Buổi nói chuyện về Phật Pháp 22/3/2015.
Tại Phật Học Viên LS, Vitry
Diễn giả : Cư sĩ TUỆ LẠC
Kính thưa toàn thể quí vị,
«TU HÀNH THỰC CHẤT LÀ GI ?» không phải là một đề tài «hiếm khi nghe», hay ít ai nghĩ đến., mà nó có thể là một đề tài khá phổ thông, đối với những ai có đời sống tâm linh, hay «văn hóa».
«Tu hành Thực Chất là Gì ?» được đặt ra, có lẽ bỡi vì người ta thường dựa trên luật nghiệp quả, mà quan sát các hiện tượng nhân sinh. Và người ta ngầm «thắc mắc» rằng «đa số trong xã hội vẫn sốt sắng tu hành, nhưng nhìn chung, ai cũng thấy kết quả của sự tu hành không tương xứng» (?) –Nghĩa là thực tại là kết quả của tình trạng ít (hay không) tu hành, «thiếu đạo đức» !
Hai chữ «thực chất» (được gạch dưới) trong đề tài hôm nay, xem ra là «tâm điểm» của vấn đề. Chúng rất quan trọng, ám chỉ cái «tiềm lực của đức hạnh», và chúng không chuyên chở sự mô tả bề mặt, như hai chữ «thực tế». Nghĩa là :
-«Thực chất» nói lên «nội dung» của hành động.
-«Thực tế» nói lên «hình thức» của hành động.
Và mục đích của buổi nói chuyện hôm nay, chúng ta sẽ cố gắng bàn về cái «nội dung» đó. -Vậy xin vô đề :
«TU HÀNH» là sửa đổi tất cả hành vi (do thân cũng như do tâm) của một người, từ xấu ra tốt. Và 2 chữ «thực chất» theo sau 2 chữ «tu hành» để nhấn mạnh rằng «đó là sự im lặng làm đúng theo Phật ngôn mà không ngần ngại ngoại cảnh».
-Nói cách khác, hai chữ «thực chất» đại diện cho «hành động đầy đủ», của tính tự lực và quyết tâm.
Tuy nhiên, trước khi bàn xa hơn vào Phật học, chúng ta thử tìm hiểu vài khái niệm dân gian về hai chữ «tu hành».
«Tu hành» theo quan niệm chung của người Việt nam, là ăn chay (định kỳ hay thường xuyên), đồng thời tụng kinh gõ mõ, niệm Phật «vãng sanh», cúng bái, và thỉnh thoảng bố thí, phóng sinh…..
Còn những ai không theo đạo Phật, thì làm những điều có «chiều hướng tương tự», như các giáo sĩ của họ đã thường dạy dỗ.
Nhưng… tất cả những điều vừa nêu, dường như «quá nặng về hình thức». Ai không có lịch trình ăn chay, không tụng kinh niệm Phật mỗi ngày, không cúng bái, hay không đi chùa, không đi nhà thờ đọc kinh, không cầu nguyện, không thỉnh thoảng làm «việc thiện» cho nhiều người nhìn thấy, thì có thể bị xem là «thiếu tu hành».
-Nếu 100 người «ăn chay», hay 100 người đi nhà thờ để đọc «kinh tha thứ», mà là đầy đủ 100 người yêu thương chúng sanh (hay đồng loại), và hằng hỷ xả thực sự, thì cõi đời nầy đã giảm đi đau khổ rất nhiều.
Ngày nay, số người «ăn chay» và số người «đọc kinh tha thứ», trên thế giới càng ngày càng đông, nhưng những bất hạnh vì thiếu lòng từ bi và thiếu lòng tha thứ, trong đời sống loài người vẫn gia tăng, gia tăng một cách nghiêm trọng…là «bỡi nguyên nhân gì» ?
-Bản thân tôi cũng là người thường ăn chay và đề cao sự ăn chay, nhưng thú thật tôi ăn chay chỉ vì tôi biết rằng «ăn chay dễ tiêu, rất tốt cho sức khỏe » (ngoại trừ ăn phải những đồ chay, mà khi chế tạo, người ta bỏ quá nhiều hóa chất).
