Tôi quen biết sư huynh cũng năm sáu tháng nay, nhân một dịp đi chùa. Sư huynh là một khách tăng đến ở ngôi chùa ấy, từ mùa an-cư kiết-hạ năm ngoái. Tôi vốn đang tìm hiểu đạo Phật, và sư huynh là một tu sĩ tỏ ra dồi dào kiến thức về Phật giáo, nên chẳng bao lâu chúng tôi đã trở thành thân mến một cách dễ dàng.
Sư huynh khổ người trung bình, không đẹp trai cũng không xấu xí. Nhưng nét mặt sư huynh thật hiền hòa, nhất là ánh mắt lúc nào cũng như chan chứa một cái gì thâm trầm sâu sắc.
Một lần gặp nhau ở sân chùa, trước chánh điện, chúng tôi đứng cạnh một bụi hoa hồng, sư huynh bỗng hỏi tôi:
– Tâm Ðạo, em đã từng nghe quí sư, quí thầy nói đến pháp môn tu thiền chưa ?
Tôi vui vẻ trả lời cho xong chuyện:
– Có, nhưng em nghe rồi bỏ qua. Dường như cái đó dành cho những người lớn tuổi ?
Sư huynh mỉm cười, chỉ một đóa hoa hồng nở tươi trong nắng ấm, và nói:
– Cái đẹp của hoa hồng dành chung cho tất cả mọi người : già, trẻ, trung niên nam nữ, ngay cả trẻ em vừa đủ trí khôn, nếu biết nhìn hoa hồng, hoa hồng vẫn cống hiến trọn vẹn nét thanh nhã của nó.
Tôi hỏi lại sư huynh:
– Thế ra sư huynh cũng am hiểu về pháp môn tu thiền nữa ?
Sư huynh nheo nheo đôi mắt một cách hiền từ, nhìn tôi trả lời:
– Hai tiếng “am hiểu” Tâm đạo dùng hơi phóng đại. Hoa hồng là một trong những vật thông thường nhất trên đời, ai mà không biết. Nhưng có ai dám bảo là mình đã “am hiểu” nét đẹp của hoa hồng đâu ? Huống chi tu thiền là đi tìm “hoa đạo”, hoa trừu tượng. Và chỉ có ai chuyên cần thực hành mới nhìn thấy NÓ được, khoan nói đến chuyện “am hiểu” nó.
– Nhưng sư huynh đề cập đến hoa hồng trong khi chúng ta bàn về pháp môn tu thiền, thì có liên quan gì ?
– Có chứ ! Vì hoa hồng vừa đẹp vừa nhiều gai, còn thiền định trong Phật giáo vừa thanh tịnh và giải thoát, vừa có thể dắt dẫn hành giả đi vào con đường lầm lạc. Người thưởng thức hoa hồng, nếu biết nhìn, ngắm, vuốt ve đóa hoa, thì cũng phải biết cẩn thận, chớ tham lam ôm cả cành lẫn hoa vào mình, để khỏi bị gai nhọn châm chích.
Tôi hiểu câu nói của sư huynh, liền thân thiện hỏi:
– Nghĩa là nhân buổi trò chuyện hôm nay sư huynh muốn chúng ta nên luận đạo trên khía cạnh triết học thiền ?
Sư huynh lại cười, và với đôi mắt đen thẳm, sư huynh chậm rải đáp:
– Thiền pháp là một rừng triết học. Nói đến thiền pháp là tự nhiên nói đến triết học. Người tu thiền pháp là người đi vào trong cái rừng triết học ấy. Nếu triết học thế gian có thể phân tích cả hai mặt “chủ động” và “thụ động” của cuộc đời đều có “lý lẽ”, thì thiền pháp trong Phật giáo cũng có thể chỉ rõ hai mặt “tích cực” và “tiêu cực” của lòng “tham” (trong thiền pháp) đều hữu dụng. Chỉ khác ở chỗ “tham tu” cho riêng mình (ích kỷ, tiêu cực) là tự giác, là bước đầu, rồi tham cứu độ kẻ khác ( vì người, tích cực) là giác tha, là bước thứ hai.
Tôi liền ngắt lời sư huynh:
– Nhưng chư Phật nguyện độ chúng sinh vì lòng từ bi chứ đâu phải do lòng tham ?
