Phật Giáo Nam Truyền và Phật Giáo Bắc Truyền.

Thuyết trình

 (Chủ Nhật 30/11/2014, tại tịnh xá LIÊN HOA, quận 7, thành phố HCM, VN)

A/ Vào đề:

*Tạm định nghĩa một cách khách quan hai từ ngữ «NAM TRUYỀN» và «BẮC TRUYỀN».

*Thử phân biệt lướt qua các từ ngữ thường nghe, là «Phật giáo», «Phật học»,«Đạo Phật».

*Nhắc lại những tên gọi các hệ thống Phật giáo, quen dùng tại VN, cần được “điều chỉnh”, như «Đại Thừa», «Tiểu thừa», «Nguyên Thủy», «Bắc Tông» và «Nam Tông».

*Lược kê các cuộc Kết Tập Kinh Điển Phật Giáo, chỉ có trong giáo sử Nam Truyền, kể từ sau Phật tịch đến nay. Và bày tỏ sự đáng tiếc, không tìm thấy những thư liệu tương tự của Phật Giáo Bắc Truyền. (Mời xem phụ lục trang 6).

B/Chính Đề.

I/Quan sát hình thức : PG Nam Truyền và PG Bắc Truyền khác hẳn nhau về hình thức. Đó là y phục, cách thờ phượng, nghi lễ, thực phẩm cho giới tu hành (chay mặn), văn tự (chữ viết trong kinh sách), và cách kiến trúc tự viện. -Vì khác hẳn nhau, nên hai mạch chính kế thừa PG, mỗi bên có một hình thức riêng. –Thuyết trình viên xin phép không bàn sâu vào lý do khác biệt, vì không đủ thời giờ.

II/Quan sát nội dung : Xét về nội dung, chúng ta thấy có hai mặt đáng nói, là giống nhau, khác nhau.

*Về mặt GIỐNG NHAU:

1-Nam Truyền và Bắc Truyền đều lấy tam học, là GIỚI ĐỊNH TUỆ (Sìla, Samàdhi, Pannà), để giải trừ tam độc là THAM SÂN SI (Lobha, Dosa, Moha), làm tiến trình tu tập.

2-Nam Truyền và Bắc Truyền đều lấy Tứ Diệu Đế (gồm Bát Chánh Đạo), và Thập Nhị Nhân Duyên, để làm giáo lý định hướng (hay nhân sinh quan) cho pháp tiến hóa.

3-Nam Truyền và Bắc Truyền đều lấy quy luật «Nhân Duyên Quả» (hay luật NGHIỆP QUẢ = Karma-Vipàka) làm nền tảng của các pháp hành (HỮU VI).

4-Nam Truyền và Bắc truyền đều lấy tam tướng (hay ba hiện tượng) VÔ THƯỜNG (Aniccà), KHỔ NÃO (Dukkhà hay chịu đựng nhị biên, vọng động), và VÔ NGÃ (Anattà) làm tiêu chuẩn của giải thoát (Vimokkha).

*Về mặt KHÁC NHAU :

1-Nam truyền và Bắc truyền khác nhau về quan điểm cứu cánh, hay mức độ siêu thoát. Nam truyền và Bắc truyền không định rõ (hay chưa phân biệt) HẠNH TOÀN XÃ (Upekkhà) và lý thuyết Tánh Không (vô chấp).

2-Nam truyền và Bắc truyền khác nhau về phẩm cách Bồ Tát (Bodhisattvà). Theo Nam Truyền thì một thiện nhân giữ đúng 5 giới trở lên một cách chắc chắn, là bắt đầu thực hành HẠNH BỒ TÁT. –Nhưng Phật Giáo Nam Truyền không có «số giới Bồ-Tát» nhất định cho người hành đạo. -Còn theo Phật Giáo Bắc Truyền thì Bồ-Tát có một số giới rõ rệt.

