Thuyết trình Phật học, ngày 14/6/2015 (lúc 14h30) tại :
VIỆN CAO ĐẲNG PHẬT HỌC LINH SƠN VITRY.
Diễn giả : Cư sĩ Tuệ Lạc.
Trước tiên, chúng tôi yêu cầu qúi vị hãy «phân biệt» 2 đề tài :
«Ô-nhiễm môi trường» và «Đạo Phật và vấn đề ô-nhiễm môi trường».
*Nói về «Ô-NHIỄM MÔI TRƯỜNG» là trình bày cái THỰC TẠI Ô-NHIỄM, hay KẾT QUẢ XẤU của một giai đoạn sinh hoạt «phản sinh hệ».
*Còn nói về «ĐẠO PHẬT VÀ VẤN ĐỀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG» là đề cập đến các NGUYÊN NHÂN SÂU XA của sự ô-nhiễm, do Phật giáo tiết lộ.
-Đề tài thứ nhất đang được một số lớn trí thức trong xã hội phân tích và nhận xét. Đề tài nầy cần những thống kê chính xác hay gần đúng, của những chuyên gia nghiên cứu sinh thái trên toàn thế giới, để báo động và tạm thời giải quyết về mặt nổi, những thực tế ô-nhiễm đang đe dọa sự sống. -Quí vị có thể theo dõi và biết được các mức độ ô-nhiễm (thay đổi từng ngày), qua các hệ thống báo chí, phát thanh, hay truyền hình, để tùy nghi xử lý.
-Đề tài chứ hai cần những giáo lý của Bậc Giác Ngộ, để KHUYẾN THIỆN, giải quyết về mặt nội dung, những nguyên nhân sâu xa, đưa đến tình trạng ô-nhiễm.
Hôm nay chúng tôi cống hiến đến quí vị buổi nói chuyện nầy, với đề tài thứ II.
Sau đây là thứ tự trình bày những điểm chính.
A – Vào đề qua sự định nghĩa 3 nhóm từ :
ĐẠO PHẬT, Ô NHIỄM, MÔI TRƯỜNG, như sau :
–Đạo Phật là «con đường» hay «nếp sống trong sạch, tỉnh thức», hướng đến Giác Ngộ. Chữ Phật có thể dịch là Giác Giả, tức là Bậc biết đúng thực tại lẫn phi thực tại, hay Bậc không mắc dính thực tại, Bậc hỷ xả vượt qua thực tại, dù thuận hay nghịch. -Còn theo quan niệm thông thường, thì «Đạo Phật là tôn giáo do Đức Phật lập ra».
–Ô nhiễm là tình trạng tinh thần và vật chất bị «biến hóa» theo thực tại xấu.
–Môi trường là toàn bộ cảnh sống, vừa đa dạng vừa tùy thuộc lẫn nhau.
B- Nội dung, qua dạng nêu một số gợi ý :
*Sống trung đạo là sống trong MÔI TRƯỜNG thanh tịnh và tích cực của Bậc Giác Ngộ. Ấy là sống tiến hóa, lành mạnh, sáng suốt, biết rõ khung cảnh sống, hay MÔI TRƯỜNG đó sạch dơ như thế nào, mà không bị khung cảnh ấy hay MÔI TRƯỜNG ấy lung lạc, ràng buộc, cầm tù.
*Phật giáo gọi chung tất cả các MÔI TRƯỜNG là DUYÊN. Trong Phật Giáo, DUYÊN đóng một vai trò tối quan trọng. NÓ là cái «thông số» (Paramètre) không thể thiếu, để xác nhận mọi liên hệ giữa hành động và kết thành của 2 chiều NHÂN và QUẢ hoán vị nhau, tạo ra chu kỳ trong một cảnh giới.
* Khi ý thức rõ cái DUYÊN hay thực trạng MÔI TRƯỜNG như thế, con người sẽ hết thắc mắc trước sự sai biệt giữa nhân và quả ba thời, tạm gọi là nghiệp quá khứ, nghiệp hiện tại, lẫn nghiệp tương lai, liên quan chặc chẽ với MÔI TRƯỜNG (cũng là cảnh giới). –Trong trường hợp nầy, chúng ta có thể gọi cái DUYÊN là «thành tố» đóng vai trò «tạo hóa». Diễn giả giải thích.
