Thuyết trình tạị VIỆN PHẬT HỌC LINH SƠN (Ngày Chủ Nhật 26-4-2015)
I/ Lời nói đầu
*Trước tiên, chúng tôi yêu cầu quí vị hãy giữ tâm tự nhiên, khách quan, đừng đặt mình trong tư thế hy vọng, hay thất vọng trước bất cứ điều gì ! Sinh hoạt văn hóa có tính cách «trao đổi ý kiến» nầy, nhằm tạo thói quen làm cho tinh thần lành mạnh, giúp ích cho chúng ta «tìm hiểu hai chữ HẠNH PHÚC» !
*Nói đến «hạnh phúc» thì sự suy nghĩ không thể «không liên quan» đến ĐAU KHỔ. –Đi tìm hạnh phúc là «đối trị đau khổ». Đó là hai mặt của một việc làm. -Chữ «hay» được dùng nhiều lần tiếp theo đây chỉ là một «liên từ», được đặt giữa 2 tử ngữ «hạnh phúc» và «đau khổ», đại diện cho hai mặt của vấn đề.
Đó là vấn đề SỐNG TRONG TÌNH TRẠNG nào. «Liên từ» ấy chỉ giúp cho giòng tư tưởng chúng ta có «đối duyên» để xoáy khả năng suy nghĩ vào sự quán xét, chứ không phải để bị lạc đề !
*Hạnh phúc hay ĐAU KHỔ là một tổng hợp của những cảm giác xuyên qua 5 (hay 6) giác quan, trước các thực tại sống, thuộc về thụ hưởng tiện nghi, danh lợi và quyền lực, hay chịu đựng những điều không thích hợp (nghịch cảnh tinh thần lẫn vật chất), như va chạm trong gia đình, ngoài xã hội, và với thiên nhiên.
– Hạnh phúc hay đau khổ» hằng mặc nhiên lưu lại nhiều dấu ấn sâu đậm trong trí nhớ, còn gọi là «tiềm thức», hay giác quan «thứ sáu» của con người.
-Là người học Phật, tôi phải hầu chuyện với quí vị, dựa trên tinh thần đạo Phật. Nhưng như vậy, không có nghĩa là buổi thuyết trình ngày hôm nay chỉ hướng về những tín hữu đạo Phật, mà là chia xẻ đến mọi người, không phân biệt tôn giáo.
*Theo Phật học, hạnh phúc hay đau khổ thuộc về «thọ uẩn», 1 trong 5 tập hợp tạo ra con người. (Sắc uẩn, Thọ uẩn, Tưởng Uẩn, Hành uẩn, và Thức uẩn). -Khi bình tâm suy xét thì «hạnh phúc có 2 loại, là hạnh phúc tưởng tượng và hạnh phúc thực tại».
*HẠNH PHÚC tưởng tượng thì dễ hiểu, vì nó là ảo giác, không thật. Nhưng «hạnh phúc thực tại» thì hoàn toàn khác. Nếu chúng ta sống đúng theo lời Phật dạy, hiện tại đầy chánh niệm, biết mình dang làm gì, đang có cảm giác gì, cảm giác ấy dễ chịu hay khó chịu, nó «thật» hay «không thật», thì chúng ta có thể thấy «toàn bộ cảm giác đó là người bạn đồng hành».
Một phàm nhân mà sống vô cảm giác thì chẳng lành mạnh tí nào, và chẳng hạnh phúc, nếu không muốn nói là phản tự nhiên. Và một Thánh Nhân vốn không phải là người sống vô cảm, mà là bậc đã thuần thục trong sự hóa giải mọi cảm giác, nhất là vẹt vô minh. Theo Phật giáo, Thánh Nhân hằng sống với cảm giác hỷ xả, và toàn thiện.
Người tâm trí lành mạnh, tỉnh thức (minh sát), luôn luôn căn cứ trên trực nghiệm, để nhận diện cảm giác là hạnh phúc, hay đau khổ….là người thanh tịnh. Khi phàm nhân quan sát một bậc phạm hạnh, rồi chủ quan khen ngợi, phân tích….là khen ngợi, phân tích theo triết học, chưa chắc chính xác.
Những kẻ vội vàng phủ nhận hạnh phúc một cách toàn diện, là những kẻ cực đoan. Vì rằng một thực tại cảm giác nào đó, ở với ta lâu hay mau, rồi thay đổi và biến mất…., bởi nó vô thường, chứ CHẲNG PHẢI bởi nó không thật.
VÔ THƯỜNG và KHÔNG THẬT la hai «vấn đề» khác nhau !
-«Vô thường» ám chỉ một cái CÓ THỰC TẠI nhưng thực tại đó phải thay đổi, không kéo dài mãi.
-Còn «Không thật» ám chỉ «một cái» chẳng bao giờ «CÓ THỰC TẠI» ! Một số người nhân danh đạo Phật mà chưa phân biệt điều quan trọng nầy, đã diễn tả Phật học một cách phiến diện, làm cho người nghe hiểu lầm đạo Phật bi quan, nhìn cuộc đời chỉ là một chuỗi dài «đau khổ, ảo mộng», thì thật đáng tiếc !
Chân lý thứ nhất trong TỨ DIỆU ĐẾ, tuy được dịch là «KHỔ ĐẾ», nhưng nó vốn chuyên chở cái ý nghĩa «chịu đựng» (mọi vui buồn luôn luôn hóan vị), nhiều hơn là ám chỉ «duy nhất sự đau khổ». –Một nửa sự thật không phải là sự thật !
Ví dụ, khi đói khát, ta uống một ly sinh tố tinh khiết, và cảm thấy dễ chịu, là một cảm giác hiện tại có thật. Người nào nghĩ rằng cảm giác ấy là «ảo tưởng», do nước sinh tố và vị giác tạo ra….là kẻ sống ngoài thực tại, nếu không muốn nói là bị hoang tưởng, bệnh hoạn !