3-Nam truyền và Bắc truyền khác nhau về Pháp Độ (Pàramì). Theo PG Nam Truyền thì PHÁP ĐỘ* có đến 10 (hay thập Ba-La-Mật = Dasa Pàramí). Hành giả thuần thục thập độ thì giải thoát. Nhưng theo PG Bắc Truyền thì chỉ có 6 pháp độ, hay LỤC ĐỘ**. -Như được ghi dưới đây :

*Thập độ gồm 1/bố thí, 2/trì giới, 3/xuất gia, 4/trí tuệ, 5/tinh tấn, 6/nhẫn nại, 7/chân thật, 8/quyết định, 9/bác ái, 10/xả). **Lục độ gồm 1/bố thí, 2/trì giới, 3/nhẫn nại, 4/tinh tấn, 5/thiền định, 6/trí tuệ). –“ĐỘ” ở đây không phải là một “cấp bậc vinh dự” để ham muốn, mà là “viên mãn phạm hạnh” !

4-Nam truyền và Bắc truyền khác nhau về phẩm giải thoát sinh tử luân hồi. PG Nam Truyền cho rằng, khi giải thoát thì đương nhiên Phật hay Thánh A-La-Hán đã viên tròn Ba La Mật (viên dung Bồ-tát hạnh). Nghĩa là bậc giải thoát không còn «chủng tử tái sinh» trong tâm thức (hay trong Phật Tánh).

(Theo Atthasàlinì, chú giải của bộ Vi Diệu Pháp Tụ (Abhidhammasanganì) PG Nam Truyền, thì trong “chu kỳ luân hồi tâm thức” của một người chưa giải thoát, “mỗi chập tâm đi trước là “nhân duyên phát sinh” của chập tâm đi sau”. Nhưng trong chư Phật và A-La-Hán thì chập tâm tử (Cuticitta, một “khoen” trong “chu kỳ luân hồi tâm thức”) của 2 bậc nầy, là đoạn tận duyên. Nghĩa là ở giây phút tịch diệt, hay tiếp theo chập tâm tử của Phật và A La Hán, không có tâm tái sinh (luân hồi trong tam giới) !

-Nhưng trái lại theo PG. Bắc Truyền, trong Phật Toàn Giác còn “tâm thức tái sinh” của “hạnh nguyện độ tận tam giới”, nhất là từ tâm hướng về các cõi khổ. Nên một vị Phật còn có thể tái sinh làm «Bồ-Tát với nhiều quyền năng», xuyên qua vô số kiếp nữa, để cứu giúp chúng sanh.

-Quan niệm ấy có thể làm cho một số người tự hỏi “Phải chăng đây là nguyên nhân của sự phát sinh niềm tin vào THA LỰC trong đạo Phật ?!” -Câu hỏi dĩ nhiên chưa chắc đã đầy đủ lý lẽ, và chưa được đồng thuận trả lời, xác nhận. Nhưng nghi vấn của vấn đề vẫn phải đặt ra !

-Từ đó, nếu bàn xa hơn nữa, rằng khi đã tin vào tha lực, thì tự nhiên trong tư duy con người, sẽ phát sinh những cấp bậc thấp cao, về «địa vị» của chư Phật (Buddha), của Bồ-Tát (Bodhisatvà), và của Thánh nhân A-La-Hán (Arahatta), liên hệ một cách khinh trọng, đến ba phẩm cách Tự Độ, Độ Tha,Giác Độ Viên mãn.

C/Kết luận

«chỉ đề nghị QUI NẠP những tư tưởng giống nhau».

-Nói là «đề nghi qui nạp», vì diễn giả tự cho «mình chỉ là người phát biểu một đề tài Phật học, hay chia xẻ một cái nhìn về Phật Giáo». Qui Nạp chỉ là «sự cô đọng một ý kiến». Còn «kết luận» thì xin dành cho mỗi đạo hữu thính giả. Và rất có thể những kết luận ấy của quí vị sẽ khác nhau, như một lẽ tự nhiên, cần thiết !

-Vậy «qui nạp» của chúng tôi như thế nào ?

1-Rằng những lời dạy trong cả PG Nam Truyền lẫn PG Bắc Truyền, là những kim ngôn cao thượng, có hiệu lực hướng dẫn chúng sanh (nhất là nhân loại), sống thiện để tiến hóa, giảm khổ, và sau cùng đạt tới cứu cánh diệt khổ, thoát khỏi các vòng sinh tử luân hồi.