-Nghĩa là theo tôi, ăn chay không phải là yếu tố chính trong việc tu hành. Ăn chay chỉ là một trong những phương tiện tu tập. Nói như vậy không có nghĩa là tôi gián tiếp «biện hộ» cho việc ăn mặn.
Hiện tượng «ăn chay ăn mặn» đã làm cho Phật giáo bất đồng, chia rẽ, ngấm ngầm xung đột lẫn nhau, từ nhiều thế kỷ rồi. -Càng «biện hộ» cho bên nầy hay cho bên kia, thì càng làm cho trình trạng xấu hơn. -Đối với tôi, hãy im lặng nhớ lại (hay đọc lại) Phật ngôn, rồi cố gắng làm đúng, là tốt nhất. -Tu theo PHẬT THỪA, chứ không phải «đại thừa» hay «tiểu thừa» gì cả !
Như vậy PHẬT THỪA thuyết minh
«tu hành thực chất cần phải như thế nào ?»
Hai chữ «thực chất» trong đề tài hôm nay, tự nó đã nói lên một phần lời giải đáp. «Thực chất» ở đây chuyên chở ý nghĩa cốt lõi, hay nội dung của sự tu hành. Nó là cái giá trị mặc nhiên của một bậc phạm hạnh, sống bằng lời Phật dạy, hay sống đạo.
Nhưng trước khi đi sâu vào «SỐNG ĐẠO», tôi xin phép quí vị được nhắc lại câu chuyện Bồ-tát Sĩ-Đạt-Ta Cồ-Đàm (Siddharta Gotama Bodhisatvà) đã trải qua 6 năm tuyệt đối khổ hạnh.
Sáu năm ấy Ngài cũng đã «sống đạo» một cách cực kỳ tinh tấn, và chưa có một giáo chủ nào trong lịch sử tôn giáo, đã làm được như thế. Nhưng rất tiếc là Ngài đã không thành công, vì không sống trong trung đạo (Majjhimapatipadà magga). Và chỉ sau khi Ngài «thức tỉnh», SỐNG TRUNG ĐẠO thì Ngài mới thành Phật.
-Mời quí vị tìm đọc lại đoạn đầu của kinh Chuyển Pháp Luân (Cakkappavattanasutta), bài kinh Đức Phật khởi thuyết để lăn Bánh Xe Pháp. (Chúng tôi đã dịch trên website tuelac.net). Trong đoạn đầu bài kinh CHUYỂN PHÁP LUÂN nầy, Đức Phật đã khuyên năm vi Kiều-Trần-Như, phải tránh xa hai điều cực đoan : Một là tuyệt đối hành xác, và hai là sống lợi dưỡng (hưởng thụ).
Ngoài ra, vào thề kỷ thứ V (sau Thiên Chúa), có một bộ sách Phật học rất quí đã ra đời. Đó là bộ THANH TỊNH ĐẠO (Visuddhimagga), do một Thánh Tăng Phật Âm (Buddhaghosathera) dịch soạn. Bộ sách nầy tập hợp những pháp môn chọn lọc, hữu hiệu, sâu sắc, khả thi….để giúp cho những ai muốn thật sự tu Phật, và dành nhiều thì giờ cho thực hành, hơn là lý thuyết.
Chúng tôi dựa trên hai nguồn kinh điển ấy, mà hôm nay chia xẻ đến qúi vị, một số «nội dung Phật học», tạm gọi là «thực chất tu hành».
Theo Phật giáo nói chung, và theo hai nguồn kinh sách nêu trên nói riêng, thì «TU HÀNH THỰC CHẤT» là sống trong Thanh Tịnh Đạo.
Đã đành giáo lý «Thanh Tịnh Đạo» đặc biệt nói về phạm hạnh của bậc xuất gia, vì đối tượng khi Phật nói Pháp không phải là cư sĩ. Nhưng như thế không có nghĩa là người tu tại gia không thể tùy nghi áp dụng một cách hiệu quả.