Lý luận rằng «Cảm giác ấy do duyên hợp mà thành. Nó chỉ có với điều kiện nào đó, là…không thật», thì nghiêm trọng hơn, vì ấy là diễn giải méo mó pháp duyên khởi trong nhà Phật !
Trong chiều sâu Phật học, duyên hợp mà thành chính là NGŨ UẨN. -Mà ngũ uẩn là «tập hợp chịu đựng nhị biên» (vì THAM LAM chịu đựng cả hai tình trạng đối nghịch, vui khổ), là DUKKHA ARIYA SACCA, một trong 4 sự thật (Tứ Diệu Đế) trong đạo Phật !
Kinh Phật ngụ ý «con người đau khổ vì chính con người sống trong tập khí ích kỷ, ôm cứng hiện tượng, chứ không phải vì hiện tượng vô thường». -Một hiện tượng «trải qua trong sự sống» là thật hay giả vốn do lòng THAM, chứ không phải do nó vô thường, diễn ra và tồn tại một thời gian, lâu hay mau !
Nếu con người sáng suốt chấp nhận thực tại (hiện tượng), trước 2 loại cảm giác dễ chịu (mànàpa) và khó chịu (amànàpa), thì con người sẽ liễu ngộ, ít đau khổ hơn, hay giảm được rất nhiều dằn vật !
Hơn nữa, Vô thường vốn là «đặc tính» của cái gì PHẢI CÓ và HIỆN HỮU trong thực tại. Vì nó CÓ và đang trình diện, nên nó mới thay đổi. chứ nếu nó KHÔNG CÓ, thì lấy gì thay đổi ?
-Chưa kể VÔ THƯỜNG (thay đổi) còn có thể coi là một «giải pháp» CẦN THIẾT trên cõi đời ngũ uẩn, hay danh sắc biến hành nầy. -Phải xem «Vô thường là giải pháp». -Thử tưởng tượng một đứa bé sơ sinh nếu nó không thay đổi, không phát triển, không lớn lên, cứ ở mãi tình trạng thường (cũ), thì cuộc đời sẽ tốt hay xấu ?!
-Như vậy, «thường» là một pháp «phản tiến hóa» !
-Ngược lại, VÔ THƯỜNG là thực tại TIẾN HÓA !
*Hôm nay chúng tôi không hoàn toàn đóng vai thuyết trình viên trước quí vị, mà chúng tôi còn xin phép được đóng vai «người gợi ý» cho đề tài ĐI TÌM HẠNH PHÚC này.
*Chúng tôi sẽ không nêu ra một phương pháp đóng khung (cố chấp), làm «tiêu chuẩn», để….bảo đãm «tìm được hạnh phúc». Nhưng chúng tôi sẽ cống hiến đến quí vị, một số nghiên cứu Phật Học và triết học, để tất cả cùng nhau tìm ra «giải đáp».
*Khi dựa vào Phật học mà đồng thuận, thì quí vị sẽ TỰ CÓ một số «nguyên tắc căn bản, qúi báu», liên quan rất tích cực đến đề tài «ĐI TÌM HẠNH PHÚC», giảm bớt đau khổ !
II/ Vào Đề
Trước khi bàn đến chủ đề «ĐI TÌM HẠNH PHÚC», chúng ta thử tìm hiểu mấy điều sau đây :
1-Pháp bất ly trong nhà Phật. .
2-Tính vật lý tương tác và pháp song đối trong khoa học và triết học.
3-Các liên quan giữa nhân, duyên, và quả
4-Giáo lý BA nghiệp, nhưng chỉ có MỘT thời.
Chú ý :
Còn một từ Hán-Việt khác là “bất đoạn”. Tuy “ý nghĩa” của “bất ly” và “bất đoạn” khá giống nhau, nhưng khi phương tiện hóa ngụ ngôn để phân biệt, thì chúng khác đôi chút :
-“Bất ly” ám chỉ “sự không rời của hai yếu tố, nhưng người ta nhìn thấy cái nầy thì không nhìn thấy cái kia”.-Như bề mặt và bề trái 1 vật.
-Còn “Bất đoạn” cũng ám chỉ “sự không rời của 2 thành phần, nhưng khi người ta thấy cái nầy, thì người ta cũng thấy cái kia. Hai cái “bất đoạn” được giới hạn bỡi một ranh giới. Chẳng hạng như lục địa nối liền với đại dương.
*********
Trong một buổi giảng tại Câu lạc bộ Y DƯỢC HỌC DÂN TỘC trước đây, tôi đã đề cập đến công thức 4T, gồm Tôn trọng, Tương trợ, Tha thứ, và Thân thương (ghi ở trang 13, sách “PHƯƠNG PHÁP TRỊ LIỆU” đồng tác giả là BS. Quan Vân Hùng. Sách còn nói rằng : “4T” cũng ám chỉ “4 vai trò quan trọng” trong trị liệu (giải khổ, tìm lại an vui giai đoạn) là :
-Chữ T thứ nhất ám chỉ tự mình có niềm tin tôn giáo, tư duy tích cực, (hay “năng giữ vệ sinh tinh thần”), và giảm thiểu căng thẳng (stress).
–Chữ T thứ hai ám chỉ thực phẩm lành mạnh.
–Chữ T thứ ba ám chỉ thể dục, phải có vận đồng hằng ngày.
-Chữ T thứ tư ám chỉ thuốc men, theo Đông y hay Tây Y, cần được dùng đúng liều lượng và thời gian, do bác sĩ trách nhiệm ấn định.
Nghĩa là áp dụng «4T» cũng là cách giữ gìn sức khỏe, tìm hạnh phúc.
Ngoài ra, Công thức 4T cũng vạch rõ :
–Tôn giáo (hiệu lực tinh thần), như niềm tin chân chánh, hướng về đạo đức, tư duy tích cực, văn hóa lành mạnh, vệ sinh tinh thần, giảm thiểu căng thẳng thần kinh (stress),
–Thể dục thể thao, siêng năng sinh hoạt, -Không đầu hàng lười biếng.