Sư huynh tươi cười gật đầu phân tích:
– Có muôn ngàn cách nói. Từ ngữ thế gian vốn quá nhiều, và tùy cách hiểu. Nhiều như số lượng của tất cả những ý nghĩ. Có bao nhiêu ý nghĩ là có bấy nhiêu từ ngữ. Chúng ta đã không thấy có một số ý nghĩ người ta chưa tìm ra từ ngữ để diễn tả, nên phải dùng phương pháp giải nghĩa đó sao ? Rồi đây xã hội loài người càng tiến bộ bao nhiêu, cuốn tự điển của mỗi ngôn ngữ càng dày thêm bấy nhiêu. Chung qui cũng chỉ để trao đổi và cảm thông với nhau những ý nghĩ. Từ ngữ chỉ là chiếc cầu, chỉ là phương tiện.
Tôi chợt nhớ ra một điều, liền hỏi sư huynh:
– Nhưng tu thiền là tập trung tâm trí, không cho phóng túng theo nhiều ý nghĩ, có phải vậy không sư huynh ?
– Chỉ đúng có một phần, còn một phần khác không đúng.
– Nghĩa là ?
– Nghĩa là nếu «tu thiền là tập trung tâm trí, không cho duyên theo những ý nghĩ tà ác và ích kỷ» thì đúng. Nhưng khi ta để tâm trí duyên theo những ý nghĩ thiện, như tưởng nhớ đến các điều lành (do mình cùng bạn hữu đã làm, đang làm, hay sẽ làm), tưởng nhớ đến ân đức của chư Phật, tưởng nhớ đến vô thường, tưởng nhớ đến nỗi đau khổ của đồng loại, của muôn loài chúng sinh, tưởng nhớ đến tính bất định, rổng tuếch, của cái «ta» trong thân nầy, rồi giác ngộ buông bỏ, đồng thời phát khởi lòng từ bi, muốn cho tất cả chúng sinh bớt phiền não, không mắc dính vật chất, chấp trước ngôn từ và thoát khổ..v.v…, thì ấy cũng là một loại thiền pháp.
Tôi bị kích thích óc tò mò, bèn hỏi:
– Thế ra, tu thiền cũng có nhiều loại ?
– Ðúng vậy.
– Sư huynh có thể giảng giải cho Tâm Ðạo nghe vài loại được không ?
– Tại sao lại không được. Chẳng hạng như tu thiền định, tu thiền minh sát, tu thiền tức quán. Ðó là theo Phật giáo Nam tông. Còn theo Phật giáo Bắc tông, thì có thiền chỉ, thiền quán, thiền công phu tịnh độ, thiền niệm Phật hiệu..v.v….
Tôi rùng mình, buộc miệng:
– Như vậy có nhiều cách tu thiền quá, mình biết học cách nào, hay phải học tất cả ?
Câu nói bất chợt của tôi làm cho nét mặt của sư huynh đang tươi cười bỗng trở thành điềm đạm. Sư huynh nhìn thẳng vào khuôn mặt tôi, hiền từ tiếp:
– Thiền pháp trong Phật giáo không phải như tiền bạc của thế gian, trên lý thuyết cứ tìm cách thu góp, cất giữ càng nhiều loại càng tốt. Mà thiền pháp trong Phật giáo vốn là để thực hành. Người ta cũng không thể thực hành hai trình độ tu thiền khác nhau trong cùng một lúc. Mà tốt hơn hết là hành-giả nên tu tập thiền pháp theo thứ tự căn bản từ thấp đến cao….
Một luồng gió thổi mạnh về phía khóm hoa hồng làm phấn bụi bay lên mặt, khiến sư huynh ngừng một chút rồi tiếp:
– Cũng có nhiều vị giảng sư, học giả trong Phật giáo, nêu lên phép tu «đi tắt», rút ngắn con đường thành Phật, hay tu «pháp cao», để mau chứng quả.v.v…, nhưng theo thiển kiến của sư huynh, thì điều ấy khó có thể có được. Bỡi lẽ ngay trên phương diện học qua lý thuyết các môn học thông thường ở nhà trường, người ta còn phải học từ lớp nhỏ đến lớp lớn thay, huống chi trên phương diện thực hành và chứng nghiệm, nhất là thực hành rồi thể nhập thiền pháp, người ta càng không thể nào bỏ hẳn giai đoạn căn bản, mà trở nên thuần thục, tinh anh, để đạt được trí tuệ vững chắc, đưa đến quả vị giải thoát, không còn bị cái bóng nghi ngờ của màng vô minh rình rập che áng được. Phải biết một bậc đắc thành quả Phật là do phép tự-tu, tự-nghiệm, tự-chứng, bằng vô lượng công phu, nở ra tuệ trực giác, chứ không phải bằng nhờ học hỏi sách vở, phân tích rồi hiểu được bằng óc biện luận duy lý. Dĩ nhiên cái học lý thuyết thường hay đi truớc cái hành, nhưng học mà không hành, và nhất là không hành thuần thục từ căn bản trở lên, thì không bao giờ có kết quả vững chắc được.