*Các nhà nghiên cứu môi trường, hay «sinh thái học» (Écologiste) chỉ mới báo động trong khoảng năm ba chục năm gần đây mà thôi, về sự ô nhiễm môi trường, có thể làm tiêu diệt dần dần, hay tiêu diệt hàng loạt mọi sinh vật trong MÔI TRƯỜNG mặt đất. Đầu tiên phải kể là môi trường nhân loại bị ô nhiễm vì chậm tiến (ngu dân, thiếu vệ sinh), rồi bị ô nhiễm vì phóng xạ nguyên tử, đối với loài người và đối với mọi động vật, thực vật trên địa cầu. Hiện tại là bị ô nhiễm vì hóa học, vì từ trường rối loạn.
*Nhưng đức Phật đã nói ra điều nầy dưới một dạng khác, cách nay hơn 2558 năm. Phật vẫn xem sự làm ô nghiễm môi trường, là «sống vô pháp» hay «sống phản sinh hệ» (adhammà). Nhóm từ «sống phản sinh hệ» có ý nghĩa tương đương với «sống trong ác pháp» (akusala dhammà). -Tiếng Pali gọi pháp nào thuận với sinh tồn là dhammà, còn pháp nào nghịch với sinh tồn là adhammà.
*Và theo các tôn giáo khác, thì quả đất (hay môi trường) nầy do một đấng «Toàn Năng» tạo ra. «Đấng Toàn Năng» đó, tự Ngài đã có cách «ngăn chận sự ô nhiễm», trên tác phẩm của mình. (?!)
*Nhưng Đức Phật thì khám phá MỘT SỰ THẬT (Sacca) hoàn toàn khác. Ngài thuyết minh rằng «quả đất mà chúng ta đang sống, vốn do nghiệp và tâm thức ô truợc của chúng sanh gây ra». Do đó, chính chúng sanh phải tự thanh lọc thân tâm và «tự sửa chữa bất thiện nghiệp», để giải trừ ô-nhiễm.
*Thanh lọc thân tâm và sửa đổi bất thiện nghiệp chính là «tu hành» bằng thân, bằng khẩu, và bằng ý, mà chúng ta đã thường nghe và cũng từng muốn làm.
*Hai chữ TU HÀNH thực ra chẳng mới mẻ gì. Chúng thường ám chỉ một số hành động mà ai cũng biết. Đại khái như ăn chay, niệm Phật, đi chùa, cúng bái, tùy khả năng làm việc thiện, nhất là không nên coi thường thần thánh, phật trời.
*Nhưng xuyên qua đề tài nầy, chúng ta không phải chỉ nhắc lại hai chữ TU HÀNH như những lần trước, mà là để chúng ta cùng nhau chú ý sâu hơn, vào nội dung 2 chữ ấy, một cách thực tế, hay thảo luận sát với chủ đề «LÀM SAO HÓA GIẢI ĐƯỢC Ô-NHIỄM MÔI TRƯỜNG, từ trong tâm thức».
*Vấn đề Ô NHIỄM, đang mỗi ngày một trở thành trầm trọng, đe dọa hẳn đời sống bình thường của con người, từ địa phương đến toàn cầu.
*Quả thật, it ai có thể nghĩ rằng, vất đồ phế thải, dơ dáy, độc địa…..trên mặt đất, vào trong nước (sông biển, ao, hồ) hay trong không khí…và khai thác tài nguyên, nhân lực một cách bất kể, vượt giới hạn….là một hành động phản sinh hệ (adhammà), hay phản nhân văn trong đạo Phật.
*Đọc kinh, chúng ta tuy không thấy Phật cảnh báo, hay trực tiếp nêu ra những phương pháp bảo vệ môi trường. Chúng ta cũng không thấy Ngài «phê phán» hành động làm ô nhiễm khung cảnh sống, trong đó chứa vô số chúng sanh, sẽ nhận quả xấu ra sao. Nhưng chúng ta biết rằng, Đức Phật trong suốt 45 năm giáo hóa, độ đời, cho chí giờ nhập diệt, Ngài đã không ngừng nói rõ CĂN NGUYÊN của ô nhiễm con người, là tâm thức đã «nhuộm đậm» THAM, SÂN, SI.