–Thực phẩm lành mạnh, dưỡng sinh, cữ vật thực làm cho phì mập.
–Thuốc men phải dùng đúng, không nên lạm dụng….v..v…
Mỗi cá nhân phải tự mình đóng vai chính, trong mưu cầu hạnh phúc !
PHƯƠNG PHÁP 4T, Phòng chống và trị bệnh (hay giải khổ), cũng nêu khá rõ ràng hai phương diện là phương tiện và lý do :
*Phương tiện là những yếu tố tâm lý (theo khoa học), và những hướng dẫn đạo đức (theo tôn giáo nói chung, nhà Phật nói riêng), để “giảm bớt” các lo, buồn, sợ, giận vốn cố hữu trong mỗi người phàm.
*Lý do, xin mạn phép tóm tắc rằng : Lo, buồn, sợ giận khi thái quá có thể trở thành “4 tà khí” độc hại trong thân thể con người. Chúng sẽ là nhân duyên phát sinh ra mầm bệnh hoạn.
Về mặt “tích cực” theo thế gian, thì Lo, buồn, sợ, giận có thể xem :
*-LO là “nguyên nhân” của tinh thần trách nhiệm,
*-BUỒN là hậu quả (khó tránh) của lòng thương người,
*-SỢ là thái độ tự nhiên của sự dè dặt, và
*-GIẬN là phản ứng phàm tình trước bất công. (-Bất công đối với mình, hay bất công đối với những người cùng hoàn cảnh như mình).
Nhưng về mặt tiêu cực, lo buồn sợ giận lại tai hại rất nhiều, như vừa nói trên đây. Do đó, chúng ta phải thường xuyên chuyển hóa. Nếu không, chúng sẽ dày vò thân tâm, làm cho con người mù quáng.
-Khi ta đau ốm mà ta quá chú ý đến nó (dưới 4 dạng lo, buồn, sợ, giận), thì kháng tố trong thân chúng ta sẽ suy yếu, không đủ khả năng bình thường, chống lại sự tấn công của bệnh tật.
-Hay khi ta đối diện với nghịch cảnh ở đời, mà ta quá “lo buồn sợ giận” thì ta sẽ mất sáng suốt, giải quyết vấn đề một cách phiêu lưu bất lợi, nếu không muốn nói là chẳng vượt qua được, hay vất vả vượt qua bằng một giá rất đắc.
-Hoặc quảng đời còn lại của chúng ta xem ra thật ngắn ngủi. Nếu chúng ta cứ để cho lo buồn sợ giận đốt hết năng lượng tinh thần, thì cảnh khổ đó do chính chúng ta vô tình nuôi dưỡng.
-Cần biết thêm rằng “bất lực và thụ động, rồi buông tay, dựa trên một số lý lẽ nào đó”, chắc chắn không phải là cách “chuyển hóa” hay khắc phục được nghịch cảnh, một cách đúng nghĩa !
-Vậy chuyển hóa “lo, buồn, sợ, giận” như thế nào ?
Câu chuyện “Tái ông mất ngựa” trong “Túi khôn loài người” đã đành rất hay, nhưng chưa đủ. Có bao nhiêu người đã đọc qua câu chuyện, rồi nghiền ngẫm, mà trong thâm tâm sâu thẳm, họ vẫn chưa tiêu trừ được lo buồn sợ giận !
-Hay phải chăng khi cảm thấy bất lực, không còn cách khác ngoài đầu hàng, rồi “bình tĩnh buông tay” chịu thua, cũng là một giải pháp ? -Và cái chết “tương đối êm đềm” (hiếm thấy) của một số người vô tôn giáo, đầu hàng nghịch cảnh….thuộc loại nầy !?
Theo Phật học, hễ có nghiệp tạo ngũ uẩn (=thân và tâm, hay thể xác và tinh thần) thì phải có lo buồn sợ giận. Nhưng nhờ tu hành, khi tiêu trừ được lo buồn sợ giận là khi ý thức đã vượt thắng ngũ uẩn. Đó là phẩm cách tích cực của tinh thần thanh tịnh, dũng cảm trong đạo hạnh của Thánh Nhân.
Cho nên mỗi người phàm muốn giảm các chịu đựng (khổ vui) phải cố gắng, dũng mãnh tu tập, không nên coi thường, cho rằng “tu được chừng nào hay chừng ấy”. Cần biết rằng “viên dung là kết quả của từng công phu hợp lại”. -Những trận lũ lụt lớn (đại hồng thủy) có sức quét sạch mặt đất, không phải do một cái vòi khổng lồ, đổ nước từ trên cao xuống, mà la do những hạt mưa lớn nhỏ hợp lại.
Thực tế thì ai trong chúng ta cũng mong cầu có cái hạnh phúc chính, là được sống lâu, với đầy đủ sức khỏe, tức là chúng ta còn ôm chặc, và duy trì ngũ uẩn.
Như trên đã nói, vượt thắng thân tâm nầy không ám chỉ sự bi quan, bỏ cuộc, mà là dũng cảm bảo trì nó đúng pháp (khoa học) và không nô lệ nó (sáng suốt, chánh kiến, giác ngộ).
“Vượt thắng” ấy vốn là cái nhân.
Hết lo buồn sợ giận chính là cái quả.
Kinh Phật vẫn thường nhắc “chỉnh đốn thành công nguyên nhân, thì hiệu lực lành mạnh tự nhiên sẽ đến”. Bậc Giác Ngộ luôn luôn chuyển hóa cái nhân, chứ không bận tâm né tránh cái quả. –Càng không nên đầu hàng cái quả thực tại, mà phải sẵn sàng đối diện, “hóa giải” nó, một cách thường trực !
Đức Phật và chư Thánh Nhân, trước khi xả bỏ xác thân lần cuối, các Ngài đều trải qua bệnh hoạn trầm trọng. Nhưng “giác tánh” của các Ngài đã không còn bị cầm tù trong ngũ uẩn. “NÓ” không còn đồng hóa với tập khí, hay “thức uẩn” nữa, thì các Ngài làm gì có “lo buồn sợ giận”, phải tìm kiến hạnh phúc như chúng ta ?