– Nghĩa là ?
– Nghĩa là nếu em muốn tìm hiểu thiền học để một ngày kia thực hành, thì sư huynh sẽ sẵn sàng giảng cho Tâm Ðạo nghe qua, trước tiên cái pháp môn tu thiền căn bản đó..
Tôi tự nhủ «không ngờ nhân duyên ngày hôm nay lại đưa đẩy mình được nghe những điều đặc biệt nầy». Tôi bèn yêu cầu:
– Nhưng khi sư huynh trình bày về pháp tu thiền làm nền tảng, xin sư huynh cũng nói rõ cho sự liên hệ lên các bậc cao của pháp tu thiền trên lý thuyết, mà sư huynh vừa nêu, để ít nhất Tâm Ðạo cũng có một ít viễn ảnh “khuyến khích”, dựa theo kiến thức duy lý, hầu về sau tùy khả năng thực hành.
– Ðồng ý. Và bây giờ chúng ta bắt vào đề bằng thiền định.
Tôi vội hỏi:
– Té ra thiền định là nền tảng phải có của các trình độ tu tập ?
– Ðúng vậy.
Chợt huynh đưa tay chỉ một đoá hoa hồng, hỏi tôi:
– Em thấy đóa hoa có gì lạ không ?
Tôi tự động nhìn theo ngón tay của sư huynh, nhưng không thấy gì đặc biệt, nên miệng tôi ấp úng:
– Dạ, em thấy một đóa hoa hồng, trong nhiều đóa hoa hồng, trên cái bụi hoa hồng nầy.
Sư huynh tươi cười nhấn mạnh:
– Em quả thật không trông thấy gì ư ?
– Em chỉ thấy nhiều hoa hồng trên một bụi hoa hồng, phủ đầy lá với thân cành có gai.
– Em hãy “định tâm“ nhìn kỹ đóa hoa hồng nầy đi, rồi em sẽ thấy cái mà em chưa thấy.
Tôi chăm chú quan sát theo ngón tay của sư huynh. Quả thật những cánh hoa mỏng manh của đóa hồng mà sư huynh đang chỉ, đã bị luồng gió mạnh vừa rồi làm bầm dập một phần, tuy rất ít nhưng nếu chú tâm, tôi vẫn trông thấy được.
Nhất thời nét mặt của tôi đủ nói lên cái mà tôi vừa mới trông thấy.
Vị tu sĩ rất hài lòng, sư huynh bảo tôi:
– Em nghĩ sao về câu hỏi của sư huynh với đóa hoa hồng, và em nghĩ gì về cái mà em vừa phát giác, trông thấy ?
Như trúng “tủ” những điều tôi đã từng đọc say sưa trong sách vở Phật giáo, tôi mạnh dạn trả lời:
– Thì cuộc đời không có gì bền vững hết. Phật dạy đó là lẽ vô thường. Như đóa hoa hồng kia, chỉ trải qua một luồng gió thoảng, đã bắt đầu chuyển sang tình trạng suy tàn. Rồi kiếp người, tiền của, tình yêu, danh vọng, thân nhân.v.v…trên thế gian nầy, đều cũng như thế cả.
Tôi đang thao thao bất tuyệt, thì sư huynh thân mật vỗ vai tôi, “mắng dịu”:
– Tâm Ðạo chỉ có tài nói lý. Nói theo kinh sách đã đọc, nói theo những vị giảng sư đã thuyết. Nói thì nghe hay lắm, nhưng Tâm Ðạo thực sự đã chứng đắc chưa, dám thản nhiên chối bỏ tiền bạc, danh vọng, người yêu, dám coi thường xác thân nầy không ? Hay hễ ai động đến là nổi trận lôi đình ? Hoặc nếu nhớ tới lời Phật dạy, dằn nóng nảy xuống được, thì về sau cũng còn ấm ức, giận ngầm ?
Tôi cứng họng.
Sư huynh liền phân tích:
– Mấy chuyện đó chỉ có những bậc đã tu luyện pháp môn thiền định và đạt kết quả thuần thục mới làm được. Chỉ có tâm định vững chắc mới quán xét nhìn thấy bất cứ sinh hoạt nào của thế gian, cũng đều mang đến phiền não, và nhất là định giả thấy rõ ngay từ lúc phiền não mới phát sinh, chứ không phải để đến khi nó hoành hành trong tâm (làm khổ) rồi mới biết. Tâm trí con người vốn rất phân tán. Ðừng nói chi đến tư duy phiền não là cái rất khó nhận diện, mà ngay cả những sự vật có hình thức hẳn hoi, con người vì tâm trí phân tán theo muôn triệu chiều vọng động, cũng không thể nhìn thấy được. Bằng chứng là vừa rồi sư huynh hỏi Tâm Ðạo, xem em có thấy đóa hoa hồng như thế nào không, Tâm Ðạo đã trả lời là không thấy gì cả. Ðến khi Tâm Ðạo thoáng “định tâm” xem kỹ, thì mới thấy cái trạng thái của hoa, mà trước đó trong chốc lác Tâm Ðạo đã không thấy. Ðây chỉ là một thí dụ rất tầm thường để Tâm Ðạo có thể hiểu rằng thiền định là cái chìa khóa duy nhất, mở được cánh cửa thánh vức, đưa vào tiến trình minh sát giải thoát.