Chúng ta cũng biết rằng trong lịch sử Phật giáo, đã có những cư sĩ hộ pháp đắc quả giải thoát, trở thành Thánh Nhân. Do đó, quan niệm «đóng khung», cho rằng «muốn giải thoát thì phải làm người xuất gia» là một định kiến lầm lạc. -Dĩ nhiên sự «xuất gia» rất đáng đề cao, nhưng đó không phải là phương pháp duy nhất !
Ngoài ra, chúng ta cũng phải phân biệt 2 trạng thái tinh thần, là cố chấp và quyết tâm đi trên con đường giải thoát. Khi CỐ CHẤP thì mắc dính vào ngôn ngữ, tập quán, dư luận, tư duy (chủ quan). Còn khi QUYẾT TÂM ĐI TRÊN CON ĐƯỜNG GIẢI THOÁT, thì học hành luôn luôn mở rộng, giữ ý quên lời, lấy kinh nghiệm cải thiện (hướng thượng) làm phương pháp để tiến hóa. Đó là xây dựng tính toàn xả, phá chấp, phẩm cách nòng cốt của sự giải thoát tâm linh !
Vả lại, để bổ túc cho đề tài, một câu hỏi phụ có thể được đặt ra, «Mục đích trước mắt (hay mục đích gần) của sự tu hành là gì ?».
Là người tin Phật, chúng ta không cần hội ý nhau, để tìm «lời đáp chung», chúng ta cũng có thể biết rằng «mục đích trước mắt của sự tu hành là để giải khổ…thân tâm», hay ít nhất là «… để giảm bớt sự trầm trọng của cảnh khổ liên hoàn trong hiện tại».
-Như vậy, sự TU HÀNH vốn có liên quan mật thiết đến ĐAU KHỔ. Và nếu đau khổ có thể được sự tu hành thực sự hóa giải, thì trạng thái an vui (hay hạnh phúc), cũng có thể được sự TU HÀNH gây ra.
Mối tương quan nầy (giữa đau khổ, ạn vui, và tu hành) là một giáo lý sâu xa trong nhà Phật. -Vậy chúng ta thử tìm hiểu :
-KHỔ là cái gì mà chúng ta phải hóa giải ? –Và
-VUI là cái gì mà chúng ta phải gây ra ?
Hai trạng thái “khổ là gì” và “vui là gì” được gợi lên trong 2 câu hỏi trên, là chỉ để nhắc nhở mà thôi. Chúng tôi biết chắc rằng quí vị đã trải qua rất nhiều buổi pháp thoại, phân tích về cả KHỔ lẫn VUI rồi.
Tuy nhiên, chúng tôi cũng xin nêu ra đây vài trạng thái khổ. Chẳng hạng như sinh, lão, bệnh, tử…. là khổ. Bất mãn trước bất cứ vấn đề gì, hay thương mà phải xa, ghét mà phải gần cũng khổ. Ngay cả sự giàu sang, danh vọng, quyền lực, sắc đẹp, sức khỏe….trên «nguyên tắc» thì ai cũng bảo là «vui sướng», nhưng bên trong vẫn chứa những mầm đau khổ ! Còn VUI là những tình trạng ngược lại. Khi tâm tư của một người mà ít bị những tình trạng đau khổ nói trên dày vò, thì ấy gọi là VUI !
Ngoài ra, chúng ta cũng đã từng nghe nói đến TÍNH TỰ LỰC, như :
«Ai ăn nấy no. Ai tu nấy được», hoặc xa hơn :
«Không ai có thể đơn phương làm cho ta đau khổ», cũng như :
«Không ai có thể đơn phương ban cho ta hạnh phúc».
Tất cả đều liên quan đến phẩm cách sống,
tức là có tu hành, hay không có tu hành !
Từ đó, những vần đề tương tức vật lý hay siêu hình, như «tự lực», «tha lực», «biệt nghiệp», «cộng nghiệp» cũng được hiệu quả của sự «TU HÀNH» chi phối.
Xin trình bày vắn tắc, dưới dạng «hệ luận» như sau :
*Nhờ TU HÀNH mà tự lực biến thành tha lực.