2-Rằng hành đạo để siêu độ trong PG (Nam truyền lẫn Bắc truyền) tuy có cứu cánh hướng đến xuất thế, nhưng hành giả phải luôn luôn bắt đầu, bằng công phu nhập thế.

3-Rằng 2 tư tưởng «CÓ» và «KHÔNG» chỉ là 2 BIÊN KIẾN của một vấn đề vướng mắc. -Chấp vào đã đành là tù ngục, nhưng chấp vào «KHÔNG» cũng bị kẹt một cách vi tế, và trầm trọng như chấp vào «CÓ» vậy, và vì là «chấp không» nên dễ mất định hướng !

4-Rằng sống thanh tịnh (theo PG Bắc truyền lẫn PG Nam truyền), là sống vô hạitoàn xả. (Nói chung là sống theo 37 pháp giác ngộ). Ấy chính là ĐẠO, để hóa giải toàn bộ ngũ uần luân hồi. Do đó, phàm nhân đang hướng thiện cần phân biệt «tư tưởng thoát tục khác hẳn HẠNH THOÁT TỤC». Và Thánh Nhân hằng sống với HẠNH THOÁT TỤC (thuần thục trong Pháp Độ), chứ các Ngài không sống với tư tưởng thoát tục. Vì tư tưởng thoát tục rất thịnh hành trong tinh thần phàm nhân, và cũng là một sản phẩm của TƯỞNG UẨN. Nó vốn là một vướng mắc tinh vi, sâu sắc, và khó nhận diện. Nó nằm rất sâu trong nhị biên kiến chấp giữa 2 ranh giới, «thoát tục» và «không thoát tục». Nó chính là một loại sở tri chướng về cái «ta có căn cơ thoát tục» đáng được tự mãn !

5-Rằng dân tộc VN có cái may là sống trên giải đất quê hương, tiếp thu được 2 nguồn Phật Học, là Nam Truyền và Bắc Truyền. Mỗi nguồn Phật Học có những tinh hoa vô giá, tích cực, khả thi, thích hợp, và đáng gìn giữ một cách trân trọng. -Nếu chúng ta chấp cứng vào một tinh hoa, mà bỏ đi tinh hoa kia, thì thật là đáng tiếc. Và không khéo chúng ta còn vô ý tạo mầm chia rẽ, đồng thời đi ngược TRUNG ĐẠO mà Đức Phật đã dạy.

Ngoài ra, chúng tôi cũng xin nhấn mạnh rằng : Đề cao con đường mình đang đi, lẫn hạ thấp con đường của kẻ khác, không phải la tư cách của người Phật tử. Và điều đó cũng không ngăn cản người học Phật nói ra những gì gần với sự thật, hầu soi sáng pháp hành, để cùng nhau tiến hóa. -Tiến hóa trong sự phát triển khả năng hóa giải khổ đau, cùng nhau hướng đến Phật tính.

-Trước khi dứt lời, chúng tôi xin nhắc lại câu nói của Đưc Phật đến thị giả A-Nan-Đa, rằng «Sau khi Như Lai tịch diệt, chư đệ tử hãy lấy pháp luật (Dhamma Vinaya) làm thầy». «Pháp luật» ở đây ám chỉ tất cả nội dung Phật Ngôn Như Thế* (tứcTam Tạng Kinh Điển không bị diễn giải lệch lạc, hay bị canh cải). -Y cứ theo nội dung Phật Ngôn Như Thế*, thì sẽ không sợ sự sống đạo rơi vào cảnh «nghịch duyên, bất hợp thời», không có chia rẽ, và không làm cho PG suy đồi !

(Chú thích: *Nội dung Phật Ngôn Như Thếsự thấu hiểu nghĩa lý hướng thiện, mà không mắc dính vào từ ngữ, văn tự, hay kiến chấp thế gian).

Chân thành cám ơn quí vị đã lắng nghe.

Diễn giả Tuệ Lạc.

*********

Phụ lục.