Nói như vậy không có nghĩa là chúng ta dám so sánh lên cao, rồi “thiếu tin tưởng”vào khả năng tinh thần của mình. Chúng tôi chỉ xin đặc biệt nhấn mạnh rằng, sự thực hành thiện pháp đầy đủ (Bát Chánh Đạo), hay viên tròn Ba-la-mật (Giới, Định,Tuệ), là giải pháp duy nhất đoạn trừ được lo buồn sợ giận, tìm ra “hạnh phúc” !.
Tiện đây, do hoan hỷ trước “công thức 4T”, chúng tôi xin sáng kiến để cống hiến đến quí vị một “ký hiệu lành mạnh” bằng Anh Ngữ, gọi là “6W”, tạm dịch là “ký hiệu tự lực”.
“Công thức 6W” nầy tránh tối đa cái tiêu chuẩn đóng khung đối nghịch, “KHÔNG LÀ”, hay “PHẢI LÀ” (To be or not to be). Công thức đó khi viết đầy đủ, thì gồm các chữ Anh : Who(ai), What(cái gì), Why(tại sao), When(khi), Where(ở đâu), Which(cái nào)…liên quan đến đề tài “ĐI TÌM HẠNH PHÚC”, như sau :
–WHO (ai) : Ai đi tìm hạnh phúc. Bạn là ai, bạn tỉnh táo chưa ?
–WHAT (gì) : Hạnh phúc là gì ? -Không biết thì làm sao nhận ra nó ?
–WHY (tại sao) : Lý do đi tìm hạnh phúc ? -Nhiều khi có hai ba lý do.
–WHEN (khi) : Lúc nào đi tìm hạnh phúc ? Thời gian không quay lại.
–WHERE (ở đâu) : Hạnh phúc có thể tìm ở đâu ? Nơi đích thật ?
–WHICH (cái nào) : Chọn pháp hành gì, để cảm giác hạnh phúc ?
Và trước khi nói đến “công thức 6W”, chúng ta thử khảo sát thêm một số Pháp Phật và các nguyên tắc tương đối trong khoa học lẫn triết học đã nêu, để làm nền tảng cho sự nghiên cứu đề tài “ĐI TÌM HẠNH PHÚC”.
III/ Xin trình bày theo thứ tự A, B, C
A – Về Phật học. Xin nhắc lại và diễn giảng tại chỗ :
–Các pháp bất ly (theo Vi Diệu Tạng)
–Các pháp nhị biên, song đối, tương khởi (kinh)
–Các pháp liên quan giữa NHÂN, DUYÊN, và QUẢ
-Các pháp nói về BA nghiệp, nhưng chì có MỘT thời.
B – Về khoa học và triết học. Thử bàn :
– Tính vật lý tương tác
– Sự cần thiết của luật song đối
– Thời gian không phải là 1 đường thẳng.
– Chu kỳ thời gian là “gạch nối” giữa khổ và vui.
(Gạch nối ấy cũng là ranh giới giữa “thường” và “vô thường”).
Khoa học vật lý chứng minh :
–Tận cái nầy chính là cái kia.
-Tốc lực xóa cả thời gian lẫn không gian.
C – Quay lại ký hiệu Anh ngữ 6W, liên quan đến đề tài, xin khai triển.
–AI (WHO), cá nhân nào đi tìm hạnh phúc. “AI” ở đây, ngoài cái nghĩa là người đã “tương đối có chánh niệm”, còn dựa trên pháp bất ly, “không tách rời những AI khác”. Tức là nhân vật “AI” đó cũng biết rằng, tất cả vui buồn của một cá nhân, không tách rời vui khổ của các cá nhân khác (cộng nghiệp). Vì vậy, KHÔNG NHẤT THIẾT “ta” phải là AI. Từ đó người học Phật sẽ có thái độ khoan dung, can đãm hơn. -Ngay cả trong nghịch cảnh, hay khi bị bệnh hoạn dày vò.
–CÁI GÌ (WHAT), là đối tượng hạnh phúc. Tuy hạnh phúc chỉ là một cảm giác (tâm sở THỌ lạc hay THỌ hỷ, nói theo nhà Phật). Nhưng trong đời sống phàm tục hằng ngày, hạnh phúc ấy vốn liên quan, và đến từ một đối tượng khách quan, tức hoàn cảnh gồm một hay nhiều người. Cái vui của người nầy RẤT có thể tốt hay xấu đối với người kia, chứ KHÔNG NHẤT THIẾT cố định. -Từ đó người học Phật sẽ có một thái độ sáng suốt, chính đáng, và mở rộng hơn, -không cần như thế nầy hay như thế khác. Ra khỏi cái khung PHẢI LÀ !
–TẠI SAO (WHY), hay động cơ đi tìm hạnh phúc. Động cơ ở đây nhằm có hiệu lực cải thiện, tiến hóa. Nếu động cơ chỉ là cái vui ích kỷ, cá nhân, thì nó vốn ngấm ngầm nghịch chiều với tiến hóa, và chắc chắn dẫn đến cái buồn (khách quan lẫn chủ quan). Cho nên, “tại sao” hay mục đích “đi tìm hạnh phúc” của người học Phật không bị “triết lý hóa” một cách vị ngã, hay “thoát tục hóa” một cách lý thuyết, như những “nhà thần học đại hùng biện” có óc thông minh sắc bén, xưa nay thường nêu ra và cổ võ !
–KHI (WHEN), hay thời gian. Thông thường thì người ta “đi tìm hạnh phúc” khi (thời gian) có cảm giác đau khổ. Nhưng theo nhà Phật, bên trong thời gian đã chứa sẵn cảm giác cả vui lẫn khổ, khỏi phải đi tìm. Ví như chu kỳ 24 giờ vẫn chứa cả ngày lẫn đêm, ánh sáng lẫn bóng tối. Và đó là một SỰ CẦN THIẾT. Hai trạng thái vui (sáng) và khổ (tối) ấy tuy vô thường, nhưng đều THẬT. Người thanh tịnh không vì tính không bền vững của chúng, mà cho là chúng GIẢ, rồi bắt mình “quên đi”. -Mà thực tế thì không thể làm được !