*Khi chúng ta đọc kỹ các phần luật nói về trú sở, vật dụng, sinh hoạt hằng ngày của các hàng tỳ kheo (đệ tử xuất gia của Phật), ngụ tại tự viện hay trong rừng sâu, chúng ta mới thấy được những điều khuyên ấy, chứa đầy ý nghĩa TU là phải giữ sạch môi trường tinh thần, cũng như môi trường vật chất !
*Từ đó suy ra, sinh hoạt của các người tu Phật tại gia cũng trong hướng đạo ấy. Nếu có khác với các hàng xuất gia, thì đó chỉ là sự giản dị hóa, vì người cư sĩ phạm hạnh còn phải sống chung với xã hội, gồm nhiều loại người.
*Theo Phật giáo, trong tất cả tình trạng ô-nhiễm, thì ô nhiễm tinh thần là nguồn gốc của tất cả các ô-nhiễm khác. Và ngoài «kỷ luật vật chất» để giữ cho THÂN và KHẨU (miệng) ít tạo xung đột xã hội, thì «kỷ luât tinh thần» hay THIỀN PHÁP chính là «kỷ luật tâm linh», giúp thanh lọc tinh thần, làm cho «nó» ít (hay khỏi) bị ô-nhiễm bỡi các pháp thế tục, trước tiên là bỡi tham sân si.
*Nếu THAM SÂN SI có thể làm cho tinh thần ô-nhiễm, suy đồi như thế nào, thì tinh thần sau khi đã bị ô nhiễm bỡi các thứ ấy, cũng có thể làm cho đời sống vật chất MÔI TRƯỜNG (đặc biệt là thân thể luôn luôn hướng về ngũ dục, không thấy cái hại trong tương lai), cũng bị ô nhiễm…như thế ấy ! Nghĩa là bị ô nhiễm một cách phản tiến hóa, phản sinh hệ !
*Là Phật tử, chúng ta luôn luôn cố gắng hành động theo trung đạo. Chúng ta không thể cực đoan, phủ nhận các tiện ích thực tế của phát minh khoa học. Vì đó là hoa trái của trí óc. Nhưng khi xét kỹ, chúng ta thấy, sự suy đồi, dính mắc do tham, sân, si lôi kéo…., không nhất thiết «chỉ vì sức hấp dẫn» của văn minh khoa học, mà vì sự «dính mắc» vào đời sống, dù cho rất lạc hậu, hay chậm tiến. Tức là, ô nhiễm không phải luôn luôn qui «trách nhiệm» về khoa học, mà rõ ràng cũng vì tình trạng lạc hậu, phản khoa học nữa !
*Như vậy, những phát minh khoa học không phải là «thủ phạm» duy nhất, làm ô nhiễm tinh thần, mà yếu tố chính làm ô-nhiễm tinh thần, là «tính ích kỷ» nơi mỗi con người, đã bao đời dính mắc vào sự say mê ngoại cảnh, trong đó CHƯA có phát minh khoa học tân tiến nào cả, đồng thời cùng với ảnh hưởng bao trùm của THAM SÂN SI. -Còn hoa trái của khoa học tân tiến ngày nay chỉ mới đến với loài người trên dưới 1 thế kỷ mà thôi.
*Phát minh khoa học tự nó vô thưởng vô phạt, nhưng qua sự hưởng dụng của loài người, nó trở thành khác. Chúng ta có thể xem Phát minh khoa học khi BỊ XỬ DỤNG bỡi loài người, như con dao hai lưỡi.
*Phía tích cực, sự «sắc bén» của của con dao hai lưỡi ấy, quả thực không thể phủ nhận, chúng ta có thể kể ra một số tiện ích là :
-Về văn minh vật lý (cơ khí nhẹ hay nặng) có thể vận dụng dễ dàng nhiều trọng lượng khổng lồ, mà sức người xưa nay không thể làm được, nhất là trong việc xây dựng nhà cửa, cầu đường, và vận tải giữa không gian, dưới nước, trên bờ.
-Về văn minh hóa chất, đa số có kết quả nhanh chóng, thu lợi canh nông theo ý muốn, có thể chế tạo hàng hóa, tân trang vật dụng, giảm thiểu hư hỏng xuyên qua một thời gian tương đối dài. Đây là phương diện văn minh có mặt thường xuyên trong đời sống thiên về sản xuất và tiêu thụ hằng ngày.