 Những Điểm Chính về các cuộc KẾT TẬP KINH ĐIỂN theo PHẬT GIÁO NAM TRUYỀN(Buddhasàsana Sangìti) 

Kết Tập lần thứ I : Pathama Sangìti.

Thời gian: 543 – 542 trước Tây lịch, 3 tháng sau khi Phật tịch.

Địa điểm: Tại động Sattapanniguha gần Vương Xá Thành (Rajgir), thủ đô của vương quốc cổ Magadha (Ma Kiệt Đà) nay thuộc bang BiharẤn Độ.

Phương pháp: Vấn đáp khẩu truyền.

Chủ tọa: Trưởng lão Đại Ca-Diếp (Mahà Kassapa Thera).

Mục tiêu: Để Ananda thuật lại Kinh văn. Upàli trả lời Giới Luật. Anuruddha

trả lời Vi Diệu Pháp.

Số tăng dự: 500 Thánh nhân A-La-Hán (Arahatta)

Bảo trợ : Vua A-xà-Thế (Àjàtasattu), xứ Ma-Kiệt-Đà (Magadha).

Chú ý: Toàn bộ giáo lý Đức Phật để lại, được kết tập trong lần thứ I, chỉ gồm hai phần KINH và LUẬT (Dhamma và Vinaya). Chưa phân ra 3 tạng (Ti-pitaka). 

Kết tập lần thứ II : Dutiya Sangìti.

Thời gian: 100 năm và 3 tháng sau Phật tịch. (=443-441 trước Tây Lịch)

Địa điểm: Vesali (Tỳ-Xá-Li), thủ đô tiểu quốc cổ Licchavi, nay thuộc Bihar Ấn Độ.

Phương pháp: Khẩu khẩu tương truyền, giữ nguyên lời Phật dạy, không chấp

nhận 10 điểm canh cải. (Tăng già bắt đầu chia rẽ vì số giới cấm).

Chủ tọa: Hai Ngài Yasa TheraRevata Thera (Khi đến thăm Phật giáo vùng Vajji, Vesàlì).

Mục tiêu: Bất hợp tác với nhóm tăng sĩ Vajjiputtaka, sống tại vùng Vajji.

Số tăng dự : 700 vị.

Bảo trợ: Vua Kalasoka và tín đồ theo Phật Giáo Tôn Túc Bộ (Theravàda).

Kết tập lần thứ III : Tatiya Sangìti. 

Thời gian : 247 trước Tây Lịch

Địa điểm: Tại Pàtaliputta (Hoa Thị Thành), tân thủ đô cổ quốc Ma-Kiệt-Đà

(Magadha), tức là thủ phủ Patna của tiểu bang Bihar, Ấn Độ bây giờ.

Phương pháp: Công nhận đạo Phật, dùng Phật giáo dạy dân chúng. Kinh điển

chia thành 3 tạng, gồm Kinh, Luật, và Vi Diệu Pháp, khắc trên đá.

Chủ tọa: Ngài quốc sư Moggaliputta Tissa.

Mục tiêu: Thanh lọc hàng ngũ tăng sĩ, được xã hội trọng vọng, thành hư hỏng.

Nhà vua đồng thời phái “Như Lai Sứ Giả” đi truyền đạo khắp nơi.

Số tăng dự : Giáo sử ghi “nhà vua triệu tập rất đông”, nhưng không nói con số.

Bảo trợ : Triều đại Mauriyan, Hoàng Đế Ashoka (A-Dục) 

Kết tập lần thứ IV :  Catutthì Sangìti

Thời gian: 100 trước công nguyên.

Địa điểm: Tại Aloka Lena, bây giờ là Alu Vihàra, Sri Lanka, xứ Tích Lan.

Phương pháp: Giải quyết xung đột giữa các phái Phật giáo địa phương. Lúc ấy,

phái Tôn Túc Bộ bị phái Đại Chúng Bộ tấn công và sát hại. In kinh điển tiếng

Lanka (Sinhalaise) lần đầu trên lá buông, để dễ dàng mang đi xa truyền đạo.

Chủ tọa: Không thấy ghi trong giáo sử.