Và hiệu lực của THIỀN PHÁP trong nhà Phật cũng không phải để quên cảm giác, mà là để chẳng vướng vào cảm giác, để được tự do, và để hóa giải mọi cảm giác lo buồn sợ giận ! Vì vậy, hành thiền cần thường xuyên (như hơi thở), chứ KHÔNG NHẤT THIẾT phải là THỜI GIAN đóng khung nào !
–Ở ĐÂU (WHERE), không gian. Đây là một từ ngữ ám chỉ “sắc vật giới” bất định ở tất cả các chiều. Không gian có thể là một địa điểm rất hạn chế, và không gian cũng có thể là vô biên. “Ở đâu” nói đây, chỉ là một từ ngữ chế định, tạm qui ước để định hướng thực tại. Nhưng nơi nào cũng là không gian cả.
Về phương diện tâm lý triết học, thử nêu thí dụ : Một “tù nhân” khi thức tỉnh, đang hướng thiện, hay đã giác ngộ, cũng có thể có “cảm giác tự do” ngay trong chỗ bị giam giữ chật hẹp, cho đến khi mãn án.
Như vậy, cảm giác tự do tùy thuộc ở khả năng chấp nhận thực tại và tính vượt thắng chính mình một cách thanh tịnh, (khi đối diện một nghịch cảnh). Hạnh phúc tự do KHÔNG NHẤT THIẾT ở không gian nào, hay phải là Ở ĐÂU ! -Sống tại gia mà chẳng vướng mắc, thì cũng có thể tự tại, thảnh thơi…như đã xuất gia !
–CÁI NÀO (WHICH). Ở đây từ ngữ “cái nào” ám chỉ sự chọn lựa tỉnh táo, thích ứng. Người sáng suốt, thường xuyên tu tập thân tâm, sẽ không chọn lầm đối tượng, để có cảm giác tự tại hạnh phúc. Vì vậy, KHÔNG NHẤT ĐỊNH phải là PHÁP “ấy” !
(*Ngoài ra, nội dung “6W” cũng có thể được áp dụng qua nhiều lãnh vực khác, trong đời sống hằng ngày. Xin nêu vài ví dụ liên quan đến kinh doanh, chính trị, kinh tế, ngoại giao, khoa học..v..v…).
IV/ Kết luận:
Kết luận ở đây xin được hiểu, là phần qui nạp những điều chính, vào một “đoạn văn ngắn”, chuyên chở hầu hết các ý nghĩa trọng tâm của đề tài, sau một thời gian hân hạnh trình bày.
Chúng tôi mạo muội qui nạp rằng, “KHẢ NĂNG TÌM ĐƯỢC HẠNH PHÚC (dù chỉ tương đối), của một người, tùy thuộc hẳn vào trình độ hiểu biết thực tại (nội tâm lẫn ngoại cảnh), và thái độ chấp nhận duyên nghiệp (đã tạo ra trong quá khứ) của chính họ.
Ngoài ra, TỰ LỰC cũng là một Pháp Phật có giá trị hàng đầu. Mỗi cá nhân nên thành thật tự hỏi, “ta đã hiểu biết ta hiện như thế nào ?”, “ta tự hiểu biết vui khổ trong ta là gì ?”, và “khả năng hóa giải nghịch cảnh của ta tới đâu, để truy tìm hạnh phúc ?”.
Khi đã hiểu biết rồi, thì một người (dù chưa gặp bất hạnh hay đang đối diện với bất hạnh) sẽ thấy rõ đối tượng gây cảm giác hạnh phúc nơi họ phát nguồn từ đâu. Và họ cũng biết rằng “đối tượng cho họ cảm giác dễ chịu trước thực tại, gọi là hạnh phúc” ấy, không nhất thiết phải giống như người khác” (bỡi căn cơ khác nhau). Do đó, ta không cần phải có cái “tốt” giống người khác, thì ta mới vui !
Họ cũng cần thành thật phân biệt một cách sâu sắc rằng, “Biết các tư tưởng cao siêu không phải là được thoát tục”. Các câu kinh Bác-Nhã “sắc tức thị không, không tức thị sắc….”chỉ có giá trị tuyệt vời, khi đó là một sự chứng đắc (trải nghiệm). Nhưng nó không là gì cả, khi chỉ là một số lời kinh văn học thuộc lòng !
Họ cũng tự biết “Chư Thánh Nhân sống với hạnh thoát tục, chứ các Ngài không sống với tư duy thoát tục”.
-Nếu quả thật hễ ai có trong đầu tư tưởng thương người là kẻ luôn luôn hành động vì người, thì thế gian đã bớt đi rất nhiều đau khổ rồi !
Đa số phàm nhân (nhất là trong hàng ngũ trí thức), thường thích sưu tập thành cả cuốn sách, chứa đầy những lời lẽ siêu việt, thoát tục. Họ rất hài lòng với những lý thuyêt và tư duy thoat tục ấy, nhưng họ vẫn luôn luôn cảm thấy mình còn khổ não, không thoát tục !
Vả lại, trong buổi sinh hoạt hôm nay, chúng ta nêu ra và thảo luận đề tài “đi tìm HẠNH PHÚC”, với ý muốn xem đó như một phương pháp điều chỉnh tư duy, để áp dụng và “ngăn ngừa phiền não”. (?!)
Phiền não nói chung ở đây là ai, hỉ, nộ, ái, ố, lạc, dục (thất tình), hay 4 “tập khí” lo, buồn, sợ, giận trong mỗi con người phàm tục. Chúng không phải chỉ làm khổ tinh thần, mà nó còn làm khổ cả thể xác.