*Nhờ TU HÀNH mà tha lực đáp ứng tự lực.
*Nhờ TU HÀNH mà biệt nghiệp thay đổi cộng nghiệp.
*Nhờ TU HÀNH mà cộng nghiệp duy trì biệt nghiệp.
Với ý nghĩa TU HÀNH THỰC SỰ, chúng ta vẫn tự hỏi, chúng ta đã “sửa mình đúng mức”, qua luật tương tác chưa (?), hay chúng ta chỉ thường xuyên nhớ lý thuyết, và ỷ lại vào “đức tin vụ lợi”, hướng về tha lực bằng cúng bái cầu xin, qua hình thức nghi lễ ?
Giả sử SỰ KỲ DIỆU (hay tha lực) của tôn giáo, không phân biệt đạo nào cả, được cụ thể hóa, và tượng trưng bằng hiệu lực ngân vang của tiếng chuông, thì cái chuông đơn phương không thể “ban cho” chúng ta những âm thanh kỳ diệu, đầy kinh cảm, siêu thoát như thế, mà chính là do con người thanh tịnh, đã cầm dùi thực sự gõ vào cái chuông ấy. (-Ấy là vật lý tương tác).
-Tất nhiên, nếu không có cái chuông, thì chẳng bao giờ có tiếng ngân vang, với hiệu lực cảnh tỉnh trên cõi đời lắm xung đột nầy. -Hay nếu không có tôn giáo thì làm sao có sự huyền diệu !
Như câu thơ bất hủ sau đây, nhắc đến tiếng chuông Hàn San Tự, trong thi văn sử Phật giáo Trung Hoa :
“Bán dạ chung thanh đáo khách thuyền” (!)
(“Nửa đêm tiếng chuông ngân đến thuyền khách”…
làm lâng lâng hồn người)
Nếu hành động không thật sự đủ, để phát ra tiếng chuông, thì con người làm sao nghe và cảm nhận được âm thanh ngân vang, một cách thoát tục ! Cũng như nếu không có tự lực thì làm sao có tha lực đáp ứng, để con người tiếp cận với sự kỳ diệu muôn đời ?
Theo Phật giáo “sức mạnh tự lực”do TU HÀNH TRUNG ĐẠO là khả năng hữu hiệu nhất, trong việc vượt qua những khó khăn tinh thần lẫn thể xác, gọi là giải khổ, tạo vui, hướng đến hạnh phúc.
Khi một người phàm có chánh kiến thực sự, và với lòng tin sắc đá vào đức hạnh, luôn luôn giữ đúng 5 giới trong đời sống hằng ngày. Người ấy đương nhiên rất ít phiền não, hay rất ít lo-buồn-sợ-giận. Mỗi khì họ muốn an lạc thì liền cảm thấy an lạc,“linh ứng”.
Sự kỳ diệu nầy nếu bình tâm suy xét, thì không phải “hoàn toàn” do tha lực, mà là do tự lực giới hạnh. Đúng như câu “Giới năng sinh định. Định năng sinh Tuệ. Và tuệ thanh tịnh thì thường xuyên dễ dàng nhận ra sự an vui”.
Tự lực ở đây cũng là tha lực, và ngược lại tha lực luôn luôn đáp ứng tự lực. Người ta thường nói “thần thánh hằng hộ trì bậc giới đức” !
Một người sống phạm hạnh, không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, và không dùng chất say, thì chửng tử lo buồn sơ giận trong tâm người ấy, không có hay rất yếu. Họ có thể vượt qua thực tại (thuận hay nghịch) dễ dàng.
Sau đây là một Phật ngôn «gói trọn» sự tu hành thực sự :
« Sabba pàpassa akaranam» =
“Chư ác mác tác=Không làm tất cả điều ác».
«Kusalassùpasampadà» =
«Chúng thiện phụng hành=Làm dầy đủ việc lành».
«Sa citta pariyo dapanam» =
«Tự tịnh kỳ ý=Giữ tâm luôn luôn thanh tịnh».
«Etam buddhàna sàsanam» =
«Thị chư Phật giáo=Đó là lời chư Phật».