Tôi hiểu được phần nào hàm ý trong lời giảng của sư huynh, bèn hỏi:
– Như vậy tác dụng của thiền định là tập trung tinh thần, để “cô đọng” khả năng thanh tịnh, hầu đủ sức nhận diện chính xác những ngoại cảnh và nội tâm vi tể, hay để tránh cho tâm lực không bị phân tán theo những vọng động ?
Sư huynh trầm ngâm trả lời:
– Cho cả hai. Nhưng đặc dụng thứ nhất là căn bản tiến lên đặc dụng thứ hai. Hay nói cách khác, thiền định là trước tiên giữ cho tâm thuần thục, không bị phân tán theo những vọng động loạn lập. Sau đó hành giả sẽ dùng khả năng an định như một phương tiện (huệ lực) để chiếu soi, thấy dần mọi pháp hữu vi, mọi biến chuyển của tâm, từ thô kệch đến vi tế..v.v…
Tôi xen vào:
– Xin sư huynh cho một thí dụ.
Vị tu sĩ lim dim đôi mắt, tươi cười:
– Này nhé, thần phách con người ví như một “sức điện động”. Sức điện động ấy nếu đem phân tán ra quá nhiều bóng đèn, thì tất cả đều cháy đỏ, nhưng bóng nào cũng lờ mờ, không thể soi tỏ vật gì cả. Ngược lại, khi ta biết cách cô lập, rồi tập trung sức điện động vào một tụ điện duy nhất, và tách rời các bóng đèn khác, thì sau đó bất cứ bóng đèn nào được gắn vào tụ điện duy nhất ấy, nó cũng đều có năng lực tỏa sáng rất mạnh, có thể làm hiện rõ mọi vật nhỏ lớn nằm trong tầm soi sáng của nó.
Tương tự như thế, “nhân điện” (hay thần lực con người) vốn có một khả năng kỳ diệu, có thể thông thấu qua hàng triệu tế bào trong một thân thể, để kéo dài sự sống. Nếu trên thân thể của con người có bao nhiêu lỗ chân lông, và có bấy nhiêu “đơn vị thần kinh”, để phối hợp thành toàn bộ xúc giác, thì xuyên qua đôi mắt, tổng số đơn vị nhãn thức cũng tương đương với tất cả những tia sáng có thể tiếp xúc trên đôi nhãn cầu ấy. Rồi đến thính giác (nhĩ thức), cũng một cách tương tự, hễ có bao nhiêu loại âm thanh là có bấy nhiêu đơn vị thần kinh chi phối sức mạnh tinh thần xuyên qua nhĩ quan. Tiếp theo là toàn bộ hệ thống vị giác (thiệt thức), toàn bộ hệ thống khứu giác (tỷ thức)..v.v…
Tất cả những hệ thống chi phối tinh thần ấy đã làm cho thần lực của con người chỉ còn khả năng hoạt động một cách hạn hẹp, và hoàn toàn bị lệ thuộc vào nhu cầu bản năng cùng lòng khao khát, nhiều hơn là có thể soi sáng, giác ngộ được một cái gì khác.
Sư huynh giảng đến đây bỗng dừng lại, và nhìn tôi mỉm cười…
Tôi sực nhớ ra một điều, liền hỏi:
– Thưa sư huynh, trong đời sống hằng ngày, thỉnh thoảng người ta phải chăm chú vào một vấn đề, như luận giải một bài toán khó, hay theo dõi những phản ứng hóa học trong một phòng thí nghiệm chẳng hạng, thì đó phải là một hình thức “định tâm” không ?
– Ấy có thể là một hình thức “trụ tâm”, nhưng không phải là thiền định trong Phật giáo.
– Vì sao ?
– Vì khi chăm chú vào một vấn đề thuộc thế gian, hễ kết quả tốt đẹp thì vui mừng, sung sướng, củng cố thêm sự dính mắc, mà kết quả không như ý muốn thì bất mãn, bực bội, tâm ý lọt vào phiền não. Còn thiền định trong Phật giáo không đưa hành giả đến một trong hai trạng thái như thế.