Theo khoa học, khi thể xác đau, bệnh nhân phải uống thuốc bằng thân lẫn bằng tâm (tin tưởng), thì khi tinh thần đau, bệnh nhân cũng phải làm như thế. Nghĩa là “bệnh tinh thần” phải được điều chỉnh tư duy bằng pháp hành (qua thân và qua tâm, tức là tín lực, chánh kiến), thì mới hiệu quả, chứ không phải chỉ bằng tư duy suông, hay suy nghĩ lý thuyết là đủ !
Ngoài ra, đức tính sáng suốt và sự nhìn nhận tác dụng khoa học thực nghiệm cũng cần phải được tôn trọng trong mọi tư duy, kể cả khái niệm “đi tìm hạnh phúc”. Vô tư trong thực nghiệm chính là một thái độ then chốt, trong mọi tiến trình văn hóa.
Đối với một cá nhân gặp bất hạnh, việc trước mắt là phải bình tĩnh, sẵn sàng trải qua các thử thách.
Kiến thức về tôn giáo nói chung, về Phật học nói riêng, mô tả rõ ràng trong kinh sách, liên quan đến các thực tế thăng trầm…dù sâu sắc, hiển nhiên đến đâu, tuy là một trợ lực tinh thần rất tốt, nhưng nó không phải là phép lạ !
Nếu nghĩ rằng “những kiến thức Phật học ấy sẽ giúp ta vượt qua bất hạnh”, rồi “ta được tự nhiên được an vui, với sức mạnh tinh thần”(?), không cần bắt tay tu tập, thì đó là một điều lầm lạc lớn !
Những kiến thức tôn giáo, hay lý thuyết thần học càng KHÔNG phải là “thiền lực”, để có thể cho ta những khả năng kỳ diệu. Vì thiền lực chỉ đạt được sau khi hành giả đã trải qua một quá trình tu tập, thực hành thiện pháp, với đầy đủ chánh kiến và đã thành công. Nó hoàn toàn khác với lý thuyết triết học và tư duy vụ lợi.
–Không nên nghĩ rằng “sự thành tâm cầu xin tha lực và tuyệt đối tin tưởng một đấng thiêng liêng nào đó, thì vượt qua mọi đau khổ tinh thần lẫn thể xác”, tìm ra “hạnh phúc”. -Trên thực tế, sự tin tưởng và thành tâm cầu nguyện vì vụ lợi không có một giá trị cứu độ nào cả !
–Theo hiểu biết chung, thì “Thần Thánh linh thiêng” luôn luôn biết rõ tâm địa của con người. -Ai trong khi cầu xin mà dám không thành tâm, hay chẳng tin tưởng ?! –Như vậy, hai yếu tố “thành tâm và tin tưởng vụ lợi” không phải là “bằng chứng” để kết luận rằng “tâm” ấy “xứng đáng” được thần thánh hộ trì, ban cho hạnh phúc !
Người tin “hạnh phúc tuyệt đối đến từ tha lực”, thì không bao giờ có hạnh phúc nội tại. Vì tính tương tác xác nhận rằng “KHÔNG CÓ TỰ LỰC THÌ KHÔNG CÓ THA LỰC”
Hơn nữa, tinh thần và thể xác luôn luôn liên quan chặc chẽ với nhau. Trên thực tế, thể xác ảnh hưởng tinh thần rất dễ dàng, bất cứ lúc nào và vô điều kiện. Hễ thể xác bệnh hoạn thì tinh thần lập tức trở thành bạc nhược. -Ngược lại, khi tinh thần hướng thiện, muốn hướng dẫn thể xác thì nó tuyệt đối đòi hỏi một điều kiện. Đó là điều kiện tinh thần phải an trụ, chánh niệm, và thuần thục trong định !
An trụ, chánh niệm, và thuần thục trong định tuy là một kết quả không phải bất khả đạt, nhưng NÓ vốn là một kết quả không dễ đạt được. -Nhất là không thể đạt do lý thuyết suông và chỉ tin tưởng tha lực, hay tư duy thoát tục trong đầu !
Chưa kể khi sự cầu xin không kết quả, thì đương sự sẽ giận hờn thần thánh, hay khi “lý tưởng trong đầu” không được chứng minh. Ví như trường hợp đương sự nhớ mãi các “tư duy thoát tục”, và “quán chiếu” một cách tôn vinh, mà phiền não vẫn “không vơi”, thì đương sự dễ quay qua nghi ngờ “tính cao siêu” ấy, rồi tuyệt vọng, chối bỏ giá trị giáo lý, nhiêu khi còn quay lại phỉ báng là đằng khác !
Xin quí vị đừng hiểu lầm chúng tôi cố ý phủ nhận “SỰ KỲ DIỆU”của tôn giáo, hay “niềm tin”. Vì ngay cả trong lãnh vực vật lý (đầy tính cụ thể và tương tác) chúng ta cũng từng trải nghiệm rằng “có cái nầy thì mới có cái kia”. Sức mạnh tương tác trong thiện đạo tạo “phép lạ” vẫn đến từ công phu thân xác phối hợp với tinh thần.
Với ý nghĩa TỰ LỰC, chúng ta hãy tự hỏi, chúng ta đã thực sự “tự mình đi tìm hạnh phúc”qua luật tương tác chưa (?), hay chúng ta chỉ thường xuyên hướng về tha lực, ỷ lại vào “đức tin vụ lợi” trong tâm ?
Chúng tôi đã từng nói trong một buổi pháp thoại trước đây rằng, giả sử SỰ KỲ DIỆU của tôn giáo (không phân biệt đạo nào) được cụ thể hóa, và tượng trưng bằng hiệu lực của tiếng chuông, thì cái chuông đơn phương không thể “ban cho” chúng ta những âm thanh đầy linh cảm, siêu thoát được, mà chính do con người thanh tịnh đã cầm dùi gõ vào cái chuông ấy.
-Tất nhiên, nếu không có cái chuông thì chẳng bao giờ có tiếng ngân vang, có khả năng cảnh tỉnh trên cõi đời lắm xung đột nầy. -Hay không có tôn giáo thì làm sao có sự huyền diệu !?