-Về văn minh năng lượng ở cấp bực vĩ mô, như nguyên tử biến thành điện lực thắp đèn đa dạng (nhiểu màu đẹp mắt), hay quang tuyến, để xử dụng trong nhiều lãnh vực, nhất là y khoa, dùng tia sáng thám hiểm không gian..v..v….
*Nhưng ngược lại, về phía tiêu cực, phản dụng của văn minh khoa học cũng nguy hiểm không kém, lắm khi tác hại của nó, hơn hẳn mặt tiện dụng. Thử nêu :
-Kỹ nghệ nặng (vật lý) thì gây nhiều tiếng động «siêu tần số», xáo trộn tĩnh trường, vốn rất cần thiết cho sức khỏe hệ thống thần kinh. Tiếng động hằng làm căng thẳng cân não, gây náo loạn, và mất quân bình não bộ. Sóng tiếng động (hay âm ba) là một loại áp lực, tương đương với sóng điện làm què quặt sinh thái, và rất nguy hiểm. Cả hai dĩ nhiên là vô hình. Người bình dân không biết đâu mà tránh.
-Hóa chất đa dạng, nếu vì lợi điểm của nó là giúp trồng trọt thu hoạch cao, là giữ cho vật chất, nhất là thực phẩm lâu hư, thì sau khi hấp thụ vào bụng, thân thể con người sẽ tàng chứa nhiều mầm bệnh bất trị, như ung thư chẳng hạng.
-Còn nhiệt năng mới nhất do khoa học tìm ra thì vĩ mô, để chuyển động máy móc, cơ khí hay điện tử tối tân, phức tạp, và tạo nên ánh sáng cực mạnh (siêu quang), nhằm thực hiện những thí nghiệm thần kỳ. Năng lượng nầy lại có đặc tính đốt cháy vật chất từ đơn vị sơ cấu, như phóng xạ nguyên tử hằng hủy diệt mọi mạch sống hữu cơ, và làm rối loạn từ trường.
*Ngoài ra, theo Phật giáo ô-nhiễm tinh thần và ô nhiễm vật chất, vốn là hai mặt của một tập khí hay tập ấm (uẩn), để tạo «vật liệu cơ bản cho các hệ luân hồi», rồi từ đó nghiệp tái sinh xoay vần mới bắt đầu hoạt động. Hai mặt cơ bản ấy hằng tương tác, xây dựng bộ máy nghiệp quả thăng trầm một cách liên tục.
*Hiện tượng «đồng tánh khí» của một số người, vốn đến từ «mẫu số chung» của môi trường sống ở quá khứ, để «họ» phải tái sinh vào một môi trường hiện tại giống nhau (cộng nghiệp), ít hay nhiều ô nhiễm. Nghĩa là trên mặt đất nầy, cũng có những nơi ô-nhiễm tinh thần lẫn vật chất ít hơn các nơi khác. Và đó sẽ là cảnh giới (tái sinh) của một số sinh linh có trình độ ô nhiễm nhẹ, tương xứng.
*Đối với Phật giáo, nhóm chữ «ô nhiễm môi trường», ngoài cái nghĩa là «khung cảnh sống bị thấm độc», còn có nghĩa là «xã hội thiếu đạo đức».
*Trong 32 tướng tốt của Đức Phật, đã có một «hảo tướng» là bàn chân của Ngài (hay nói chung là làn da toàn thân Phật), không bị bụi bám như phàm nhân, dù cho Ngài đi giữa vùng bụi, hay lội trong vũng bùn…..
-Hiện tượng độc đáo nầy có thể làm cho chúng ta ngạc nhiên ư ? -Nhưng nó vốn nói lên cái quả phúc, rằng trong vô lượng kiếp qua, Ngài đã giảm thiểu tạo ô nhiễm môi trường, trên cả hai phương diện tâm linh và vật chất.
-Nghĩa là chất dơ không thể hiện hữu và tác động nơi một tinh thần cao thượng, tinh khiết ! Khi tinh thần trong sạch thì thân thể không bị thúc đẩy để làm ô uế môi trường, dưới bất cứ hình thức nào.
