên “đánh tan” tất cả những giảng giải sai lầm về đạo Phật.

<>Thứ năm, chúng ta phải xem xét lại các loại “bằng cấp”, và đặc biệt tôn trọng tài năng, nhất là tài năng thực hiện tốt công tác cho xã hội.

-Vì “bằng cấp” có thể “mua” bằng tiền, hay bằng liên hệ với cấp trên, nhưng TÀI NĂNG thì không thể.

-Và vì “bằng cấp” tự nó chẳng đảm bảo cho sự hoàn thành tốt một nhiệm vụ vị tha, nhưng TÀI NĂNG thì làm được.

*Đây là cách để cho HIỆU LỰC của giáo dục Phật giáo có thể ĐƯỢC xã hội trông đợi, đúng TẦM CỠ của nó. Và các đặc tính quí báu của GIÁO DỤC trong ĐẠO PHẬT, cuối cùng sẽ có dịp DUY TRÌ BÌNH AN cho con người một cách LÂU DÀI.

*Thử suy gẫm lại câu nói “khoa học mà thiếu lương tâm thì chỉ làm giảm mất giá trị tinh thần”. Và…

*GIÁO DỤC những con người không phải là việc đổ đầy nước vào các chai hay bình, mà GIÁO DỤC là “gieo hạt lành” và “mảnh đất thân tâm” của mỗi cá nhân, để ở đó nở ra được các hương thơm, như đạo đức, cảm thông, bác ái, hòa bình, hỷ xả, tỉnh thức (hay giác ngộ= PHẬT).

Cám ơn quí vị đã lắng nghe.

Cư sĩ Tuệ Lạc (Paññanando)

(Phát biểu tại DIỄN ĐÀN 2 và 3 tháng 11 năm 2019).

Laisser un commentaire