Nội dung lời Phật nêu trên, cũng có thể diễn tả một cách khoa học, rằng : «Tu hành cũng là để tạo sự điều hòa, quân bình than tâm, hay thiết lập sự cân bằng thần và xác, trong sinh hoạt một con người».
–TÂM ám chỉ tinh thần, và
–THÂN ám chỉ thể xác.
Đối với một người, ngoài thân và tâm (hay tinh thần và thể xác) ra, không có sự tu hành ở nơi khác. Tâm và thân mà được điều hòa, quân bình, thì đời sống sẽ thanh tịnh, tự tại, giảm thiểu căng thẳng, do thất tình lục dục, hay lo buồn sợ giận gây ra !
-Thông thường, khi chia xẻ Phật học hay triết học, chúng ta thiết nghĩ, càng ít đề cập dến những giáo lý cao siêu, khó hiểu càng tốt !
Nhưng trong trường hợp nầy, Kinh Thanh Tịnh Đạo không thể bỏ qua. Vậy Thanh Tịnh Đạo là gì ?. Phải chăng kinh ấy chứa «thực chất tu hành», kinh ấy hướng dẫn cách sống làm sao để quân bình, điều hòa thân và tâm ?!
Nội dung các chữ “quân bình, điều hòa thân và tâm” nêu trên, vốn rất sâu sắc và khoa học. Khi thể xác và tinh thần đã hoàn toàn được quân bình, điều hòa…thì đời sống sẽ thanh tịnh, an vui, giải thoát.
Xin nhắc lại, “THANH TỊNH ĐẠO” (Visuddhimagga) không phải chỉ dành riêng cho bậc xuất gia, mà người cư sĩ cũng có thể thích ứng, áp dụng. Đó là một tập hợp những Thiện Pháp chọn lọc, để hành giả tình nguyện sống đầy đủ phạm hạnh.
Xin trình bày đại cương THANH TỊNH ĐẠO gồm những phần sau :
1/Thanh tịnh giới, hay phạm hạnh trong vật chất, tức là tu luyện phần thể xác, qua thân và qua khẩu (miệng). Thanh tịnh giới ám chỉ kỷ luật vật lý trong sinh hoạt hằng ngày cho cá nhân, cho cộng đồng xã hội, và cho môi trường.
2/Thanh tịnh tâm, hay phạm hạnh trong tinh thần, tức là nâng cao linh hồn, bằng ý thức thuần thục trong pháp thiền. Thanh tịnh tâm ám chỉ kỷ luật tư tưởng, an định tinh thần, lành mạnh hóa cảm quan, tinh khiết hóa cảm thức, từ cá nhận đến xã hội, trước vạn vật, và trước chúng sanh,
3/Thanh tịnh tuệ, hay phạm hạnh trong giác tính sáng suốt, (tức là lọc sạch tư duy hướng thiện, phá chấp, biết vạn pháp (cụ thể lẫn trừu tượng) vốn là «như thế», bằng pháp toàn xả. -Chứ không phải bằng những “suy tư thoát tục”. (Thuộc về tưởng uẩn)
Khi quan sát kỹ, chúng ta thấy Thánh nhân luôn luôn sống trong Thanh Tịnh Tuệ, với hạnh thoát tục, chứ các Ngài không sống với những“thuộc lòng” tư tưởng thoát tục (đã được phàm nhân viết thành văn chương qui ước).
Đức tin của người tu hành thực sự cũng không phải là niềm tin trong tư tưởng thoát tục, mà là niềm tin trong chánh kiến, trong chánh niệm, (chánh định) và do thực nghiệm xuyên qua pháp hành hướng thượng. Đức tin đó vốn rất tự lực.
-Và dĩ nhiên đức tin đó là nguyên nhân của mọi “chiêu cảm siêu phàm”. –Hay mọi biểu lộ tha lực kỳ diệu, nói theo thần học !
Về phương diện TRÌ GIỚI, một người tại gia mà thực sự tu hành là hành giả sống thuần thục trong Thập Thiện, hay Tam Thập thiện. Hành giả ấy rất ít (hay hầu như không có) quan tâm đến những “tư tưởng cao siêu, thoát tục” (lý thuyết).