– Nghĩa là ?
– Nghĩa là giữ tâm trong đề mục thiền định Phật giáo là để cho nó được như nhiên, yên ổn, tự do (không bị vướng mắc), không bị dụng ý kềm kẹp, cũng không bị ham muốn thúc dục. Người tu thiền mà trông mau có kết quả, thì sẽ bị lầm lạc. Tôi có chỗ thắc mắc, vội hỏi:
– Khi tu thiền, hành giả không nên trông chờ kết quả, nhưng lúc kết quả đến, người tu thiền có nên vui thích không ? Vì nếu không thỏa thích, hành giả sẽ khó có thể phấn khởi tiếp tục hành đạo.
Sư huynh bật cười dòn đáp lại:
– Tâm đạo lý luận nghe thông lắm. Nhưng theo thiển kiến của sư huynh, thì sự thỏa thích trong kết quả thiền không phải là yếu tố căn bản củng cố đức tinh tấn, khiến ta phải nói là nên có, hay không nên có, mà một cách khác «thỏa thích trong quả thiền chỉ là cái phản ứng tự nhiên, hằng phát hiện ở cuối mỗi trình độ tu tập». Như người kia trồng cây ăn trái. Khi trái trổ đầy cây, họ vui mừng là một điều tự nhiên, không phải vì họ vui mừng nhiều mà trái sẽ tốt, sẽ mau chín, hay họ vui mừng ít trái sẽ xấu, sẽ lâu chín. Càng không phải tùy theo độ trông chờ của người trồng cây, mà cây cho ra trái sớm hay muộn. Yếu tố cần thiết để cây cho ra trái đúng kỳ hạn, là sự chăm lo tưới nước bón phân thường đều, chứ không phải sự trông chờ. Người trồng cây làm đủ phận sự, dẫu không trông chờ trái đến, vẫn được trái đúng mùa một cách chắc chắn.
Mặt khác, trong ngôn ngữ nhà thiền, quí vị thiền sư gọi trái ấy là «ấn chứng» tịnh lạc, và tiếng Phật nói ngày xưa là «Pìti» (dịch là phỉ lạc). Phỉ lạc nầy hoàn toàn không giống với bất cứ sự thỏa mãn nào của thế gian, khi người ta thành công trong một kế hoạch nào đó, mà «phỉ lạc» trong thiền định là sự nhẹ nhàng trong sáng, thấy rõ tâm tư mình càng ngày càng an trụ, bớt vướng mắc vào ngoại cảnh, và ít bị phiền não quấy nhiễu. Rồi hành giả chăm chỉ tập trung tâm trí vào đề mục, tiếp tục hành thiền, chứ không để mất thì giờ quan tâm đến sự phỉ lạc ấy nữa. Ðó chính là pháp tu thiền chân chánh. Còn ngược lại là lạc thiền, nếu không khéo còn rơi vào tà thiền, có thể đưa hành giả đến tình trạng loạn trí tai hại.
Tôi nghe sư huynh nói qua điểm nầy, liền chụp cơ hội hỏi:
– Thưa sư huynh, thế nào là lạc thiền, và thế nào là tà thiền ?
– Cái đó dễ hiểu lắm. «Lạc thiền» là tu đúng cách, nhưng hành giả quá ham thích trong quả thiền, rồi mắc dính, ôm giữ, dừng lại, phiêu lưu trong bậc thiền đó. Có khi dừng lại ở cõi thiền dục giới, có khi dừng lại ở cõi thiền sắc giới, có khi dừng lại ở cõi thiền vô sắc giới. Nhất là ở hai cõi thiền hữu sắc và vô sắc, vì rất khó đạt được và rất nhiều mầu nhiệm, nên hành giả dễ tưởng lầm rằng «ấy là mức tuyệt đối», rồi đâm ra ngã chấp, về sau sa đọa.
Còn «tà thiền» thì hoàn toàn khác hẳn, không phải là thiền định trong Phật giáo. «Lối tu» nầy thường được thúc đẩy bỡi lòng tham lam, cộng với sân hận và si mê, cầu cạnh nơi tha lực, muốn giao cảm với những thế giới vô hình như: ma, quỷ, a-tu-la, phi nhân…chẳng hạng. Tà thiền hằng hành hạ chính người «tu luyện», trước khi có thể làm khổ xã hội. Tà thiền đã xuất hiện trong đời sống loài người từ lâu rồi, cả trước khi đức Phật ra đời.