Văn thơ nhà thiền ngày xưa đã có câu :
“Bán dạ chung thanh đáo khách thuyền” (!)
(“Nửa đêm tiếng chuông đến thuyền khách” làm thanh thoát tâm hồn).
Nghĩa là, nếu điều kiện không đủ để làm phát ra tiếng chuông, thì con người làm sao nghe và cảm nhận được âm thanh ngân vang, một cách thanh thoát ! Cũng như nếu không có tự lực khởi xướng, thì làm sao có tha lực đáp ứng, để con người tiếp cận với sự kỳ diệu ?
Theo Phật giáo “sức mạnh tự lực”do PHÁP HÀNH TRUNG ĐẠO là khả năng hữu hiệu nhất, trong việc vượt qua những khó khăn tinh thần lẫn thể xác, gọi là tìm vui, giải khổ, hướng đến hạnh phúc.
Trường hợp “đặc biệt”, khi một người phàm có chánh kiến, với lòng tin sắc đá vào đức hạnh, luôn luôn giữ đúng 5 giới trong đời sống hằng ngày. Lúc gặp trở ngại hay bệnh hoạn, người ấy “có thể” cũng tập trung tinh thần và cầu nguyện, để “bớt đi” lo-buồn-sợ-giận (như bao nhiêu kẻ khác), và họ cảm thấy “linh ứng”. -Vì sao ?
Vì nếu bình tâm suy xét, Sự kỳ diệu ấy không phải “hoàn toàn” do tha lực, mà là do tự lực giới hạnh. Đúng như câu “Giới năng sinh định. Định năng sinh Tuệ”. –Tự lực ở đây cũng là tha lực, và ngược lại. Người ta đã chẳng nói “Thần thánh hằng hộ trì kẻ giới đức” đó sao ?!
Nghĩa là một người sống phạm hạnh, cụ thể là không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, và không dùng chất say, thì chủng tử lo buồn sơ giận trong tâm người ấy rất yếu. Cho dù người ấy chưa hành thiền, nhưng giới hạnh tinh khiết vẫn làm cho thần lực của họ sung mãn, và vượt qua thực tại dễ dàng. Đây hiển nhiên là một điều rất chính đáng. Người có giới hạnh thì hạnh phúc.
Hạnh phúc thật ra không gì khác hơn là những tập hợp của các CẢM GIÁC DỄ CHỊU (mànàpa vedanà), xuyên qua 5 hay 6 giác quan. Khi lành mạnh (không đau ốm), thì những cảm giác dễ chịu ấy rất “cần thiết” đối với phàm nhân, vì khả năng “làm dịu phần nào” nỗi khổ trong đời, duy trì sự bình thường cho một con người.
Dĩ nhiên những cảm giác dễ chịu ấy vẫn vô thường, phù du, nhưng chúng ta chớ nên vì sự phù du của “hạnh phúc” ấy, mà chối bỏ các cảm giác dễ chịu hợp lý. Nhất là chối bỏ một cách khổ hạnh, để “tự hào” chứng minh mình có đạo đức. Tự hào trong trường hợp nầy chính là một bộ mặt khác của ngã mạn. Và cường điệu hơn nữa, là thái độ tỏ ra ghê tởm các cảm giác vui (hạnh phúc nhất thời), xem chúng như nguồn gốc của đau khổ…thì đó lại là một phản ứng tinh vi của bạo động và ngã mạn, một bộ mặt khác của tập khí si mê.
-Trên thực tế, sự sống chính là cảm giác, còn sống là còn cảm giác, chối bỏ cảm giác là tự sát ! Người học Phật luôn luôn tỉnh thức để ôn hòa định hướng, và lành mạnh hóa cảm giác, cải thiện chính mình, chứ không bạo động với cảm giác !
Đạo sĩ Cồ-Đàm (Gotama) trước khi đắc “Chánh đẳng Chánh Giác” đã lầm lạc xa lìa hẳn cảm giác dễ chịu, thực hành khổ hạnh tận cùng suốt 6 năm trường, và Ngài đã chẳng thành tựu được gỉ, nếu không muốn nói là bế tắc (?). Nhưng sau đó Ngài đã tỉnh ngộ, quay về TRUNG ĐẠO (tránh xa 2 thái cực, là lợi dưỡng và ép xác), Và Ngài đã đắc chứng quả Phật, giải thoát.
Noi gương ấy, chúng ta chẳng những không nên cực đoan, không nên chối bỏ mọi cảm giác bình thường lẫn bất bình thường, mà phải hướng thiện “thực tại hóa” mọi cảm giác vui lẫn khổ, để vui vẻ sống hòa bình với chúng.
Mà muốn sống hoà bình với cảm giác, chúng ta cần phải áp dụng “pháp môn Phật học tiếp cận, hay NIỆM THÂN” (Kàya anupassati patthàna), dùng cảm giác trong ta như phương tiện để nhận diện thân tâm mình.
Và khả năng “điều khiển” được chính mình, tùy thuộc vào sự nhận diện tinh vi, thanh tịnh đó. Xem ra ngoài thân tâm nầy, không có cảm giác ở nơi khác ! -Thân tâm của chính mình là “bể khổ”. Muốn vượt qua “bể khổ ấy” chỉ có một cách duy nhất, là phải trưc tiếp nhận diện “sóng gió” trong “biển thân” đó !
(Sau nầy nếu đủ nhân duyên, chúng tôi và quí vị sẽ thử “thực tập pháp môn tiếp cận” (NIỆM THÂN) nầy với nhau).
Cần nhấn mạnh thêm rằng, cảm giác gọi là “vui” ở đây, phải là cảm giác vô hại đối với kẻ khác. Vì bên trong bất cứ cảm giác nào nếu tổn hại đến chúng sanh khác, đều cũng tinh vi chứa đựng sự sợ sệt (quả báo), mà mỗi người tự có trong sâu thẳm tâm thức, rất khó nhận ra.