Vì khi quan tâm thì không khéo bị “đồng hóa” với những tư tưởng loại ấy, và người ta sẽ dễ “tưởng mình thuộc hàng thượng căn, thượng trí, đã ngộ đạo”. (Nguyên nhân của ngã mạng tinh vi).
Sau đây xin kê khai “Thập thiện”, hay 10 GIỚI mà người cư sĩ thực sự tu hành, phải giữ một cách đơn phương (cá nhân), gồm 3 phần.
-Liên quan đến THÂN : 1/không sát sanh, 2/không trộm cắp, 3/ không tà dâm. –Liên quan đến KHẨU 4/không nói dối, 5/không đâm thọc, 6/không nói vô ích (thị phi, hoang đường), 7/không nói thô lỗ, dâm tục. –Liên quan đến Ý : 8/không đầu hàng trước lòng tham, 9/không đầu hàng sự sân hận, 10/không mặc kệ tật si mê.
Tổng cộng 10 giới).
Còn Tam Thập Thiện thì cũng là những giới vừa nêu, nhưng hành giả cần phải giữ một cách đa phương, (liên đới với nhiều người), như sau :
a/Thanh tịnh hóa cái THÂN : 1/không chính mình sát sinh, 2/không bảo vệ kẻ khác sát sinh, 3/không vô cảm trước sự sát sinh, 4/không trộm cắp, 5/không bảo vệ kẻ khác trộm cắp, 6/không vô cảm trước sự trộm cắp, 7/không tự mình tà dâm, 8/không hợp lực tà dâm, 9/không mặc kệ trước kẻ khác tà dâm. (9 điều)
b/Thanh tịnh hóa cái KHẨU : 1/không nói dối, 2/không bảo kẻ khác nói dối, 3/không ủng hộ sự nói dối, 4/không nói đâm thọc, 5/không bảo kẻ khác đâm thọc, 6/không tán thành sự đâm thọc, 7/không nói chuyện hoang đường mê tín, 8/không bảo kẻ khác nói chuyện hoang đường mê tín, 9/không tán thành chuyện hoang đường mê tín, 10/không nói lời cộc cằn dâm tục, 11/không bảo người khác nói lời cộc cằn dân tục, 12/không khen ngợi lời cộc cằn dâm tục. (12 điều).
c/Thanh tịnh hóa cái Ý : 1/không đầu hàng khi khởi lòng tham lam, 2/không cố ý làm cho kẻ khác nẩy nở lòng tham, 3/không hoan hỷ trước sự tham lam, 4/không đầu hàng trước tật sân hận, 5/không cố ý làm cho người khác phát sinh sân hận, 6/ không hài lòng trước sự sân hận, 7/không đầu hàng trước mọi tình trạng si mê, 8/không cố ý làm cho kẻ khác si mê, 9/không hài lòng với tình trạng si mê. (9 điều).
Tổng cộng các pháp thanh tịnh hóa THÂN-KHẨU-Ý :
9+12+9=30 điều.
-Khi hành giả tu tập thực sự TAM THẬP THIỆN,
như vừa nêu, thì họ sẽ thuần thục trong tịnh hạnh.
Nhân tiện, chúng tôi cũng xin nói qua hai chữ “pháp hành” (Bhàvanà Dhammà) một chút :
-Chữ Pháp trong nhà Phật tuy có khá nhiều ý nghĩa, nhưng đối với đề tài “tu hành thực chất là gì”, thì chữ “PHÁP” có nghĩa là “phương pháp” hay “qui tắc”.
-Còn chữ “HÀNH” có nghĩa là “tạo nghiệp vô hại, thanh tịnh”, ở ba nơi thân, khẩu, và ý, trong hiện tại.
–Phương pháp (hay qui tắc) ở đây không phải là “phát minh” riêng của đức Phật, mà ấy là hoa trái thực nghiệm, mà Ngài đã trải qua, và gặt hái được, trong suốt chiều dài hướng thiện và thanh tịnh hướng thượng, tự độ và độ tha, cho chí đến cứu cánh giải thoát.