Ngừng một chút rồi sư huynh tiếp:
– Nhưng giữa «lạc thiền» và chánh thiền có một yếu tố tương đồng, là cả hai cùng bắt đầu bằng căn bản thiền dịnh. Và hành giả phải công phu hành đạo với một «thân-khẩu-ý» trong sạch (không làm ác, không phạm vào các giới cấm), thì mới có thể đạt được. Trong khi đó vào tà thiền, hành giả rất có thể là một người đại gian ác. Chì cần họ đặt hết tin tưởng vào một «tha lực» (hay ma lực) nào đó, là có thể «tu luyện» được.
Tôi mở miệng dợm hỏi một câu khác, thì sư huynh đã khoát tay ngăn lại. Sư nheo đôi mắt nhìn tôi, vừa cười vừa nói:
– Chúng ta đang bàn về căn bản thiền định, mà trong khoảnh khắc câu chuyện đã hướng sang đề phụ, nào là lạc thiền, tà thiền, chánh thiền…v.v…. Không khéo chúng ta lại đi xa đề, mất hết mạch lạc.
Tôi liền bình tĩnh xác nhận:
– Nhưng câu hỏi của em liên quan đến các điều sư huynh vừa giảng.
Vị tu sĩ vui vẻ gật đầu:
– Vậy em cứ nói tiếp đi.
– Hồi nãy sư huynh bảo «để tâm duyên theo những ý nghĩ thiện, như tưởng nhớ đến các điều lành, tưởng nhớ đến ân đức của chư Phật, tưởng nhớ đến vô thường, tưởng nhớ đến những khổ đau của đồng loại, của chúng sinh…v.v…thì ấy cũng là một loại thiền pháp». Em chợt thấy khó hiểu, vì khi tâm trí tưởng nhớ đến những việc như thế, nó làm sao gom lại một đề mục được, mà gọi là thiền ?
Sư huynh tươi cười khen ngợi, phân tách:
– Hay lắm, câu nầy thật đáng hỏi. Này nhé, pháp thiền có hai cách định nghĩa: Ðịnh nghĩa thứ nhất lấy cái tướng (lakkhana) làm trọng tâm. Ðể sư huynh nhắc lại câu định nghĩa của Buddhaghosa (Phật Âm) trong Visuddhimagga(Thanh Tịnh Ðạo): «Àrammam ùpanij- jhànato paccanika-jhàpanato và jhànam». Diễn nghĩa «thiền là phép tập trung thần thức vào một đề mục thanh tịnh, nhờ đó loại trừ dần dần các dính mắc của tâm vào những đối tượng ô-trược (thường gây ra lòng ham muốn và phát sanh phiền não)»… Và định nghĩa thứ hai lấy thiện pháp (kusala dhamma) làm hiệu lực. Chẳng hạng như để tâm duyên theo những tư tưởng lành, cũng có thể ngăn chận dần dần sự vướng mắc của tâm vào những đối tượng ô-nhiễm. Khi chúng ta nói đến hai chữ thiền pháp tức là chúng ta chỉ chung tất cả các yếu tố giữ cho tâm được thanh tịnh, cách biệt những vọng động phiền não.
Trên phương diện ngữ căn, thiền là một danh từ Hán- Việt. Phải gọi đầy đủ là «thiền–na», gốc phiên âm từ chữ Jhàna (Pàli) hay Dhyàna (Sanskrit), có nghĩa tổng quát là «giữ tâm an trụ nhờ một đề mục thanh tịnh». Như vậy, các hàng Phật tử muốn nghiên cứu dễ dàng thiền học, cần hiểu rõ ba từ ngữ thiền pháp, tu thiền, và thiền định. Thiền pháp là tất cả những phương tiện giúp cho thân tâm không câu hữu với những đối tượng ô-nhiễm, thấp hèn. Tu thiền là sự thực hành theo một số thể thức, hay qui tắc rõ rệt, để giúp cho tâm không bị những đối tượng ô-nhiễm (nội tâm và ngoại cảnh) lôi cuốn. Còn thiền định là nền tảng của sự tu thiền. Thiền định cũng là sự thuần thục (tùy trình độ) của hành giả, với cái thể thức (đề mục) được áp dụng.
Vả lại, trong sự tu thiền và thiền định vốn có nhiều bậc: Người mới bắt đầu tinh tấn tu thiền, thì có thiền định bậc thấp. Người hành thiền công phu lâu năm, thì có thiền định bậc cao. Nhưng nếu phân tích một cách khác, thì tu thiền có hai loại là thiền chỉ và thiền quán. Thiền chỉ nhắm vào sự tập trung thần lực ở một điểm, như đề mục chẳng hạng. Thiền quán là dùng tâm thanh tịnh, hay đem khả năng an trụ ấy quán sát mọi pháp hữu vi. Nói tóm lại, mục đích cuối cùng của pháp thiền, vẫn là xa lìa hay tiêu diệt phiền não.