-Nên “cảm giác vui” ích kỷ không thể là cảm giác hạnh phúc !
Ngoài ra, về phương diện triết học, sự đau khổ cũng gián tiếp “đóng góp” rất nhiều cho “hạnh phúc”. Ba tướng vô thường, khổ (chịu đựng hài lòng lẫn bất mãn), và vô ngã, xưa nay vẫn bị xem là “đáng ghét”. Nhưng hiệu lực của ba “PHÁP” ấy, vốn là ba duyên tố cần thiết, để duy trì mọi vận hành biến hóa cho tâm và vật trong mọi luân hồi.
Nhờ định hướng thiện do vô thường, do chịu đựng khổ vui, và do vô ngã, mà phát sinh con đường thăng hoa tâm linh, tiến hóa vật chất, để đạt đến chân-thiện-mỹ, hay siêu thoát, không còn đau khổ lẫn hạnh phúc nữa. –Khi đã tiến bước trên THIỆN ĐẠO một cách thành công rồi, thì sự đi tìm hạnh phúc sẽ không được đặt ra !
Quay lại thực tại phàm tình, tất cả thái độ đóng khung hay cực đoan đều nguy hiểm. Nhưng nguy hiểm hơn hết, là xem hạnh phúc tạm thời là giả dối, là lừa gạt, là cạm bẩy, và tuyệt đối phải tránh xa. Đó là phản ứng của VÔ MINH, nó chắc chắn sẽ dẫn đến vòng vướng mắc.
Trên thực tế, người ngoài miệng càng chỉ trích, chối bỏ hạnh phúc vật chất, là người trong thâm tâm càng ham thích, vướng vào vật chất, (mới hằn học phản ứng như vậy), và ấy là người mắc dính ngũ dục.
-Theo MAHÀ NIDDESA, phần nói về “ác dục”, vào thời Đức Phật, đã có những “tu sĩ” phàm tình, thường chủ tâm từ chối lợi ích vật chất vài ba lần đầu, để về sau nhận được nhiều hơn”. (Đóng kịch).
-Còn người có tâm thanh tịnh, chánh niệm, thì cảnh giác trước mọi lôi kéo của cảm giác hạnh phúc (vật chất lẫn tinh thần). Họ luôn luôn sáng suốt hóa giải, sống chung với tất cả cảm giác (dễ chịu lẫn khó chịu) do vật chất hay tinh thần gây ra, nhưng họ không nói gì hết. Họ lặng lẽ giữ giới cùng hành thiền, để thanh lọc tự tâm, một cách vui vẻ.
Đó cũng là một áp dụng của Trung Đạo. Vấn đề còn lại là làm sao không bị lạc khỏi Trung Đạo, duy trì được chánh niệm, và chuyên cần tu tập, để tinh thần tiến hóa đều đặn, mà tránh tinh tấn cực đoan !
Xin nhắc lại một lần nữa, là chớ tin một cách tuyệt đối rằng : “Ta có nhiều tư tưởng cao siêu, thoát tục trong đầu. Khi gặp nghịch cảnh (như thất bại giữa trường đời, hay đau ốm trầm trọng chẳng hạng), thì ta cứ nhớ lại và “quán chiếu” những câu nói “chỉ nam” ấy, để ta được giải thoát phiền não !
-Vì khả năng “tư duy rồi được an ủi” nếu có trong muôn một, vẫn không phải là giải pháp ! Và trong giờ phút lâm chung, tâm thức không còn đủ khả năng “sang suốt”, để “quán chiếu” như thế !
–Hiện tượng “nhập tâm tư tưởng” biến thành tự kỷ ám thị” rất hiếm khi nghiệm đúng. Nó chỉ có thể xem “tương đương” với “hiệu lực” của lời “khuyên giải”, và hiện tượng “tốt” ấy vốn rất tạm thời. Nó luôn luôn “lừa gạt” một cách tinh vi những ai “ngây thơ” tình nguyện làm nạn nhân cho nó !
Ví như một diễn viên rành nghề trên sân khấu, có thể đóng vai một tổng thống rất giống, nhiều khi còn “phong độ” hơn một chính khách tổng thống thật, nhưng thực tế anh vẫn là diễn viên !
Đức Phật và Chư Thánh, trong giờ phút lâm chung, các Ngài vượt qua được đau đớn dễ dàng, nhờ các Ngài đã viên tròn ba-la-mật chánh định (Paramattha pàramì samàdhi= vô lượng công phu thực hành viên tròn thiền pháp), tâm các Ngài là Tâm Toàn Tịnh, chứ Các Ngài lúc ấy không phải cầu cạnh, “quán chiếu” nơi “tư tưởng siêu việt”!
Trong ngôn ngữ nhà Phật, nếu có nhóm từ “phát triển tuệ giác”, thì cực đoan (cố chấp) và “tự kỷ ám thị” (tham và tin tưởng tha lực hay tư duy thoát tục), là 2 trở ngại lớn nhất cho sự phát triển tuệ giác.
Xin nhấn mạnh lại 1 lần nữa, rằng “tuệ giác không thể phát sinh ở một tinh thần cực đoan, căng thẳng vì cố chấp, nhất là cực đoan tin vào tha lực, và tin vào lý thuyết của tư duy siêu thoát, mà thiếu hẳn pháp hành để chẳng hiểu biết đúng về mình, hay về con người thực tại.
Và muốn hiểu biết rõ về mình, thì phải hành thâm Phật học, ít lý thuyết nhiều thực hành, áp dụng đúng những gì đã biết từ Phật giáo, cũng như từ khoa học, bao gồm các kinh nghiệm sống lành mạnh (như dưỡng sinh, yoga, thể dục) !
Khi đã hiểu biết sâu sắc về mình, thì mới có thể đi tìm hạnh phúc cho mình hữu hiệu được!
Cám ơn quí vị đã chú ý lắng nghe.
Của Cư sĩ TUỆ LẠC
« Hạnh phúc ai bán mà mua,
Ai cho mà lấy, ai thừa mà xin! »