*Còn thái độ của Phật giáo, trong trường hợp chế tài, hay trừng phạt những cá nhân vung vãi các vật phế thải dơ dáy, độc địa khắp nơi, tuy vẫn cần thiết, do tôn trọng luật lệ nhà nước. Nhưng tận gốc hơn nữa, là Phật giáo đề nghị phải hướng dẫn quần chúng ý thức, và làm theo Phật ngôn giữ sạch môi trường, để tâm linh được giải trừ ô nhiễm do THAM SÂN, SI…mới là thiết yếu.
*Với tính tự giác trong mỗi con người, nếu mỗi cá nhân thường xuyên nghĩ rằng «giữ sạch môi trường là duy trì pháp tiến hóa chính mình», thì nó sẽ làm cho khung cảnh sống của cá nhân lẫn cộng đồng được sạch sẽ trong chiều sâu, lành mạnh và bảo tồn sinh thái lâu dài trên bề mặt, chứ không phải chỉ tẩy màu (nhuộm trắng), làm đẹp hình thức vô thường một thời gian, như cái «mốt», hay chạy theo thị hiếu!
*Như trên đã gián tiếp trình bày, «MÔI TRƯỜNG chính là ngoại duyên cần thiết luôn luôn có hai mặt TỐT (sạch) hay XẤU (dơ), để con người nói riêng, và động vật nói chung sống tiến hóa, hay thoái hóa».
-Nếu môi trường đang bị một thiểu số làm ô nhiễm, nhưng đa số trong xã hội có tinh thần lành mạnh, sáng suốt, quyết tâm giữ sạch khung cảnh sống, thì Phật ngôn hướng dẫn cách làm thăng hoa cuộc sống cho cả thân lẫn tâm, sẽ được thực hiện. Khung cảnh sống sẽ được sạch sẽ hóa. Và kết quả tích cực đó còn làm cho thiểu số vô ý thức được thuyết phục, cải hóa, bắt chước hướng thiện.
-Ngược lại, nếu đa số thiếu ý thức, ích kỷ, không ngừng gây ô nhiễm môi trường, và chỉ có một thiểu số với tinh thần lành mạnh, dù không khuyên thiện được phần đông, thì tuy họ đang sống trong môi trường suy đồi, nhưng nhờ quả lành, họ cũng ít nhiễm độc hơn những người ích kỷ, tối tăm, lầm lạc. Nói theo khía cạnh «tâm tri học» !
-Theo Phật giáo, loài người vốn với căn cơ và phúc duyên bất đồng. Nên trên thực tế, có những đại nhân đầy đủ tài đức, đang nắm giữ nhiều quyền lực quốc gia, như ở địa vị tổng thống chẳng hạnh. Nhân vật nầy nếu biết dùng uy lực của mình, để áp đặt thiện pháp lên những quần chúng lầm lạc, mê muội, hướng dẫn họ từ chỗ tối ra nơi sáng, thì sự ô nhiễm khung cảnh sống, vật chất lẫn tinh thần, sẽ được dần dần cải thiện, hóa giải. -Tiêu biểu là Hoàng Đế A-Dục (Asoka) ngày xưa, trong lịch sử Phật giáo.
C- Kết luận, qua dạng nêu pháp hành.
«ĐẠO PHẬT VÀ VẤN ĐỀ Ô-NHIỄM MÔI TRƯỜNG» (trọng yếu là ô nhiễm tinh thần) hôm nay cần được xem là một chủ đề thuần túy pháp thoại, hướng đến nhiệt tâm đóng góp, đa nguyên khuyến thiện. Nó không thuộc loại có «triết lý ước định», hay có «tiêu chuẩn công lý», nên hai phần thân bài (khai triển rộng rãi nội dung chính) và kết luận (qui nạp các yếu tố), xin được thay thế ở đây bằng hai mục «GỢI Ý» và «đề nghị PHÁP HÀNH».
Như chúng tôi đã trình bày «Ô nhiễm môi trường vốn đến từ sự ô nhiễm tinh thần của những người sống trong mô trường ấy, do 3 nhân xấu là THAM SÂN SI». Và THAM phối hợp với SI mới là hai «động cơ» chính. Còn SÂN chỉ là phản ứng của con người khi THAM và SI không được tự do khuynh đảo.