Tôi đứng yên nghe sư huynh giảng giải. Càng bàn sâu sư huynh càng dùng những từ ngữ chuyên khoa Phật học, xen thêm vài nhóm từ tiếng Phạn nữa, khiến tôi vừa hứng thú vừa bỡ ngỡ. Hứng thú vì được nghe những điều mới lạ. Bỡ ngỡ vì chữ Phạn tôi mù tịt.
Chợt tôi có ý định tinh nghịch «chọc quê» sư huynh một câu. Tôi nói:
– Hồi nãy sư huynh bảo đừng đi xa đề tài, sao vừa rồi em chỉ hỏi một câu «chút xíu», mà sư huynh giảng rộng quá vậy ?
Vị tu sĩ nheo mắt cười dễ dãi, Sư đưa ngón tay trỏ co lại, khoát cử chỉ như muốn «ký» lên đầu tôi mấy cái, rồi sư huynh rút tay về, xoa xoa lên mấy đốt ngón tay, làm như đầu tôi cứng lắm vậy.
Tôi thoáng hối hận, vội chắp tay xá xá sư huynh, miệng cầu hòa:
– Sư huynh lòng từ bi «như hải», nỡ nào ký đầu đau hàng đệ tử, phải không sư huynh ?
Vị tu sĩ cười theo, chọc lại:
– Khi lòng từ-bi ít ít, thì chỉ ký đầu đôi ba cái lấy lệ, nhưng nếu lòng từ-bi «như hải», thì phảy «ký» đến ba mươi cái, gọi là …càng thương càng cho roi cho vọt.
Tôi quay lại câu chuyện thiền:
– Thưa sư huynh, theo sư huynh, giữa ba cách tu thiền trong Phật giáo Nam tông, môn phái của sư huynh, là thiền định, thiền minh sát, và thiền tức quán, thì sư huynh thấy cách nào thực tiễn nhất ?
Vị tu sĩ bỗng yên lặng, không trả lời. Sư đưa mắt lơ đãng nhìn ra phía cổng chùa, nhìn những cành hoa giấy đỏ rực, đang lửng lơ trên hai bên nóc…Rồi sư huynh quay lại hỏi tôi:
– Tại sao Tâm Ðạo nêu lên câu đó ?!
– Vì Tâm Ðạo nghe các giảng sư thuyết pháp, và đọc cả trong sách nữa, rằng tu thiền minh sát sẽ đưa đến giác ngộ giải thoát, còn tu thiền định chỉ đạt đến các bậc thiền mà thôi. Riêng thiền tức quán thì không thấy gọi rõ rệt là thiền định hay thiền minh sát gì cả, nên Tâm Ðạo muốn hỏi sư huynh cho biết.
Sư huynh sốt sắng phân tích:
– Theo thiển kiến của sư huynh, thì thiền định là căn bản của pháp thiền, là «chất liệu» không thể thiếu được để làm phát sinh trí tuệ giác ngộ. Thiền minh sát là diệu dụng của pháp thiền, là sự «tỏa sáng» của trí tuệ giác ngộ. Còn thiền tức quán là phép tu «trung trực», nằm giữa, bao gồm, và phối hợp cả hai pháp hành là thiền định và thiền minh sát.
– Nghĩa là ?
– Nghĩa là thiền định dùng đề mục để phát triển và thuần thục an trụ. Thiền minh sát dùng an trụ để phát triển ánh sáng quán sát (hay kiến tánh). Khi hành giả đã an trụ mà không tiến vào minh sát, cứ ôm cứng đề mục, sẽ bị luân lưu trong các bậc thiền, không thể giải thoát được. Ngược lại, người chưa đạt được an trụ, mà đốt giai đoạn hành thẳng vào minh sát, thì định lực không có, kiến tánh yếu ớt, mờ ảo. Sức mạnh của thường tuệ không đủ sức chọc thủng bức màng vô minh. Thường tuệ là trí tuệ của người thông minh bình thường (chưa thuần thục an trụ), tâm thần hằng bị phân tán theo trăm, ngàn chiều vọng động, như sư huynh đã nói ở đoạn trước. Thường tuệ nầy, khi tu thiền minh sát, rọi vào những tâm thức và cảm nghĩ duyên theo bốn oai nghi (như đi, đứng, nằm, ngồi), hay khi rọi vào bốn «xứ», như thân, thọ, tâm, pháp (tứ niệm xứ), nhiều lắm chỉ làm cho hành giả ý thức lờ mờ các pháp hữu vi trong tâm tánh một cách vô trật tự, như một bóng đèn quá yếu, chẳng soi sáng được gì. Còn “ngồi yên quan sát” thì còn «thấy» chập chờn bản tâm của mình chút ít, nhưng quay qua làm việc khác thì «ý thức» biến mất, không có định lực duy trì thiền lộc.