-«Pháp hành» là những phương pháp làm lành mạnh mọi sinh hoạt (hành vi vật chất cũng như tinh thần), được áp dụng đúng và đầy đủ, trong sự sống hằng ngày của một bậc phạm hạnh.
Người có pháp hành (hay người tu hành thực sự) không phải chỉ là kẻ chỉ nghiên cứu giáo lý Phật đà, rồi đem ra tùy tiện áp dụng cho vui, tới đâu hay đến đó. Mà một cách khác, người có pháp hành là kẻ sống đạo, và là người tỉnh táo, biết rằng “mình đang tích cực đi trên con đường mà Bậc Giác Ngộ (Phật) đã đi, để đến kết quả cuối cùng”.
Người tu hành thực sự cũng không phải là người cố ý tạo nhiếu “tiếng thơm” (đạo đức) cho mình (hay cho bất kỳ ai), mà mục đích duy nhất của hành giả, là tạo bình an chung, bắt đầu từ bình an bản thân, giảm thiểu oan trái, thanh tịnh, ít lo buồn sợ giận, để đạt tới phẩm cách hoàn toàn hỷ xả, chấm dứt mọi vướng mắc, giải thoát.
Hành giả tu hành thực sự là người luôn luôn noi gương chư Phật, hằng ý thức rất rõ, rằng phẩm cách thoát ly, phải “nở ra” từ trí tuệ thanh tịnh, biết mình phải làm gì, không lười biếng. Đó là pháp hành của “tuệ giải thoát”.
–Và “TUỆ GIẢI THOÁT” ấy không liên quan gì đến sự sắc bén trong khả năng phân tích, rồi qui nạp sâu sắc, hay hùng biện, của một số ngưởi, mà đa số tưởng lầm là “trí bác nhã” của bậc “thiện trí thức”.
Kết luận
Sau khi đã khiêm nhượng trình bày đề tài “TU HÀNH THỰC CHẤT LÀ GÌ”, chúng tôi xin nhường phần kết luận lại cho quí vị. -Lý do, vì chúng tôi nghĩ rằng, chỉ có mỗi cá nhân mới có thể biết mình tu hành thực sự như thế nào mà thôi.
-Thay vào đó, chúng tôi xin có mấy điều, chân thành bày tỏ, để kết thúc buổi nói chuyện hôm nay :
-Đề tài “Tu hành thực chất là gì ?” không nên là một câu hỏi đặt ra cho người khác, để xem “đối tượng tu hành thực sự” như thế nào, hay đòi hỏi “đối tượng phải tu hành xứng đáng” ra sao.
Vì như thế, đề tài sẽ trở thành thời sự phê phán, nhảm nhí, gây mích lòng, oan trái, vô ích !
Nhưng “đề tài” nầy sẽ rất đắc dụng, khi mỗi cá nhân thường xuyên dùng tự hỏi chính mình, để im lặng tìm câu trả lời, và tích cực tu thân, hành động hướng thiện.
-Ngoài ra, đề tài “TU HÀNH THỰC CHẤT LÀ GÌ” nếu được vô tư chia xẻ và thảo luận một cách thân hữu, trong tinh thần tương kính, cầu tiến, như ngày hôm nay chẳng hạng, thì nó có thể là một sinh hoạt nhắc nhở, để “điều chỉnh tư duy”, nhất là điều chỉnh tư duy chủ quan, vô ý nghĩ lầm là “chỉ có mình mới tu đúng”.
-Đề tài «tu hành thực chất là gì ?» khi trở thành câu nói “tự nhắc nhở” như thế, thì nó còn có thể là một “thiền ngữ”, làm cho hành giả thường xuyên nhìn lại chính mình, xem thực chất hạnh kiểm nơi chính mình như thế nào, để không dãi đãi, tiếp tục tinh tấn !.
Cám ơn quí vị đã chu ý lắng nghe.
Tuệ Lac
(Đề tài nầy cũng được trình bày tai VN, ngày 14/3/2015)