Mục tiêu: Gây lại tình huynh đệ Phật giáo, nhất là áp dụng pháp lục hòa

Số tăng dự: Không thấy ghi trong giáo sử

Bảo trợ: Tuy cuộc kết tập xảy ra trong thời vua Vattagamani Abaya.

Nhưng trên thực tế, chính những tín đồ giàu có của phái TônTúc Bộ (Theravàda) ủng hộ. Còn nhà vua thì có ác cảm.

Chú ý :

-Sau đó, một cuộc kết tập kinh điển, tạm gọi là  lần thứ IV khác, đã xảy ra do phái Sarvastivàda thực hiện tại KashmirẤn Độ, do vua xứ Kushan, tên là Kanishaka bảo trợ, vào năm 78 sau thiên chúa, với 500 tăng sĩ, với Vasumitra cầm đầu. Cuộc kết tập nầy viết bằng chữ Sanskrit và Prakrit, trên giấy vàng.

Nhưng trải qua mấy lần Ấn Độ bị Hồi giáo tấn công rồi đô hộ, cướp mất và phá hủy toàn bộ. Bây giờ, những sử gia khảo cổ không tìm được dấu tích gì hết.

-Còn các nhà nghiên cứu PG Bắc Truyền thì thỉnh thoảng có nhắc đến cuộc kết tập kinh điển thứ IV “đặc niệt” nầy, nhưng họ chẳng tìm ra tài liệu giá trị nào cả, nhất là các tài liệu ấy phải được xác chứng, xuyên qua khoa học KHẢO CỔ (Archaerologie).

 

Kết tập lần thứ V : Pancama Sangìti

Thời gian: Vào năm 1871. (-Tức là 1993 năm sau lần thứ V).

Địa điểm: Tại “chùa vuaMindon ở chân đồi MandalayMiến Điện.

Phương pháp: Ba vị cao tăng nhất, thay phiên nhau tuyên tụng và dò bản chính,

không được sai một chữ. Việc làm kéo dài đến 5 tháng. Và sau đó  kinh điển được khắc trên lá buông, trên gỗ, hay trên đá, gồm 3 tạng chính thức (Kinh, Luật, và Vi Diệu Pháp) để lưu lại.

Kết quả, đã có 729 tấm bảo thạch, khắc toàn bộ kinh điển, và an trí tại “chùa vua” Mandalay cho đến ngày nay.

Chủ tọa: Ba vị đại hòa thượng Jagarabhivamsa, Narindabhidhaya, và

Sumangalasami đồng chủ tọa.

Mục tiêu: Bảo tồn lâu dài giáo lý nguyên thủy.

Số tăng dự: 2400 vị tỳ kheo có tuổi đạo từ 10 hạ trở lên.

Bảo trợVua Mindon xứ Suvannabhùmi (Kim Địa=đất vàng), Miến Điện

ngày nay.

 Kết tập lần thứ VI : Chatthì Sangìti.

 (Và cũng là lần sau cùng !)

Thời gian: 83 năm sau lần kết tập thứ  VI, tức là vào ngày 17-5-1954.

Địa điểm: Cũng ở Mandalay, tại “Vạn Thế Tự”, nước Miến Điện.

Phương pháp: Vấn đáp, theo chính bản quốc gia, được toàn tăng già công nhận.

Chủ tọa: Đồng chủ tọa bỡi hai vị hòa thượng, là Ngài Mahàsi Sayadaw vấn,

và Ngài Bhadanta Vicittasarabhivamsa đáp, suốt 2 năm.

Mục tiêu: Mời các quốc gia theo đạo Phật xít gần nhau, cùng gìn giữ Phật giáo,  như Tích Lan, Ấn Độ, Népal, Miến Điện, Thái Lan, Cao Miên, Lào, và Việt Nam. Kỷ niệm Vesakh 2500 năm Phật lịch.

Số tăng dự: 2500 vị. Bế mạc đúng ngày trăng tròn tháng tư Âm lịch, Vesakh.

Bảo trợ: Chính phủ Miến Điện, đại diện là Thủ Tướng U-Nu.

Tuệ Lạc sưu  tầm, để  cống hiến chư  đạo hữu.

(15/01/2014)

 

Laisser un commentaire