*Nói quá đại khái như thế, thì không có pháp hành cụ thể, để cùng nhau áp dụng. Chúng tôi xin «diễn ý» bình dân hơn, như sau : «Làm cho tâm thức trở thành xấu xa, thì gọi là ô-nhiễm. Nhưng làm cho tâm thức trở thành tốt đẹp, thì gọi là tô điểm». Tô điểm cũng có nghĩa là loại trừ cái xấu, chấm dứt ô-nhiễm !
-Hãy ví tâm thức như ngôi vườn. Người thông minh chăm sóc ngôi vườn lúc nào cũng tìm kiếm, tiêu diệt những hoa độc, cỏ dại, và thường xuyên gieo trồng các hoa thơm, cỏ đẹp. «Hoa độc, cỏ dại» và «hoa thơm, cỏ đẹp» ấy không phải tự nhiên mà có. Chúng vốn từ vô thỉ đã do 3 nhân ác là THAM, SÂN, SI gây ra, và chúng «hiện hữu» trong hiện tại như những trần cấu xâm nhập, tích tụ, huân tập, và sinh sôi nẩy nở, trong tạng thức.
-Vậy hành động cụ thể để giải trừ ô nhiễm thân và tâm, nhất là giải trừ ô nhiễm ý thức, là trong bước đầu chúng ta phải tiếp thu những đối tượng lành mạnh của lục căn, từ bên ngoài đưa vào, để tô điểm «tâm thức». Rồi giai đoạn tiếp theo là giới định tuệ.
*Nghĩa là xuyên qua sáu căn môn : Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý, chúng ta có thể dùng những hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, xúc chạm, và giáo lý hướng thiện, để trang trí ngôi vườn tâm thức. Chúng ta tuyệt đối không để cho sáu trần ác độc xâm nhập, làm ô nhiễm tinh thần. Nói cách khác là :
1-Thay vì NHÌN các hình ảnh ngoại trần suy đồi, thấp hèn, thì chúng ta hãy nhìn các hình ảnh, hay những đối tượng lành mạnh. (Hoa lành, cảnh đẹp chẳng hạng)
2-Thay vì NGHE những âm thanh khích động, dâm dật, chúng ta có thể chú ý đến tiếng chuông chùa, lời kinh cầu khuya sớm, hay nghe những bài giảng đạo đức, nằm trong tầm hiểu biết, tiếp thu của mình.
3-Thay vì NGỬI những mùi thơm gây khích động, thèm thuồng, chúng ta có thể gần gũi với khói nhan hương trầm, hay không khí tĩnh mịch nơi cửa thiền.
4-Thay vì NẾM những vị làm say sưa, kích thích, chúng ta có thể dùng trà đạo, làm cho vị giác ổn định, thanh tịnh, lành mạnh.
5-Thay vì VA CHẠM với những cảm xúc vuốt ve, êm ái trên làn da, đầy hưởng thụ nhục dục, làm cho tâm tư ngây ngất thấp hèn, chúng ta có thể dùng làn da các ngón tay, tinh tấn lần tràng hạt, giữ cho tâm an tịnh.
6-Thay vì SUY TƯ về chuyện đời trần tục (hờn giận lo buồn), chúng ta có thể nghĩ đến triết học lành mạnh, lời Phật dạy và nghẫm nghĩ lý đạo, cũng như về hiệu lực soi sáng tâm trí của nó.
*Sáu pháp hành cơ bản ngăn chận ô nhiễm tâm hồn nêu trên, khi đã thuần thục thì một người tự nhiên sẽ yêu thích, kính trọng giữ 5 giới, 8 giới, hay 10 giới.
*Và người ấy không thể nào vất bỏ bừa bãi các vật phế thải ra xung quanh. Từ đó, môi trường sống chung thuộc về vật chất (dù tân tiến) cũng sẽ không bị ô nhiễm, song song với «môi trường tinh thần thanh tịnh, có giới hạnh, có thiền pháp», có tuệ nhãn» sẽ gia tăng, và củng cố khung cảnh ấy thêm tươi đẹp..
Cám ơn quí vị đã thân hữu lắng nghe ! Và xin chia phước pháp thoại đến quí vị.
TL