Dừng một chút rồi sư huynh giảng tiếp:
– Riêng thiền tức quán, niệm hơi thở, khi tu ở bậc thấp thì được an trụ, rồi khi hành giả tiến lên bậc cao, thì tự nó biến thành minh sát…
Tôi chợt hiểu, liền ngắt lời sư huynh:
– Như vậy đề mục của thiền tức quán là hơi thở ?
– Ðúng vậy.
Rồi sư huynh đặt câu hỏi giùm tôi:
– Em có biết trong pháp thiền có bao nhiêu đề mục, và phân loại như thế nào hay không ?
Tôi lắc đầu…
Sư huynh tự động giải đáp:
– Có hai loại đề mục là danh đề mục và sắc đề mục. Danh đề mục gồm những thế pháp trừu tượng, chỉ có ý niệm chứ không có vật chất, không thể sờ, không thể ngửi, không thể thấy, và không thể nghe được. Chẳng hạng như tâm từ bi, lẽ vô thường, lòng hỷ xả, đức tin, phước lành, sự nhẫn nại, giác tánh….v.v… Còn sắc đề mục gồm những hợp chất có hình thức, khả dĩ tiếp nhận được bằng năm giác quan, nhất là thị giác và xúc giác. chẳng hạng như đất, nước, lửa, gió (còn gọi là tứ đại), – hay như tử thi (xác chết), như hơi thở (sự chuyển động của không khí, sức nóng, và hợp chất), như thể trược (những chất hữu cơ nằm trong thân sắc sinh động vật, nhất là con người : máu, mủ, mồ hôi, nước miếng, đàm, phân, nước tiểu.v.v…).
Tôi sực nhớ lại xen vào:
– Thưa sư huynh, em đọc trong sách thấy mấy vị thiền sư viết có đến bốn mươi đề mục thiền định, phải không sư huynh ?
– Ðúng vậy. Nếu em muốn có sẵn trong đầu, thì nên học thuộc lòng bốn chục cái tên đề mục thiền định ấy. Ở đây sư huynh chỉ kể ra tên những đề mục phổ thông mà thôi.
Chợt tôi sinh lòng tò mò hỏi:
– Thưa sư huynh, mỗi đêm sư huynh có ngồi thiền không ?
– Có.
– Vậy sư huynh chọn đề mục nào trong số những đề mục ấy ?
– Hơi thở.
– Sư huynh có thể giải thích cho Tâm Ðạo nghe tai sao sư huynh chọn đề mục ấy được không ?
– Ðược chứ. Nhưng có lẽ phải để đến kỳ sau, vì hôm nay chúng ta nói chuyện đạo như thế khá nhiều rồi.
Bỗng có tiếng và hình dáng mẹ tôi, từ trong cửa chánh điện bước ra:
– Tâm Ðạo. Con đã vào lễ Phật chưa ?
– Dạ, rồi má.
Bà chợt thấy sư huynh đứng cạnh tôi, liền chắp hai tay xá xá, nói:
– Bạch thầy, thầy nói chuyện với Tâm Ðạo có mệt không thầy ? Thằng nhỏ nầy thích thảo luận về Phật giáo lắm. Gặp thầy nào chịu giảng đạo là nó đeo theo thầy ấy liền.
Tôi nhủ thầm trong bụng «bà sợ mình nhiễm đời sống Tây phương, không ngớt xúi đi chùa. Bây giờ mình chịu nghiên cứu Phật học, bà khoái là cái chắc… ».
Sư huynh chắp hai tay, hướng về phía mẹ tôi trả lời:
– Tâm Ðạo dễ thương và hiểu biết khá lắm.
– Nhờ thầy đó ! Mẹ tôi nói.
Tôi thấy mọi đồ dùng, như áo lạnh, xách da….đều nằm trong tay bà, liền quay qua hỏi:
– Má chuẩn bị về chưa ?
– Má phải về sớm, vì tối nay ba con có khách.
Vừa nói bà vừa đi thụt lùi, hướng mặt vào chánh điện xá xá thêm vài cái, rồi cáo từ sư huynh. Tôi cũng làm như bà, để giã từ vị tu sĩ.
Sư huynh tươi cười:
– Ðạo hữu về. Và hẹn Tâm Ðạo kỳ sau.
Thế là mẹ con tôi ra về…
Nắng chiều đã ngã màu vàng nhạc. Khung cảnh sân chùa ngập đầy bóng mát, và tôi nghe đâu đó thoang thoảng mùi trầm hương, có lẽ từ trong chánh điện bay ra…
*****